Lòng Đầy Dẫy Mật Đắng
Khá coi chừng kẻo có kẻ trật phần ân điển của Đức Chúa Trời, kẻo rễ đắng châm ra, có thể ngăn trở và làm ô uế phần nhiều trong anh em chăng. (Hê-bơ-rơ 12:15)
Hãy thận trọng để trong anh chị em đừng có ai hụt mất ân sủng của Đức Chúa Trời; đừng để rễ cay đắng mọc ra gây rối và do đó làm ô uế nhiều người. (BDM) Hãy coi chừng, kẻo có ai trật phần ân sủng của Ðức Chúa Trời, kẻo rễ đắng đâm ra và gây rối, rồi lan ra làm ô nhiễm nhiều người. (BD2011) Hãy đề cao cảnh giác để khỏi trật phần ơn phước của Đức Chúa Trời. Đừng để điều cay đắng đâm rễ trong anh chị em, gây trở ngại và làm hoen ố nhiều người. (KTHĐ)
Tựa bài giảng dựa theo câu KT trong CV 8:23 khi sứ đồ Phi-e-rơ nói với một tín đồ mới tên Si-môn: Vì ta thấy ngươi đang ở trong mật đắng và trong xiềng tội ác. Vì tôi thấy anh đầy dẫy mật đắng và đang làm nô lệ cho tội lỗi - BDM. Câu KT này cho thấy rất rõ một điều vô cùng đáng sợ là một người, ngay cả người tự nhận mình là tín đồ Chúa, có tấm lòng cay đắng (đầy dẫy mật đắng) cũng là người làm nô lệ cho tội lỗi.
Trong bài giảng trước về đề tài này, tôi chia sẻ về rễ cay đắng mọc trong lòng vì bị người khác làm tổn thương, thiệt hại, mất mát (tiền của và danh dự) nhưng không thể bỏ qua, không thể tha thứ. Bài giảng hôm nay về tấm lòng đầy dẫy mật đắng, rễ cay đắng mọc sâu và chằn chịt vì không được điều mình muốn hay mất đi điều mình quí giá.
Thường sự cay đắng này với ĐCT: Tại sao Chúa lại không trả lời những điều con cầu xin? Tại sao Chúa lại để nghịch cảnh, khó khăn, mất mát, cơn bệnh, tai nạn này xảy ra cho con dù con đã hết lòng, hết sức làm theo ý Chúa? Tại sao con phục vụ Chúa nhưng Chúa không cứu gia đình, con, con cái con, không ban phước cho hôn nhân.
Trong chuyến về VN tháng 5 vừa qua đi thăm các điểm nhóm thờ phượng của đồng bào dân tộc, có 2 nơi chúng tôi đến gia đình người hầu việc Chúa có con đang bệnh tâm thần hay có em gái đang bị ung thư phải vào SG để chửa trị. Hầu hết các điểm đến, người hầu việc Chúa và tín đồ sống trong cảnh nghèo túng, khó khăn về kinh tế. Cám ơn Chúa dù không được sung túc về kinh tế, dù có thân nhân đau bệnh thì các anh chị em trong Chúa không hề oán trách hay để rễ cay đắng mọc trong lòng. Nhưng không phải ai cũng luôn có lòng tin tưởng, trông cậy vào Chúa khi không được điều mình muốn hay mất đi điều mình rất quí.
CV 8:1-25 cho thấy sự tương phản giữa hai tấm lòng của người thật sự tin và theo Chúa và người chỉ tin Chúa vì lợi ích cá nhân; giữa tấm lòng trung tín đầy tình yêu thương dù trong cơn hoạn nạn, bắt bớ và tấm lòng đầy dẫy mật đắng, vẫn còn trong xiềng xích tội lỗi. Ba phần trong bài giảng: 1) Những tấm lòng trung tín đầy tình yêu thương; 2) Tấm lòng đầy mật đắng; 3) Đừng để rễ đắng mọc ra trong lòng.
