Khi Vào Nhà Chúa
Chúng ta biết một số gia đình và cá nhân trong HT về VN trong dịp Tết để thăm gia đình và cũng để hưởng xuân tại quê nhà. Chuyến đường từ đây về đến VN không phải ngắn ngủi hay đơn giản. Nhanh nhất là 23-24 tiếng, lâu hơn la 26-28 tiếng. Trước hết phải chuyển máy bay từ thành phố này đến một thành phố lớn hơn như LA, SF. Tại đó phải chờ mấy tiếng đồng hồ, rồi mới đáp chuyến bay đến một nước khác như Nhật, Đài Loan hay Đại Hàn. Chuyến bay này thường thì khoảng đến 15-18 tiếng. Tại đó lại phải chờ để đáp máy bay sang đến VN mất từ 2-7 tiếng tùy theo điểm xuất. Vé rẽ nhất cũng 500-700; mùa cao điểm có thể lên đến 1,200 hoặc hơn.
Tại sao nhiều người VN sống nước ngoài lại muốn về thăm lại quê hương dù phải tốn nhiều thời gian, tiền bạc? Bởi vì họ nghĩ chuyến đi xa đó là một nguồn thú vị. Không ai bắt buộc, nhưng hoàn toàn tự nguyện vui lòng.
Cũng vậy mùa hè là mùa của cuộc đi chơi, nghĩ mát tại những nơi chúng ta mong, thích đến. Có người thì nơi ấy là một trung tâm giải trí nổi tiếng hay một nơi nghĩ mát lý tưởng vùng biển hay vùng đồi núi. Có người thích đến các shopping mall nơi đi cả ngày vẫn chưa xem hết những đồ hàng, thời trang đẹp mắt. Có người thích những nơi vắng vẻ, yên tỉnh như công viên, thư viện nhưng cũng có người thích nơi nhộn nhịp, tấp nập như dạ vũ, nhạc hội. Đây là những nơi người ta tự nguyện, không ai bắt buộc đến nhưng muốn đến dù phải bỏ tiền của, thời gian để đến.
Đối với những người đã tin Chúa, được gọi là con cái Chúa thì trước khi hay sau khi nghĩ hè thì nơi họ sẽ trở về bên cạnh nhà ở là nhà Chúa. Thậm chí một số trong khi nghĩ hè thì vẫn đến nhà Chúa, nơi chúng ta nhóm lại để cùng thờ phượng Đức Chúa Trời. Nhà Chúa là nơi người tin Chúa yêu mến và thích đến bởi vì nơi đó chúng ta nghe, học lời Chúa, có sự thông công, san sớt của anh chị trong Chúa. Điều tôi rất vui mỗi Chúa nhật là khi thấy các em thiếu nhi, thiếu niên vui vẻ chạy đùa, khi thấy người lớn tay bắt mặt mừng chào hỏi anh chị em trong hội thánh.
Nhiều năm trước đây khi hội thánh còn nhóm tại cơ sở tạm chật hẹp hơn. Khi tín đồ trong Hội Thánh đang dự buổi ăn thông công trong một phòng ăn tại nhà thờ Hoa Kỳ. Đứa con trai út của tôi là Stephen lúc ấy 9 tuổi chạy đuổi với các bạn từ phòng này sang phòng nọ. Người mục sư Hoa Kỳ chận các em lại rồi nói với tôi kêu các em đừng chạy nữa. Tôi bảo với ông rằng đây là buổi ăn thông công vui vẻ nên các em chạy chơi một chút cũng không sao. Vài ngày sau đó, Hội Thánh nhận được một lá thư bảo rằng vài tháng nữa đây Hội Thánh Hoa Kỳ sẽ không còn là Hội Thánh bảo trợ nữa. Khi nghe tin này, Stephen khóc bởi vì nó không muốn mất nơi nhóm họp, thờ phượng, nhất là vì lỗi đã chạy đuổi! Tôi bảo đảm với bé rằng đây không phải là lỗi con nhưng chỉ là điều mà Hội Thánh chúng ta đã yêu cầu; đến lúc đó bé mới yên tâm, nín khóc. Ngay cả đối với một đứa bé 9 tuổi thì nơi nhóm họp, thờ phượng hằng tuần, nơi mà chúng ta gọi là nhà thờ, nhà nguyện, nhà Chúa, hay giáo đường, là một nơi hết sức đặc biệt, thân mến.
