Lời Ta Trong Các Con
Trong bài giảng sáng nay, tôi muốn trở lại đoạn KT ĐCJC dạy các môn đồ trong Giăng 15:4-7: Hãy cứ ở trong Ta như chính Ta ở trong các con. Như nhánh nho, nếu không liền với cây nho, thì tự nó không ra quả được; khi các con không ở trong Ta thì cũng chẳng kết quả gì. 5 Chính Ta là cây nho, còn các con là nhánh; người nào cứ ở trong Ta và Ta trong người ấy thì chắc sẽ sinh nhiều quả, vì ngoài Ta các con không làm gì được. 6 Nếu ai không ở trong Ta thì bị ném ra ngoài, như nhánh nho lìa khỏi cây nho sẽ khô héo. Người ta sẽ gom lại ném vào lửa thì nó cháy rụi. 7 Nếu các con cứ ở trong Ta và các lời của Ta vẫn ở trong các con, hãy cầu xin điều gì mình ước muốn thì sẽ được. (BDM)
Qv chú ý chỉ trong 3 câu KT này, ĐCJC lập lại 3 lần với 3 cách khác nhau để dạy cùng một điều: Các con cần phải ở trong Ta như nhánh nho phải dính vào thân, gốc nho để có thể sinh trái. Nếu không, đời sống các con sẽ không bao giờ được đổi mới, để sinh nhiều trái, sẽ vô dụng phải bị bỏ đi.
Không ai có thể không hiểu hay hiểu lầm ý nghĩa của những lời ĐCJC dạy các môn đồ. Qv nhớ một đoạn KT trong bài giảng trên núi khi ĐCJC dạy cách nào để nhận biết một người: Các ngươi nhờ những trái nó [tiên tri giả] mà nhận biết được. Nào có ai hái trái nho nơi bụi gai, hay là trái vả nơi bụi tật lê? Vậy, hễ cây nào tốt thì sanh trái tốt; nhưng cây nào xấu thì sanh trái xấu. Cây tốt chẳng sanh được trái xấu, mà cây xấu cũng chẳng sanh được trái tốt. Hễ cây nào chẳng sanh trái tốt, thì phải đốn mà chụm đi. Ấy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được. (Ma-thi-ơ 7:16-18). Chúa dạy làm thế nào để biết một người? Nhờ những trái mà nhận biết được. Làm thế nào để biết người đó thuộc về loại cây nào? Nhờ những trái mà nhận biết được cây.
Vậy nếu ĐTL là chủ mới của đời sống tâm linh, của con tim, nếu ĐTL là ấn chứng thật sự của con tim, thì trái phải là trái gì? Trái TL. Đúng vậy. Trái TL: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. Khi thấy trái TL qv có biết họ dính vào thân nào không? Thân Đấng Christ, thân nho, gốc nho Đấng Christ.
Trái TL là bằng chứng cụ thể và rõ nhất của sự ở trong Chúa. Tôi muốn nhấn mạnh điều này và sẽ lập lại để con cái Chúa trong HT nhớ: Trái Thánh Linh là bằng chứng của một người thật sự mang ấn chứng Thánh Linh, thật sự ở trong Chúa, chứ không phải việc làm. Một tín đồ có thể làm được rất nhiều việc trong HT, thành công trong các mục vụ nhưng nếu không có trái TL: lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ trong đời sống thì người đó không thật sự ở trong Chúa, nhánh của người đó không tháp vào thân, gốc nho Đấng Christ. Trái TL quan trọng hơn kết quả công việc.