NHỮNG TẤM LÒNG TRUNG TÍN ĐẦY TÌNH YÊU THƯƠNG
Đoạn 8 bắt đầu với sự bắt bớ rất dữ dội với HT Chúa tại thành Giê-ru-sa-lem sau khi Ê-tiên bị ném đá đến chết: Sau-lơ tán thành việc giết Sê-tiên. Trong lúc ấy, hội thánh tại Giê-ru-sa-lem bắt đầu bị bắt bớ dữ dội. Ngoại trừ các sứ đồ, tất cả các tín hữu đều phải chạy tan lạc trong khắp miền Giu-đê và Sa-ma-ri. 2 Nhưng có những người tin kính, an táng Sê-tiên và khóc thương ông rất nhiều. 3 Nhưng Sau-lơ phá hoại hội thánh, đi lùng từ nhà này qua nhà khác, bắt các tín hữu cả nam lẫn nữ và tống giam vào ngục. (CV 8:1-3 – BDM)
Vì sự bắt bớ lớn này nên các tín đồ HT thành Giê-ru-sa-lem phải di tản đến nhiều nơi khác, đến các thành phố, các xứ xa. Cho dù hoàn cảnh khó khăn: bị bắt hại, phải bỏ cả nhà cửa, nơi đang ở để đến tạm trú hay định cư một nơi khác, nhưng KT cho biết những tín đồ này không hề oán trách Chúa. Họ không trách móc, cay đắng: tại sao con theo Chúa mà lại bị bắt bớ vì đức tin đến nỗi phải bỏ đi nơi khác để sinh sống. Họ hiểu và chấp nhận rằng trò không hơn thầy: nếu ĐCJC đã bị bắt hại, bị làm nhục, thì trò chắc cũng sẽ bị bắt hại, làm nhục, chịu mất mát, khó khăn. Hãy nhớ lời ta đã nói cùng các ngươi: Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ ta, ắt cũng bắt bớ các ngươi (Giăng 15:20).
Không những chấp nhận mà KT cho biết: Vậy những người di tản đi đến đâu cũng truyền giảng Phúc Âm (v4). Dù hoàn cảnh khó khăn thế nào, những tín hữu này vẫn giữ lòng trung tín với Chúa, vẫn thật sự tin vào TL, vào giá trị của TL. Đây cũng thái độ của các tín hữu người dân tộc trước sự bắt bớ của chính quyền VN trong những năm trước đây. Họ bị lấy bò trâu, bị lấy KT, bị đòi lên phường xã để “làm việc” – đúng hơn là tra hỏi, đe dọa, làm cho sợ, làm khó dễ, gặp khó khăn về kinh tế, nhưng vẫn trung tín với Chúa, vẫn tiếp tục rao giảng TL.
Sự bắt bớ đối với HT Chúa cũng như một cơn gió lớn thổi đi những hạt giống đến nhiều nơi xa hơn. CV 11:19 cho biết về nhiều thành phố khác nhau mà các tín đồ tản lạc đến vì sự bắt bớ với HT thành Giê-ru-sa-lem: Những kẻ bị tan lạc bởi sự bắt bớ xảy đến về dịp Ê-tiên, bèn đi đến xứ Phê-ni-xi, đảo Chíp-rơ và thành An-ti-ốt, chỉ giảng đạo cho người Giu-đa thôi. 20 Nhưng trong đám những người ấy có một vài người quê ở Chíp-rơ và Sy-ren đến thành An-ti-ốt, cũng giảng dạy cho người Gờ-réc nữa, truyền Tin Lành của Đức Chúa Jêsus cho họ. (CV 11:19-20)
Những người họ làm chứng về TL có thể vặn hỏi: tại sao anh chị tin Chúa mà Chúa của anh chị lại không bảo vệ, không “phù hộ” cho anh chị đến nỗi phải bị bỏ trốn khỏi xứ vì bị bắt bớ? Lý do người ta thường hỏi như vậy bởi vì suy nghĩ phổ thông nhất về tôn giáo là nếu ăn hiền ở lành chắc sẽ được phước! Và nếu có hoạn nạn, mất mát gì xảy ra thì tại chính tội của tôi mà Chúa phạt. Cũng như 3 bạn Gióp suy nghĩ. KT không hề dạy như vậy.
ĐCJC dạy các sứ đồ trong đêm cuối đời: Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33). Điều Chúa hứa, điều yên ủi cho người theo Chúa không phải là một đời sống không hoạn nạn nhưng khi trải qua mất mát, hoạn nạn có thể nương cậy vào Đấng đã vượt qua và chiến thắng mọi hoạn nạn.