Dĩ nhiên không phải mọi người trong mọi lúc đều nghĩ về nhà Chúa hay đến nhóm thờ phượng với sự hăng hái, phấn khởi, vui mừng! Tất cả chúng ta đều có lần đến nhà Chúa vì thói quen. Có khi bị cha mẹ ép thúc nên lưỡng lự mà đi nhưng trong lòng không muốn. Hay đến vì chỉ muốn tìm bạn trai bạn gái, hoặc chỉ để tìm vui. Cũng có người nói, "không đi nhà thờ sợ Chúa phạt, hay mục sư buồn!"
Đối với người tin Chúa, nhà Chúa là nơi họ muốn đến chớ không phải nơi bị ép buộc để đến. Như lời KT viết trong TT: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi rằng: Ta hãy đi đến nhà Đức Giê-hô-va. (Thi Thiên 122:1) Hay như một người nhớ lại ngày xưa cùng đoàn dân đông vui vẻ đến nhà Chúa: Tôi nhớ lại những điều này và linh hồn tôi tan vỡ. Thể nào tôi đã đến, dẫn đoàn người vào nhà Đức Chúa Trời. Trong tiếng reo hò vui vẻ cảm tạ của đoàn người dự lễ. (TT 42:4 – BDM)
THÁI ĐỘ KHI ĐẾN NHÀ CHÚA
Truyền Đạo 5:1-7 gồm những lời dạy hết cụ thể và thực tế về thái độ khi chúng ta vào nhà Chúa. Trong đoạn Kinh Thánh này của quyển hồi ký về cuộc hành trình đi tìm ý nghĩ, mục đích cho cuộc sống dưới ánh mặt trời, vua Sô-lô-môn ý thức về một khía cạnh quan trọng trong cuộc sống: sự thờ phượng Thượng Đế. Bởi vì đây là một khao khát căn bản, tự nhiên trong tâm hồn mỗi chúng ta.
Từ đầu quyển hồi ký, đoạn một cho đến đoạn bốn, Sô-lô-môn dùng danh xưng ngôi thứ nhất, "tôi, ta" để ghi nhận lại những nhận xét, kinh nghiệm của chính ông về cuộc sống dưới ánh mặt trời này. "Ta thấy, ta xem xét, ta biết, ta lại nói, ta mua, ta cất nhà, ta lập vườn, ta đào hồ, ta lo sắm, ta thâu chứa, ta trở nên". Không một lần dù chỉ một lần trong bốn đoạn đầu của Truyền Đạo Sô-lô-môn lại dùng ngôi thứ hai "ngươi, người". Tuy nhiên chỉ trong vài câu ngắn ngủi của đoạn 5 này, vua Sô-lô-môn lại dùng đến 10 lần từ gọi "ngươi" hay "người". Mục đích là để dạy dỗ một cách trực tiếp cho người đọc về thái độ, hành động, lời nói, suy nghĩ của người khi vào nhà Chúa.
Khi ngươi vào nhà Đức Chúa Trời hãy giữ chừng chân mình. Thà lại gần mà nghe, hơn là dâng của tế lễ kẻ ngu muội; vì nó không hiểu biết mình làm ác. Chớ vội mở miệng ra, và lòng ngươi chớ lật đật nói lời trước mặt Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời ở trên trời, còn ngươi ở dưới đất. Vậy nên ngươi khá ít lời. Hễ nhiều sự lo lắng ắt sanh ra chiêm bao; còng nhiều lời thì sanh ra sự ngu dại. Khi ngươi khấn hứa sự gì với Đức Chúa Trời, chớ chậm mà hoàn nguyện; vì Ngài chẳng vui thích kẻ dại: Vậy, khá trả điều gì ngươi hứa. Thà đừng khấn hứa, hơn là khấn hứa mà không trả". (TĐ 5:1-5)
Ba điều Sô-lô-môn cảnh giác chúng ta cần giữ khi vào nhà Chúa: 1) Giữ tâm trí, tấm lòng; 2) Giữ lời nói,; 3) Giữ lời hứa.
Giữ Tâm Trí và Tấm Lòng
Trong đoạn KT này S. dùng 3 từ cụ thể khi nhắc người đến nhà Chúa phải giữ: chân đi, lời nói, lời hứa. Tại sao S. lại dùng 3 hình ảnh này?
1) Bởi vì đây là những biểu hiện cụ thể nhất, rõ nhất của những suy nghĩ trong lòng. Chân đi, lời nói, lời hứa là sự bày tỏ của suy nghĩ, cảm giác bên trong như chân đi là thể hiện của hành động bên ngoài. Như chúng ta thấy chân đi thì biết được ý muốn, khi nghe lời người nói, lời người hứa chúng ta biết được, hiểu được lòng dạ bên trong (dù chỉ một phần).