Trong bài giảng này và bài giảng tới tôi muốn chú ý đến câu 7: Ví bằng các ngươi cứ ở trong ta, và những lời ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó. (Nếu các con cứ ở trong Ta và các lời của Ta vẫn ở trong các con, hãy cầu xin điều gì mình ước muốn thì sẽ được. (BDM)
Hầu hết mọi người khi đọc câu KT này đều tập trung vào phần hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó. Chúng ta sẽ trở lại phần này sau. Chú ý BDM bắt đầu với từ nếu, (cùng một nghĩa như ví bằng) tức là một điều kiện. Vậy câu KT này gồm 2 phần: điều kiện và kết quả. Điều kiện là gì? Nếu các con cứ ở trong Ta và các lời của Ta vẫn ở trong các con. Kết quả là gì? hãy cầu xin điều gì mình ước muốn thì sẽ được. Câu KT này có thể xem như là một lời hứa của ĐCJC, một lời hứa quan trọng.
MS Rick Warren nói trong KT có trên 3000 lời hứa. Một nơi khác tôi tìm thấy thì cho biết 3573 lời hứa. PL viết về lời hứa của ĐCT trong KT như sau: Vì bất luận bao nhiêu lời hứa của Đức Chúa Trời đều thành tựu trong Ngài và cũng bởi Ngài mà chúng ta nói"a-men" tôn vinh Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 1:20) Ngài đây là ĐCJC. [Giải thích]
Dĩ nhiên một người thật sự ở trong Chúa, có ĐTL trong đời sống, có lời Chúa thì không thể nào hỏi xin Chúa những điều không hợp với thân nho. Hơn nữa một ý quan trọng trong Giăng 15 là ở trong Chúa để sinh lắm trái, trái TL và kết quả cho Chúa. Một người có trái TL sẽ không cầu xin Chúa những điều trái với ý TL. Như một người đến nhà thờ, quì gối cầu nguyện: xin Chúa cho con được thành triệu phú để con khỏi phải đi làm, để về hưu sớm đi chơi vòng thế giới. Trong khi KT dạy theo lời PL, người nào không làm việc thì không nên ăn Vì khi còn ở cùng anh chị em, chúng tôi đã truyền điều này: "Nếu ai không muốn làm việc thì cũng đừng ăn. (2 Thê-sa-lô-ni-ca 3:10 – BDM)
Trước khi giải thích về lời Chúa trong đời sống tôi muốn giải thích về ĐCJC, là thân nho mà chúng ta những người tin Ngài là các nhánh của một thân.
JÊSUS – TRUNG TÂM CỦA NIỀM TIN CƠ ĐỐC
Nếu các con cứ ở trong Ta . Ta đây là ĐCJC, là trung tâm của niềm tin Cơ Đốc (center of Christian faith). Trong tất cả các tôn giáo trên thế giới ngày nay, Cơ Đốc giáo (Christianity) có một đặc điểm duy nhất mà không tôn giáo này có. Niềm tin Cơ Đốc gắn liền vô cùng mật thiết vào Đức Chúa Jêsus Christ, một nhân vật có thật đã sinh ra, sống, chịu chết trên thập giá hơn 2000 năm trước đây. Căn bản quan trọng nhất của niềm tin Cơ Đốc là quan hệ cá nhân của người tin với Chúa Jêsus Christ. Tôi muốn lập lại và nhấn mạnh quan hệ cá nhân. Vâng người tin và theo Chúa có một quan hệ cá nhân với Đấng họ tôn thờ, tin tưởng.
Chính vì vậy đạo Chúa và niềm tin vào Đức Chúa Trời hoàn toàn không thể tách rời với Jêsus Christ. Biết Jêsus, biết ĐCT. Sứ đồ PL, khi viết cho Ti-mô-thê, người con tinh thần trong lá thư cuối cùng vào những ngày tháng cuối đời từ tù ngục, chờ ngày xử tử, có lời sau: Ấy là vì Tin Lành đó mà ta đã được lập làm người giảng đạo, sứ đồ và giáo sư, ấy lại là cớ mà ta chịu khổ. Nhưng ta chẳng hề hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó. (2 Timôthê 1:12)
PL không nói với Timôthê ông đã biết được chân lý cho đời bởi vì chân lý đó nằm trong Đấng ông tin, Jêsus Christ. Ông không nói ông biết được ý nghĩa của toàn bộ lời dạy của Jêsus vì những lời dạy đó nhằm giúp ông sống, hành động, cư xử, nói năng như Chúa. Không nói ông biết đường dẫn đến thiên đàng, cửa mở đến nước Trời sáng láng, vì đường đến nước Trời là chính Jêsus Christ. Biết Jêsus, biết con đường đến sự sống vĩnh cửu nơi thiên đàng. Biết Jêsus, có đời sống bình an hôm nay và đời sống vĩnh hằng tương lai.