Phi-líp cũng vậy, xuống trong thành Sa-ma-ri mà giảng về Đấng Christ tại đó. 6 Đoàn dân nghe người giảng và thấy các phép lạ người làm, thì đồng lòng lắng tai nghe người nói; 7 vì có những tà ma kêu lớn tiếng lên mà ra khỏi nhiều kẻ bị ám, cùng kẻ bại và què được chữa lành cũng nhiều. 8 Tại cớ đó, trong thành được vui mừng khôn xiết. (CV 8:5-8)
Câu 5-8 cho biết cũng chính vì sự bắt bớ với HT tại Giê-ru-sa-lem mà Phi-líp, 1 trong 7 chấp sự với Ê-tiên, đi đến một thành phố thuộc xứ Sa-ma-ri. Ứng nghiệm lời Chúa phán cùng các môn đồ: Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất. (1:8) Khi đến thành phố xa lạ đó, Phi-líp truyền giảng TL về sự tha thứ và cứu chuộc tội trong ĐCJC. ĐCT cũng dùng Phi-líp để thực hiện phép lạ, chửa bệnh cho nhiều người. Chú ý câu 8: Tại cớ đó, trong thành được vui mừng khôn xiết. (thành phố tràn ngập niềm vui – BDM).
Các tín đồ tại thành Giê-ru-sa-lem vì bắt bớ phải tản lạc đến nhiều nơi xa. Đi đến đâu họ nói về TL, về sự cứu tội của ĐCJC thay vì trách móc Chúa vì sự bắt bớ. Phi-líp cũng vậy, khi đến một thành phố xa lạ trong xứ Sa-ma-ri, trở nên một nguồn phước hạnh đến nỗi cả thành phố tràn ngập niềm vui. Hoàn cảnh khó khăn, mất mát trong cuộc sống, thử thách đức tin không làm cho lòng họ trở nên cay đắng. Trái lại lòng họ vẫn có sự bình an, đầy đức tin trong Chúa. Đời sống họ, sự làm chứng của họ trở nên nguồn ơn phước lớn cho những người chung quanh. Dù cảnh ngộ cay đắng nhưng tấm lòng của những tín đồ này vẫn ngọt ngào ân điển Chúa. Trong mọi cảnh ngộ của đời sống, dù thuận lợi hay khó khăn, dù đầy đủ hay mất mát, họ luôn là nguồn phước hạnh bất cứ nơi nào họ sống.
Chúng ta hỏi tại sao những tín đồ bị bắt bớ này có thể tiếp tục chia sẻ TL, là nguồn phước hạnh dù trong hoàn cảnh khó khăn? Vì họ sống như lời dạy của PL: Vì hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng tôi đem lại cho chúng tôi vinh quang vô hạn đời đời không gì sánh được. 18 Vì chúng tôi không chú tâm vào những sự vật hữu hình, nhưng vào những sự vật vô hình vì sự vật hữu hình chỉ là tạm thời, còn sự vật vô hình mới là vĩnh cửu. (2 Cô-rinh-tô 4:17-18 – BDM)
Thay vì để lòng mọc rễ cay đắng, đầy dẫy mật đắng, họ châm rễ, lập nền trong tình yêu thương của Đấng Christ, như lời cầu nguyện của PL cho HT Ê-phê-sô: tôi cầu xin Ngài tùy sự giàu có vinh hiển Ngài khiến anh em được quyền phép bởi Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng; 17 đến nỗi Đấng Christ nhân đức tin mà ngự trong lòng anh em; 18 để anh em khi đã đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, được hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, 19 và được biết sự yêu thương của Đấng Christ, là sự trổi hơn mọi sự thông biết, hầu cho anh em được đầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời. (3:16-19)
TẤM LÒNG ĐẦY DẪY MẬT ĐẮNG
Tương phản với những tấm lòng đầy tình yêu thương, trung tín với Chúa dù trong nghịch cảnh là tấm lòng đầy dẫy mật đắng của Si-môn.
Câu 9-11: Một người tên Si-môn trước kia hành nghề phù thủy trong thành phố, đã làm cho cả dân Sa-ma-ri đều kinh ngạc. Ông tự xưng là bậc đại tài. 10 Mọi người trong thành từ nhỏ đến lớn đều trọng vọng và ca tụng: "Ông này có quyền năng của Thần gọi là Đại Năng." 11 Họ nghe theo ông vì lâu nay ông đã trổ tài ma thuật làm cho họ phải kinh ngạc. Mấy điều về Si-môn.