2) Không ai, ngoại trừ ĐCT, hiểu hết được, thật sự biết rõ được tấm lòng, tâm trí của người qua 3 điều này. Bởi vì 3 điều này chỉ là thể hiện của những gì trong lòng dạ, suy nghĩ.
3) Đây là cách thức, phương tiện để gây ấn tượng hay lừa dối người. Người thường lừa dối người là qua việc nghĩ một đàng làm một nẽo. Chân đi với mình nhưng lòng lại đi đường khác; miệng nói lời ngọt ngào, nhưng ai biết lòng dạ thế nào; hứa nguyện những điều đáng nể trọng nhưng ai biết rõ động cơ của lời hứa đó là gì? Chúng ta thường muốn cho người khác kính nể mình vì đạo đức bề ngoài khi vào nhà Chúa, qua cung cách, qua lời cầu nguyện, lời nói bên ngoài, qua lời hứa nguyện.
Dĩ nhiên Đức Chúa Trời đọc rõ được mọi ý nghĩ, dự tính của loài người. Chúa không cần thấy hay nghe thì Ngài mới biết được ý tưởng, dự tính của chúng ta. Vì vậy S. khuyên dạy là khi đến nhà Chúa phải giữ 3 điều này. Hành động phải thật với suy nghĩ, dự tính, ước muốn.
Câu hãy giữ chân mình hay hãy cẩn thận, hãy thận trọng được một bản Kinh Thánh khác diễn ý, hãy ý thức rõ với tâm trí và lòng dạ mình đang ở đâu, làm gì. Chân không thể đi nếu tâm trí không điều khiển. Chỉ có người loạn trí hay say sưa mới đi mà không biết mình đi đâu. Nhưng không ai có thể đọc biết được tâm trí người khác nghĩ gì ngoại trừ khi thể hiện qua hành động bên ngoài. Chúng ta có thể dự tính hay tự nhủ rằng mình muốn đến hay sẽ đến nhà Chúa nhưng trừ khi ý đó được thể hiện cụ thể qua hành động, nó vẫn chỉ là ý nghĩ! Vậy, chơn là thể hiện, là bằng chứng cụ thể nhất, rõ ràng nhất của người tự nguyện đến nhà Chúa để thờ phượng Ngài. "Khi ngươi vào nhà Chúa, hãy giữ chừng chân mình", hãy biết rõ chúng ta đang ở một nơi thánh khiết, thiêng liêng, một nơi vô cùng đặc biệt.
Cũng chú ý rằng Sô-lô-môn không viết "nếu ngươi vào nhà Chúa" nhưng "khi ngươi vào nhà Chúa". Hễ là người tin Chúa, là con cái Chúa, chúng ta đến nhà Chúa để thờ phượng, để thông công với anh chị em mình. Khi vua Sô-lô-môn viết những lời này vua nghĩ về đền thờ của Đức Chúa Trời tại thành Jê-ru-sa-lem mà Chúa đã dùng ông để xây cất. Nhà Chúa, đối với chúng ta hôm nay, là ngôi thà thờ, nhà nguyện, là ngôi giáo đường mà hằng tuần chúng ta đến nhóm lại để học lời Chúa, để sinh hoạt, để thông công và để thờ phượng Ngài. Nhưng điều quan trọng hơn hết về nhà Chúa không phải là cơ sở thấy được mà là sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong vòng con dân Ngài khi họ nhóm nhau lại.
Khi một người đàn bà thuộc xứ Sa-ma-ri nói với Đức Chúa Jê-sus Christ, Lạy Chúa, tổ phụ chúng tôi đã thờ lạy trên hòn núi này, còn dân Giu-đa lại nói rằng nơi đáng thờ lạy là tại thành Giê-ru-sa-lem. Đức Chúa Jê-sus phán rằng: Hỡi người đàn bà, hãy tin ta, giờ đến, khi các người thờ lạy Cha, chẳng tại trên hòn núi này, cũng chẳng tại thành Giê-ru-sa-lem... Nhưng giờ hầu đến, và đã đến rồi, khi những kẻ thờ phượng thật lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Cha: Ấy đó là những kẻ thờ phượng mà Cha ưa thích vậy" (Giăng 4:20-24).