Học giả Jaroslav Pelikan trong sách Jêsus qua các thế kỷ (Jesus through the centuries) viết: Dù bất kỳ cá nhân nào nghĩ và tin gì về Ngài, thì Jesus của Nazareth vẫn luôn là một nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử của văn hóa Tây Phương trong suốt 20 thế kỷ (Regardless of what anyone may personally think or believe about him, Jesus of Nazareth has been the dominant figure in the history of western culture for almost twenty centuries.
Ba lý do quan trọng. Thứ nhất Jesus là trung tâm của lịch sử nhân loại. Hay ít nhất là trung tâm của số đông của nhân loại vì sự ra đời của Ngài chia đôi lịch sử nhân loại ra làm trước công nguyên (trước khi Jesus sinh ra) B.C. (Before Christ) và sau công nguyên (sau khi Jesus sinh ra) AD (Anno Domini – in the year of the Lord). Đến nay, dân số thế giới trên 7 tỉ người với 31% tin Chúa (Christian) hay 2.1 tỉ người. Có nghĩa là 1/3 dân số thế giới xưng rằng họ tin vào Jesus.
Lý do thứ hai, Jesus là trung tâm của Kinh Thánh. KT không phải là một tập hợp rải rác của các sử liệu hay tài liệu tôn giáo. Chính ĐCJC xác nhận: Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. (Giăng 5:39).
Mọi lời dạy của ĐCJC đều về Ngài. Các người có nghe lời dạy nhưng Ta nói cùng các người. Chúa không dạy từ KT mà Ngài tự nhận rằng chính Ngài là ứng nghiệm và làm trọn những điều KTCU đã viết. Chúa nói rằng ai thấy Ta là thấy ĐCT. Nước Ta ban cho sẽ biến thành suối nước trong người, tuôn tràn sự sống vĩnh phúc; Chính Ta là sự sống lại và sự sống, người nào tin Ta, dù có chết, cũng sẽ sống. Ta là bánh hằng sống. Ta là cổng của chiên. Ta là đường đi, lẽ thật, sự sống…
Chính ĐCJC đã xác định rõ cả KT viết về Ngài: Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. (Giăng 5:39); Vì nếu các ngươi tin Môi-se, cũng sẽ tin ta; bởi ấy là về ta mà người đã chép. (5:46);
Qv có nhớ câu chuyện sau khi ĐCJC sống lại từ cõi chết hiện ra cùng 2 môn đồ trên đường Ê-ma-út. Họ vừa đi vừa bàn với nhau về chuyện Giê-xu bịnh đóng đinh đến chết và tin Chúa sống lại từ mấy người phụ nữ. Khi Chúa hỏi họ bàn việc gì thì họ kể lại cho ĐCJC nghe về chuyện tiên tri Giê-xu bị đóng đinh trên thập giá nhưng mấy người phụ nữ lại báo rằng thiên sứ nói với họ rằng Giê-xu đã sống lại rồi. KT viết rồi ĐCJC giải thích cho họ: Đoạn, Ngài bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh. (Lu-ca 24:27); Đoạn, Ngài phán rằng: Ấy đó là điều mà khi ta còn ở với các ngươi, ta bảo các ngươi rằng mọi sự đã chép về ta trong luật pháp Môi-se, các sách tiên tri, cùng các Thi Thiên phải được ứng nghiệm (24:44).