Thứ nhất ông này là phù thủy. Những việc hắn làm khiến cho cả dân chúng trong thành phố kinh ngạc. Mọi người trong thành phố đều biết về hắn, mê hoặc về những việc hắn có thể thực hiện như một phù thủy. Câu 10 giải thích rõ: Mọi người trong thành từ nhỏ đến lớn đều trọng vọng và ca tụng: "Ông này có quyền năng của Thần gọi là Đại Năng”
Dân chúng kinh ngạc, trọng vọng, ca tụng tên phù thủy này về ma thuật hắn làm. Nhưng không như Phi-líp nhờ quyền phép Thánh Linh chửa lành cho người bại, người què, làm cho người bị tà ma, quỉ ám lành lại, không như Phi-líp làm cho dân chúng thành phố tràn ngập niềm vui. Chi tiết về người bị tà ma ra khỏi những người bị quỉ ám để tương phản rõ rệt với ma thuật của tên phù thủy.
KT cấm kỵ các việc phù thủy, đồng bóng, bói toán, xem tử vi, coi tướng số, coi chỉ tay bởi vì đây là những việc của ma quỉ. Khi ngươi đã vào xứ mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho; chớ tập bắt chước những sự gớm ghiếc của các dân tộc ở tại đó. 10 Ở giữa ngươi chớ nên có ai đem con trai hay con gái mình ngang qua lửa, chớ nên có thầy bói, hoặc kẻ hay xem sao mà bói, thầy phù thủy, thầy pháp, 11 kẻ hay dùng ếm chú, người đi hỏi đồng cốt, kẻ thuật số, hay là kẻ đi cầu vong (thầy bói, thầy pháp, giải điềm, áp dụng ma thuật, 11 không được bùa ngãi, đồng bóng, thông linh, hay chiêu hồn người chết – BDM); 12 vì Đức Giê-hô-va lấy làm gớm ghiếc kẻ làm các việc ấy, và vì các sự gớm ghiếc ấy, nên Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi đuổi các dân tộc đó khỏi trước mặt ngươi (PTLLK 18:9-12). Vậy Si-môn là người làm việc ma quỉ. Việc làm của ông là việc làm của ma quỉ, gớm ghiếc trước ĐCT.
Chúng ta phải xem xét cách cẩn thận khi thấy dấu kỳ, phép lạ. KT dạy ma quỉ cũng có thể làm phép lạ, dấu kỳ. Chính ĐCJC khi dạy về những ngày cuối trước khi Chúa trở lại cũng nói về điều này: Vì các cơ đốc giả và tiên tri giả sẽ xuất hiện làm nhiều dấu lạ, phép mầu lớn để lừa dối và nếu có thể được, họ lừa gạt ngay cả những người được chọn. (Ma-thi-ơ 24:24). Hay như lời PL dạy: Kẻ đó sẽ lấy quyền của quỉ Sa-tan mà hiện đến, làm đủ mọi thứ phép lạ, dấu dị và việc kỳ dối giả; 10 dùng mọi cách phỉnh dổ không công bình mà dổ những kẻ hư mất, vì chúng nó đã không nhận lãnh sự yêu thương của lẽ thật để được cứu rỗi. (2 Thê-sa-lô-ni-ca 2:9-10)
Thứ hai, hắn tự xưng là bậc đại tài (tự cho mình là người vĩ đại). Đây là một người hay khoe khoan về mình, về việc mình làm, tự cho mình là một người tài giỏi, bậc đại tài. Không biết mình đang là công cụ trong tay ma quỉ, đang làm công việc ma quỉ. Tương phản là Phi-líp, thực hiện phép lạ không phải để được dân chúng trọng vọng hay ca tụng. Phi-líp là người đầy tớ khiêm nhường, một trong 7 người được HT Giê-ru-sa-lem chọn để hầu bàn.
Thường thì khi làm việc Chúa người ta muốn được trọng vọng, ca tụng, muốn làm những điều to lớn. Bao nhiêu người muốn hầu bàn, lo thức ăn cho người lớn tuổi? Một công việc quá tầm thường, thậm chí thấp hèn. Nhưng trong HT Chúa, người hầu bàn cũng là người đầy dẫy TL, có ân tứ giảng TL, làm phép lạ, chửa bệnh, đuổi ma quỉ. Đây là những người đem đến niềm vui cho những người quanh họ.