Chúa dạy rõ rằng điều quan trọng khi thờ phượng Đức Chúa Trời không phải là địa điểm hay cơ sở mà là tấm lòng chân thật trong sự thờ phượng. Sứ đồ Phao-lô cũng dạy rằng thân thể của chúng ta là đền thờ của Đức Chúa Trời, nơi Đức Thánh Linh trú ngự.
Bất kỳ kiến trúc ra sao, nhỏ lớn thế nào, nguy nga, lộng lẫy hay nhỏ bé, đơn sơ, dù cất bằng đá quí hay rơm rạ, nhà Chúa không thể thiếu hai yếu tố cần thiết và quan trọng nhất: sự hiện diện của Đức Chúa Trời và sự hiện diện của con dân Ngài. Thiếu hai điều này chúng ta chỉ có một building, một ngôi nhà, một công trình kiến trúc chứ không phải là nhà thờ phượng của Đức Chúa Trời.
Sách CVCSĐ 2:46 cho biết về sinh hoạt của các tín hữu Hội Thánh đầu tiên, Ngày nào cũng vậy, họ cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà thì bẻ bánh và dùng bửa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng.
Thái độ vui vẻ, thật thà là điều vô cùng quan trọng khi vào nhà Chúa. Có khi đến thờ phượng nhìn thấy mặt mày một số người chầm dầm, quạo quọ, như có điều gì bực dọc, không vui lòng thì không mấy ai muốn đến. Huống chi đến khách thăm viếng hội thánh. Cách đối xử với nhau, tấm lòng đối với nhau cũng phải thật thà, không vuốt ve, lấy lòng.
Họ đến nhà Chúa một cách đều đặn hằng ngày. Hôm nay với một số tín đồ, mỗi tuần một lần là đủ thấy mệt rồi huống chi đến hằng ngày! Sự đều đặn cũng cho biết về lòng nóng nảy chứ không phải chỉ thỉnh thoảng hay tùy theo sự rãnh rỗi, "để khi nào tôi rãnh, có thì giờ đã" hay tùy theo cảm giác, "vui mới đi, buồn thì khiếu".
Hê-bơ-rơ 10:24-25 nhắc nhở chúng ta rằng sự nhóm lại, sự thờ phượng chung là một điều cần thiết và quan trọng, Ai nấy hãy coi sóc nhau để khuyên giục về lòng yêu thương và việc tốt lành; chớ bỏ sự nhóm lại như mấy kẻ quan làm, nhưng phải khuyên bảo nhau, và hễ anh em thấy ngày ấy hầu gần chừng nào, thì cũng phải làm như vậy chừng ấy. Đây là câu trả lời cho những tín đồ hỏi rằng tại sao tôi lại không thể thờ phượng Chúa ở nhà một mình? Tại sao tôi cần đến nhà Chúa để thờ phượng chung với anh chị em tín hữu? Bởi vì đời sống tâm linh tín đồ không thể tăng trưởng độc lập ngoài hội thánh, ngoài sự thờ phượng tập thể, ngoài sự thông công cùng các tín đồ, ngoài sự phục vụ cùng anh chị em trong Chúa. Bởi vì khi nhóm lại chúng ta có thể động viên nhau, tương trợ nhau, có cơ hội để thông công, để chia xẻ ngọt bùi với nhau, và để giúp đở cho nhau trong bước đi với Chúa.
Vậy khi Sô-lô-môn viết "hãy giữ chân mình khi vào nhà Chúa", thì ông nhắc chúng ta phải gìn giữ lòng dạ, tâm trí mình. Phải ý thức rõ rằng mình đang ở một nơi đặc biệt, thiêng liêng, nhớ rằng đây là có sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong vòng con dân Ngài.
Vua cũng khuyên, Hãy cẩn trọng khi vào nhà Đức Chúa Trời. Hãy đến gần cung kính lắng nghe hơn là dâng sinh tế như kẻ ngu muội, là kẻ không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm. Từ ác trong BTT (vì nó không hiểu biết mình làm ác) không phải là độc ác nhưng là sai quấy, lầm lỗi (là kẻ không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm - BM). Mục đích của việc đến nhà Chúa không phải để dâng của lễ mua chuộc Đức Chúa Trời cho công đức mình. Sô-lô-môn cũng nhắc nhở chúng ta rằng đừng suy nghĩ lầm lẫn rằng mình có thể mua ân điển hay ân sủng của Thượng Đế qua quà cáp, của cúng.