Lý do thứ ba, Jesus là trung tâm của Tin Lành và việc truyền giảng TL. Nếu hỏi Tin Lành là gì, qv trả lời thế nào? TL có thể tóm lại trong Giăng 3:16. [giải thích] Đại Mạng Lệnh là gì? Là lời căn dặn cuối cùng của ĐCJC cho các môn đồ trong suốt mọi thời đại cho đến lúc Ngài trở lại lần thứ hai: Đức Chúa Jêsus đến gần, phán cùng môn đồ như vầy: Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. 19 Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, 20 và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế. (Ma-thi-ơ 28:18-20)
Tại sao người Cơ Đốc lại rời bỏ quê hương, lặn lội đường xa nguy hiểm, vượt biển sâu, núi cao, sông dài, khắc phục những khó khăn, khác biệt của phong tục, tập quán, văn hóa để làm những người truyền giáo? Không phải để bành trướng văn hóa, tổ chức, hay ý thức hệ, triết lý nào nhưng để nói về ĐCJC, Đấng họ tin tưởng, tôn thờ.
Sadhu Sundar Singh là giáo sĩ Ấn Độ vào đầu thế kỷ 20. Ông sinh cuối thế kỷ 19 trong một gia đình quyền thế đạo Sihk Ấn Độ. Khi lớn lên ông rất ghét đạo Chúa vì nghĩ đây là đạo ngoại quốc. Năm 15 tuổi ông chống đối đạo Chúa bằng cách đốt các sách Phúc Âm. Nhưng chỉ ba ngày sau khi được Chúa cứu và dù vẫn còn trong tuổi thiếu niên ông đã quyết định trở nên sadhu, người giảng lời Chúa. Một lần nọ Sundar Singh đến thăm một học viện Hindu và bị khẩu vấn về niềm tin Cơ Đốc. Người đó hỏi ông tìm được điều gì mới trong đạo Chúa mà không có trong đạo Hindu hay Sihk.
Tôi có Đấng Christ (I have Christ), ông trả lời. “Tôi biết ông tin Đấng Christ, nhưng tôi muốn biết giáo điều hay nguyên tắc gì ông tìm được khác với điều ông tin trước đây?” Điều cụ thể nhất tôi đã tìm được là Đấng Christ (The particular thing I have found is Christ), Sundar Singh trả lời.
GIỚI THIỆU VỀ KINH THÁNH
Bài giảng này sẽ giới thiệu về KT. Ba bài giảng tới sẽ về KT và lịch sử; KT và kinh nghiệm, KT và sự khải thị cuối cùng.
Nếu các con cứ ở trong Ta và các lời của Ta vẫn ở trong các con. Lời của Ta tức là lời của ĐCJC phán cùng các môn đồ, nhưng cũng có nghĩa là lời KT bởi vì cả KT viết về Ngài. Trước khi giới thiệu về KT tôi muốn nhấn mạnh một điều quan trọng: ĐTL sẽ dùng lời Chúa trong KT để thay đổi, đổi mới đời sống người tin Chúa, chứ không phải chỉ để thêm kiến thức, để sống đạo đức hơn.
Mục đích của KT nhằm để thay đổi đời sống, chứ không phải chỉ thêm kiến thức về ĐCT. Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, 17 hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành. (2 Ti-mô-thê 3:16)
Từ soi dẫn trong câu là một từ ghép theopneustos. Theo là ĐCT, God. Pneustos có gốc từ động từ pneo nghĩa là thở hay thổi như gió. Vậy từ ghép này có nghĩa là ĐCT hà hơi hay thở vào. Từ pneo (thở) là động từ; danh từ là pneuma là từ thường được dịch là ĐTL trong KT TU. Vậy khi nói cả KT đều là bởi ĐCT soi dẫn thì cũng có nghĩa là cả KT đều được ĐTL hà hơi vào, thổi hơi vào để có sự sống và quyền năng thay đổi đời sống.
Cũng như khi sáng tạo loài người từ bụi đất, ĐTL của ĐCT hà hơi của chính Ngài vào con người để biến A-đam nên loài sinh linh có sự sống, thì cũng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi vào các tác giả KT và lời họ viết ra để đem lại sự sống và khả năng thay đổi, tái tạo đời sống qua KT.