Chỉ khi tấm lòng chúng ta nhận được sự ngọt ngào của tình yêu thương, của ân điển Chúa, chúng ta mới có thể thật sự chia sẻ TL, đem lại niềm vui, phước hạnh cho người quanh mình. Nhưng nếu lòng chỉ mong muốn danh vọng, muốn được tiếng khen ngợi, lòng tự cao tự phụ cho mình là người tài giỏi như người phù thủy Si-môn thì phải cẩn thận vì có thể là kẻ làm công cho ma quỉ!
Khi dân chúng tin nhận TL từ Phi-líp, nhận lễ báp-tem, thì suy nghĩ và nhận xét của họ về người phù thủy Si-môn thay đổi. Không còn trọng vọng, ca tụng, không còn kinh ngạc vì phân biệt được phép lạ của ĐCT và ma thuật của Sa-tan. Câu 13 cho biết Si-môn cũng tin và nhận phép báp-tem. Rồi hắn theo sát bên Phi-líp và ngạc nhiên về những phép lạ và quyền năng Chúa thực hiện qua Phi-líp.
Qv cần nhớ rằng không phải niềm tin nào cũng đưa đến sự cứu rỗi. Một người có thể tin ĐCJC như một thầy dạy đạo đức đáng kính phục. Hay tin ĐCJC như tin vào một vị thần đèn thần, khi ước muốn điều gì thì cứ gọi thần rồi cho biết nhu cầu. Cũng vậy một người có thể nhận lễ báp-tem nhưng có thể không thật sự tin Chúa, không được cứu. Như người phù thủy Si-môn này! Câu hỏi là nền tảng của đức tin là gì, vào ai? Si-môn tin không phải vì TL nhưng vì phép lạ Phi-líp làm. Si-môn kinh ngạc vì thấy những phép lạ Phi-líp làm chứ không cảm động, kinh ngạc về TL.
Miệng Si-môn xưng ông tin Chúa, thân nhận lễ báp-tem, nhưng tấm lòng của Si-môn không hề dâng trọn cho ĐCJC, không hề xưng nhận tội lỗi và xin Chúa tha thứ. Đây là những người mà ĐCJC cảnh cáo họ làm phép lạ trong danh Chúa, họ nói về Chúa nhưng họ không hề thuộc về Chúa. Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. 22 Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? 23 Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta! (Ma-thi-ơ 7:21-23)
Khi Phi-e-rơ và Giăng đến thành phố, hai sứ đồ cầu nguyện cho các tín đồ đã tin Chúa để họ nhận được TL. KT viết: Si-môn thấy bởi các sứ đồ đặt tay lên thì có ban Đức Thánh Linh xuống, bèn lấy bạc dâng cho, mà nói rằng: 19 Cũng hãy cho tôi quyền phép ấy, để tôi đặt tay trên ai thì nấy được nhận lấy Đức Thánh Linh. (8:18-19) Chính vì đoạn KT này mà Anh ngữ có từ simony, có nghĩa là mua bán chức vị, quyền thế trong hội thánh. Đây là nơi duy nhất trong KT viết về một người “tin Chúa, nhận phép báp-tem” mà nghĩ mình có thể mua được sự ban cho ĐTL.
Sứ đồ Phi-e-rơ thấy suốt qua tấm lòng của Si-môn: Nhưng Phi-e-rơ trả lời rằng: Tiền bạc ngươi hãy hư mất với ngươi, vì ngươi tưởng lấy tiền bạc mua được sự ban cho của Đức Chúa Trời! 21 Ngươi chẳng có phần hoặc số trong việc nầy (không phải chức vụ như BDM); vì lòng ngươi chẳng ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời. 22 Vậy, hãy ăn năn điều ác mình, và cầu nguyện Chúa, hầu cho ý tưởng của lòng ngươi đó họa may được tha cho. 23 Vì ta thấy ngươi đang ở trong mật đắng và trong xiềng tội ác. (20-23). Lòng Si-môn đầy dẫy mật đắng và trong xiềng tội ác, đang làm nô lệ cho tội lỗi. Người có lòng đầy dẫy sự cay đắng, để rễ cay đắng mọc ra cũng là người làm nô lệ cho tội loi. Ba câu chuyện trong KTCU chứng minh rõ sự nguy hiểm này: 1) Ca-in & A-bên; 2) Các anh của Giô-sép; 3) Vợ Gióp.