KT gồm 66 sách, chia làm 2 phần gọi là Cựu Ước và Tân Ước. Cựu Ước gồm 39 sách và Tân Ước gồm 27 sách/thư. 66 sách trong KT được viết bởi trên 40 tác giả khác nhau sinh sống trên 3 lục địa khác nhau là Âu Châu, Á Châu và Phi Châu với 3 ngôn ngữ khác nhau Hê-bơ-rơ, A-ra-ma-íc (Aramaic) và Hy Lạp (Greek). Các tác giả thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội và có những nghề nghiệp khác nhau, như Mô-se là người Do thái nhưng lớn lên trong triều đình Ai-cập, là hoàng tử Ai-cập, rồi trong 40 năm làm nghề chăn chiên, sau đó lãnh đạo cả dân sự Do Thái ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập vào vùng đất hứa, Giô-suê là tướng lãnh phụ cận của Mô-se, Đaniên là một thanh niên trẻ tuổi bị bắt làm tù nhân sang xứ Ba-by-lôn rồi trở nên thủ tướng của xứ, Phierơ là một người đánh cá vùng Ga-li-lê, Ma-thi-ơ làm nghề thu thuế, Phao-lô là người Pha-ri-si (thầy tôn giáo) và học giả. Những tác giả này viết các sách KT từ nhiều nơi khác nhau: Mô-sê trong đồng vắng, Phao-lô trong tù ngục, Giăng khi bị đày sang đảo Pát-mô, Đa-vít viết nhiều bài thi thiên trong hang tối, trong sa mạc, nơi cung điện. Và 66 sách KT được viết ra trong thời gian trên 1500 năm.
Dù có rất nhiều sự khác nhau về thành phần tác giả, về thời gian, về nội dung, nhưng điều kỳ diệu là cả 66 sách đều đồng nhất về một chủ đề. Chủ đề đó là về chương trình cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC. Một học giả KT giải thích thế này: KT CU là sự chuẩn bị cho sự chương trình cứu rỗi, 4 sách Phúc Âm là sự thể hiện chương trình cứu rỗi; sách CVCSĐ là sự phát triển về chương trình cứu rỗi; Các thư tín TU là sự giải thích ý nghĩa của về chương trình cứu rỗi; và KH là sự kết thúc của chương trình cứu rỗi. Cả KT có một chủ đề là về chương trình cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC.
Nhiều người hỏi sự khác nhau của thành phần tác giả, viết từ nhiều nơi, qua một thời gian rất dài như vậy có gì quan trọng và đặc biệt? Thử với tôi một trò chơi này. Tìm 10 người trong thành phố làm cùng một nghề, có cùng một trình độ và yêu cầu họ viết về một đề tài quan trọng nào đó như về ý nghĩa cuộc sống. Khi hoàn tất, so sánh nội dung viết của 10 người đó xem có thống nhất hay không.
Nhưng KT được viết ra không phải chỉ bởi 10 người nhưng hơn 40 người. Không phải viết ra trong một thời gian, một thế hệ nhưng trong 1500 năm. Không phải bởi các tác giả cùng một trình độ học vấn, thành phần xã hội, cùng một phong tục, văn hóa, ngôn ngữ nhưng từ nhiều trình độ, thành phần, văn hóa hoàn toàn khác nhau. Vậy đó mà nội dung KT thống nhất với cùng một chủ đề về sự cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC. Chính sự thống nhất kỳ diệu này của KT là một bằng chứng để chúng ta có thể tin rằng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi và cảm động các tác giả trong những thời điểm khác nhau để viết lại lời ĐCT.
Chỉ có KT là một tổng hợp của nhiều sách từ nhiều tác giả khác nhau. KT hồi giáo được viết một mình tiên tri Mô-ha-mết. Sách Mạc-môn (Book of Mormon) được viết một mình bởi tiên tri Joseph Smith. Chúng ta hỏi ai là người làm chứng cho lời họ viết và làm sao để biết được lời của một người viết là lời của ĐCT hay từ ĐCT? Theo một sách bởi thượng tọa Thích Nhất Hạnh, những lời dạy của Phật trong 400 năm đầu tiên chỉ được truyền khẩu. Chỉ mấy trăm năm sau đó (it took another hundred years), một số tu sĩ thuyết phục một tu sĩ nhớ trọn lời dạy nhưng cũng là người kiêu ngạo viết xuống.
Chúng ta tin KT là sự khải thị của ĐCT cho loài người để hiểu và biết về ý chỉ của Ngài cho đời sống, về chương trình cứu rỗi qua ĐCJC. Qua KT chúng ta không chỉ biết được ý Chúa, hiểu được chương trình và hành động của ĐCT trong thế gian nhưng còn kinh nghiệm được tình yêu của Ngài qua sự hiện thân của ĐCJC. Chúng tôi tin Kinh Thánh là lời hằng sống và tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh khải thị ý chỉ và mục đích của Đức Chúa Trời cho loài người; giải thích về chương trình cứu rỗi qua Ðức Chúa Giê-xu Christ cho nhân loại. Chỉ qua sự hiểu biết lời Kinh Thánh, chúng ta mới có thể biết ý chỉ và mục đích của Đức Chúa Trời để sống đẹp lòng Ngài. (mạng web HT)
Tuy nhiên chúng ta không tin một bản in KT hay một bản dịch KT cụ thể nào là lời Chúa. Chúng ta cần phân biệt rõ điều này. Người hồi giáo tin rằng bản in kinh Koran là thiêng liêng vì vậy họ nổi loạn khi ai đó đốt kinh sách; cũng vì vậy mà họ chỉ tin bản bằng tiếng Ả-rập là chính thức. Nhưng người Cơ-đốc tin rằng nội dung KT là lời của ĐCT chứ không phải bản in hay bản dịch.
Dù là bản dịch của học giả Phan Khôi bao nhiêu năm trước đây hay bản diễn ý của MSTS Lê Hoàng Phu, hay bản dịch mới nhất cũng đều mang lời Chúa. Dĩ nhiên có bản dịch trung thực hơn, xác nghĩa và đúng hơn với bản tiếng nguyên thủy và cũng có những bản dịch không nên dùng. Nhưng đây là vấn đề dịch thuật, khác với sự khải thị của ĐCT trong KT. Không một bản dịch nào hoàn toàn cả nhưng chúng ta vẫn gọi bản dịch cũ của cụ Phan Khôi hay bản dịch mới nhất, dù là bản dịch NIV hay English Standard Version là KT, lời ĐCT. Phải chăng bởi vì ĐTL hà hơi vào người dịch như Ngài đã làm khi dùng những tác giả đầu tiên để viết ra KT? Không. Nhưng bởi vì chúng ta biết rằng nội dung của KT vẫn còn đó và xác thực dù đã được dịch thuật.
Tôi có thể dùng ví dụ thế này. Hôm nay khi nghe một bài nhạc, một bài nói chuyện, xem một cuốn phim, chúng ta có nhiều môi trường khác nhau. Cũ xưa nhất là băng casette hay video tape. Mới hơn là CD rồi DVD, rồi đến Blue-ray. Các thanh niên hiếm khi nào dùng CD hay DVD nhưng hầu hết dùng các dạng digital như MP3 hay AIFF (Apple) hay WAV (Microsoft). Xem trên wikipedia có trên dưới gần 30 dạng (format) cho audio files! Cũng vậy có rất nhiều dạng digital để xem phim như MPEG, MPEG4… Khi dùng phone cũng ta nghe cũng có những thể sóng truyền thông khác nhau, nào là GSM, 3G rồi 4G, LTE… Nhưng tất cả các kỷ thuật này chỉ nhằm để giúp chúng ta có thể nghe lời nói, bài nhạc, xem phim ảnh cách tốt hơn. Có thể casette đã xưa nên tiếng nghe rè rè không rõ bằng CD hay MP3 nhưng chúng ta vẫn có thể nhận ra được tiếng nói của người thân quen. Những kỷ thuật khác nhau là những bản in, bản dịch khác nhau. Còn tiếng nói được thu lại mới chính là lời của ĐCT trong KT.