Ca-in căm giận, cay đắng em mình vì ĐCT nhậm lấy của lễ dâng của em mình là A-bên mà không nhận của lễ dâng mình - Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt/ sầm mặt xuống (BDM). Lòng đầy dẫy mật đắng đó đưa đến tội ác giết người em máu mủ của mình. Luật pháp xử Ca-in về tội giết em mình, nhưng trước khi tội ác xảy ra ĐCT đã nhìn thấy mầm móng của cơn giận sẽ đưa đến hậu quả giết người. Chúa cho Ca-in cơ hội để chế ngự lòng căm giận, thù hận, cay đắng dẫn đến việc giết người: "Tại sao con giận? Tại sao con sầm mặt xuống? 7 Nếu con làm phải, lẽ nào không được chấp nhận? Còn nếu con làm không phải thì tội ác đang rình rập trước cửa, thèm con lắm, nhưng con phải quản trị nó." (STK 4:6-8)
Các anh của Giô-sép vì ghen tức với em được cha thương yêu hơn mà để lòng họ đầy dẫy mật đắng, để rễ cay đắng mọc nhánh ngày càng sau vào lòng. Đến một ngày mật đắng đó trở nên liều thuốc độc khiến họ nhẫn tâm bán em mình làm nô lệ sang xứ Ai-cập.
ĐCJC hiểu rõ mầm móng của tội ác xuất phát từ trong lòng, rằng lòng căm giận, cay đắng sẽ đưa đến tội ác nên trong bài giảng trên núi Chúa dạy: Các ngươi có nghe lời phán cho người xưa rằng: Ngươi chớ giết ai; và rằng: Hễ ai giết người thì đáng bị tòa án xử đoán. 22 Song ta phán cho các ngươi: Hễ ai giận anh em mình thì đáng bị tòa án xử đoán; ai mắng anh em mình rằng: Ra-ca, thì đáng bị tòa công luận xử đoán; ai mắng anh em mình là đồ điên, thì đáng bị lửa địa ngục hành phạt. (Ma-thi-ơ 5:21-22)
Hay như vợ của Gióp khi thấy gia tài, sự sản, con cái, chồng lại bệnh đau đớn thì khuyên Gióp hãy nguyền rủa ĐCT rồi chết đi còn hơn: "Ông vẫn giữ được sự trọn lành sao? Sao ông không nguyền rủa Đức Chúa Trời rồi chết đi?" 10 Nhưng Gióp đáp: "Bà nói như một người đàn bà ngu muội. Ơn phước Đức Chúa Trời ban, chúng ta nhận; còn tai họa, lẽ nào chúng ta không nhận?" (Gióp 2:9-10 – BDM) Có thể qv không dám nguyền rủa ĐCT rồi chết, nhưng hờn trách, cay đắng với Chúa khi mất mát quá lớn như gia đình Gióp.
ĐỪNG ĐỂ RỄ ĐẮNG MỌC RA
Khi nghe Si-môn đòi dâng tiền để mua ơn ban cho ĐTL, sứ đồ Phi-e-rơ quở trách hắn và dạy: 22 Vậy, hãy ăn năn điều ác mình, và cầu nguyện Chúa, hầu cho ý tưởng của lòng ngươi đó họa may được tha cho. 23 Vì ta thấy ngươi đang ở trong mật đắng và trong xiềng tội ác. Câu trả lời của Si-môn cùng sứ đồ Phi-e-rơ cho thấy rõ ông không thật sự ăn năn: Xin chính mình các ông hãy cầu nguyện Chúa cho tôi, hầu cho tôi chẳng mắc phải điều ông nói đó. Thay vì chính mình ăn năn điều sai quấy, tội lỗi đã phạm, thay vì chính mình cầu xin Chúa tha thứ cho tội, Si-môn nói với Phi-e-rơ và các sứ đồ cầu nguyện cho ông. Cầu nguyện cho để làm gì? Hầu cho lời quở trách của Phi-e-rơ Tiền bạc ngươi hãy hư mất với ngươi sẽ không xảy ra!
Si-môn là hình ảnh của một người vì lợi ích cá nhân mà miệng cầu nguyện tin Chúa, thân nhận lễ báp-tem, nhưng lòng không hề thay đổi. Ông đến với ĐCJC không phải với tấm lòng thành nhận biết mình là người có tội, không cách gì tự cứu được mà chỉ có thể trông cậy hoàn toàn vào sự tha thứ và chuộc tội của ĐCJC. Tấm lòng của ông vẫn còn đầy dẫy mật đắng. Rễ cay đắng vẫn còn nằm sau và chằn chịt trong tim ông. Tấm lòng của Si-môn không hề thay đổi.