Chúng ta cũng xác nhận rằng 66 sách KT là khải thị trọn vẹn và cuối cùng của ĐCT qua lời viết về chương trình cứu rỗi của Ngài cho loài người. Đây là một niềm tin và giáo điều vô cùng quan trọng. Chúng ta tin rằng KH là sự khải thị bằng lời viết cuối cùng của ĐCT cho loài người. Tin rằng 66 sách KT là trọn vẹn và cuối cùng về chương trình cứu rỗi và ý chỉ của ĐCT cho đời sống tin kính.
Chính vì lý do này mà chúng ta hoàn toàn phủ nhận kinh Koran hay sách Mạc-môn như một khải thị mới mẻ và cuối cùng của ĐCT cho con người. Cũng vì không tin rằng 66 sách KT là trọn vẹn và cuối cùng nên người theo đạo Mạc-môn mới tin vào sách Mạc-môn của tiên tri Joseph Smith là sự khải thị cuối cùng của ĐCT cho hội thánh.
Chúng ta cũng phủ phận những lời tuyên bố của một số giáo sư, mục sư, truyền giảng rằng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi cách đặc biệt và mầu nhiệm cho họ để tuyên bố, giảng dạy những huyền nhiệm mới nhất, đặc biệt nhất không có trong KT.
Chúng ta tin rằng sự khải thị quan trọng và cần thiết của ĐCT về chương trình cứu rỗi đã chấm dứt trong sách KH. Và cả 66 sách KT hoàn tất sự khải thị đó và hoàn toàn đầy đủ dạy dỗ cho người tin Ngài sống đời sống đạo. Chính vì lý do này chúng ta tin rằng phương tiện chính yếu và quan trọng nhất ĐTL dùng để thay đổi đời sống tín đồ không phải là tiếng thầm thì của Ngài với cá nhân, hay phép lạ mầu nhiệm nào đó mà chính là lời KT do chính Ngài hà hơi để viết ra.
D. R. Dungan, in his book, HERMENEUTICS, observed: "I knew a man who had a hobby on marriage. He was of the opinion that no man could marry twice without being a polygamist--in heaven (đa thê trên thiên đàng), if not on the earth. His wife might die, but that had nothing to do with it; if he married again he would be guilty of polygamy. You could not talk with him five minutes without having his hobby brought out and made to canter in your presence.
"But his wife died, and in less than a year from that time his theology changed on that point. Almost anything that men want to do, they can find some text of Scripture that will sound like giving it support. And it is exceedingly difficult to make any man see that he has been preaching that which is not true. He has posed before the people on the subject, and is not willing to incur the humiliation of saying, 'I was wrong, and my opponents were right.'" A man’s wishes sometimes blind him to the truth.
Why do men draw such varied conclusions from the Scriptures? I think the answer is found in their approach to Bible study. Some people go to the Bible to discover what God has revealed on a particular subject, while others go to the book in search of proof for what they want to believe.
Vậy phương cách học KT cũng rất quan trọng để hiểu đúng nội dung, lời dạy cho đời sống.
Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. (Hê-bơ-rơ 4:12)
LÀM SAO TÔI CÓ THỂ TIN KT TU?
Vì chúng ta biết Chúa từ KT TU nên câu hỏi quan trọng là làm sao chúng ta có thể tin được KT TU là trung thực và chính xác. Có người viết: Chúng ta biết rất ít về Jesus. Tài liệu đầy đủ nhất về cuộc đời của Jesus là phúc âm theo Mác, không được viết ra mãi đến khoảng năm 70, tức trên dưới 40 năm sau khi Ngài chết. Đến thời điểm đó, những sự kiện lịch sử đã bị lẫn lộn với những câu chuyện huyền thoại để giải thích về ý nghĩa của những điều Jesus dạy cho các môn đồ. Đây mới thật là ý nghĩa mà Mác chủ yếu ghi lại thay vì một chân dung trung thực về Jesus. (Karen Amstrong – A history of God).
Chúng ta giải thích thế nào về những lời này? Trong sách The heart of the Buddhás teaching của thượng tọa Thích Nhất Hạnh, ông viết: Trong 400 năm trong khi Phật còn sống và sau khi Ngài mất thì những lời dạy của Ngài chỉ được truyền khẩu. Sau đó (sau 400 năm), những tu sĩ dòng Tamrashatiya xứ Sri Lanka bắt đầu nghĩ đến việc viết lại những lời đối thoại, và lời dạy của Phật trên lá. Và phải mất thêm 100 năm nữa để bắt đầu. Đến lúc đó, chúng ta được biết là chỉ có một (there was only one monk) học thuộc lòng toàn bộ lời dạy nhưng ông là người tương đối tự cao. Những thầy tu khác phải cố thuyết phục ông đọc lại những lời dạy để họ có thể viết xuống. Khi chúng ta nghe điều này, chúng ta cảm thấy hơi khó chịu vì biết rằng một tu sĩ tự cao có thể không phải là người tốt nhất để truyền đạt lại những lời dạy của Đức Phật.
Hai sách về tiểu sử của đại đế Alexander Vĩ Đại (Alexander the Great) được viết hơn 400 trăm sau khi ông mất năm 323 B.C. nhưng sử gia ngày nay đều xem hai tiểu sử này đáng tin cậy và trung thực. Sau gần 500 năm huyền thoại mới thật sự được thêu dệt thay vì sau 30-40 năm như trong trường hợp PA Mác và các thư tín.
Khi PL viết thư cho HT Cô-rinh-tô về sự chết và sống lại của ĐCJC, PL có những lời sau: Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh; và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho mười hai sứ đồ. Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ còn sống, nhưng có mấy người đã ngủ rồi. Đoạn, Ngài hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho các sứ đồ. Rồi lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem, như cho một thai sanh non vậy. (1 Cô-rinh-tô 15:3-8)
ĐCJC bị đóng đinh vào năm 30. PL gặp Chúa trên đường đi Đa-mác và tin Chúa vào khoảng năm 32-33. Khoảng hai năm sau đó ông gặp các sứ đồ tại thành Giê-ru-sa-lem, tức khoảng năm 35. Vậy khi PL viết điều mà chính tôi đã nhận lãnh tức là những điều ông học được trong thời gian 3-5 sau khi tin Chúa. Và khi viết về sự sống lại, PL xác nhận rằng Chúa hiện ra cho Sê-pha, Phierơ và 12 sứ đồ cùng hơn 500 tín đồ mà phần nhiều người trong số ấy hiện vẫn còn sống.
Kể về số lượng bản viết thì KT TU có một không hai. Ước tính có khoảng 5,500 bản sao lại (copies) gồm một phần hay toàn phần TU, và 18,000 bản sao lại từ các bản này. Bản sao cũ nhất tìm được là vào khoảng năm 120, với khoảng 50 bản khoảng 150-200. Hai bản chính ngày nay được dùng để dịch ra toàn KT TU là Codex Vaticanus (325) và Codex Sinaiticus (350) tức khoảng 250 năm từ khi bản chính viết ra. Mới nghe thấy thời gian sao xa qua nhưng hãy nhớ toàn sách Odyssey của Homer, mà hôm nay học sinh trung học vẫn học, tìm được 2,200 năm sau khi viết ra.
F.F. Bruce viết: Và nếu TU là một kết hợp của các bản viết ngoại (secular writings), thì sự trung thực đã được chấp nhận vượt trên mọi nghi ngờ. Sir Frederic Keyon, cựu giám đốc của Viện Bảo Tàng Anh Quốc, viết về TU như sau: Cả hai điều: sự trung thực và chính xác của các sách TU có thể xem là đã được chấp nhận.