Mục đích chính khi đến nhà Chúa là để "lại gần mà nghe". Để nghe lời dạy của Ngài, để nghe tiếng Chúa yêu thương, an ủi, động viên, nâng đở nhưng đồng thời cũng để nghe tiếng nhắc nhở, dạy bảo, cáo trách. Nhưng muốn nghe không những cần phải đến gần mà còn phải tập trung, chú ý, cần phải biết rõ tiếng gọi của Đức Chúa Trời. Nếu vào nhà Chúa mà chỉ để ý đến bộ đồ người này mặc, nhẫn người kia đeo, hay số tiền người bên cạnh mình dâng thì làm thế nào để nghe được? Sự thờ phượng là việc tập thể nhưng việc lắng nghe lời Chúa và làm theo là trách nhiệm cá nhân.
Làm thế nào tai có thể nghe khi tâm trí và tấm lòng đầy sự kiêu ngạo vì nghĩ rằng mình đã hiểu biết hết rồi, không cần ai dạy. Làm thế nào tai có thể nghe khi tâm trí và tấm lòng đầy sự hờn giận, buồn phiền. Làm thế nào tai có thể lắng nghe được tiếng Chúa khi tâm trí, lòng dạ bị phân tâm về những lo lắng của công việc đời này.
Tiên tri Ê-li được Đức Chúa Trời ra lệnh đến núi Hô-rép (I Các vua 19:8). [Thắng 450 tiên tri thần Ba-anh]. Nhưng rồi Ê-li lo sợ cho mạng sống ông vì bị hoàng hậu Jezabel hăm giết phải chạy trốn. Ê đi vào đồng vắng rồi than vãn với Chúa thà Chúa lấy đi mạng sống ông còn hơn. Thiên sứ hiện ra và ban cho bánh để ăn, hồi phục lại sức khỏe. Sau đó thiên sứ sai tiên tri bắt đầu một cuộc hành trình dài 40 ngày, 40 đêm để đến ngọn núi thánh; KT gọi là núi của ĐCT. Tôi nghĩ chuyến đi này thật sự nói lên sự vâng phục, tấm lòng thờ phượng chân thật của Ê với ĐCT. Ngày nay bao nhiêu tín đồ có thể làm như Ê?
Khi đến nơi, Chúa phán với ông đứng trên núi để nghe tiếng Ngài. Rồi có một ngọn gió mạnh thổi dữ tợn đến nỗi xé núi, tan đá, nhưng Chúa không có trong ngọn gió. Kế đến có cơn động đất, Chúa vẫn không có trong cơn động đất. Sau đó có đám lửa nhưng không có Đức Chúa Trời trong đám lửa. Sau đám lửa, có một tiếng êm dịu nhỏ nhẹ. Khi tiên tri Ê-li nghe tiếng êm dịu nhỏ nhẹ đó ông biết đó là tiếng của Đức Chúa Trời. Để có thể nghe được tiếng êm dịu, nhỏ nhẹ chúng ta phải ở rất gần người nói và phải tập trung chú ý. Chỉ với sự yên tỉnh, lắng đọng của tâm hồn chúng ta mới nghe được lời phán dạy của Đức Chúa Trời.
Dâng của lễ
S. viết về việc dâng của lễ: Hãy đến gần cung kính lắng nghe hơn là dâng sinh tế như kẻ ngu muội, là kẻ không nhận biết lầm lỗi mình đã phạm. Không phải dạy là không cần dâng của lễ, nhưng về động cơ, cách thức dâng lễ cho ĐCT.
KTCU dạy rõ rằng không ai khi đến đền thờ ĐCT lại đi tay không cả. Dù giàu hay nghèo, tất cả đều phải biệt riêng ra của lễ tốt nhất để dâng cho Chúa. Tại sao? Bởi vì việc dâng của lễ là thể hiện của lòng biết ơn Chúa về những điều Ngài ban cho. Dâng hiến cũng thể hiện đức tin vào Đấng ban cho. Không phải khi dư mới dâng, nhưng mọi người trong mọi hoàn cảnh đều cần phải dâng hiến.
ĐCJC dạy rằng việc giải hòa với anh chị em mình là điều vô cùng quan trọng và cần thiết trước khi có thể thật sự đến nhà Chúa và dâng của lễ: Cho nên khi con dâng lễ vật trên bàn thờ mà nhớ lại rằng một anh em con có điều gì bất bình cùng con, 24 hãy để lễ vật ở trước bàn thờ, đi giải hòa cùng anh em mình trước đã, rồi hãy trở lại dâng lễ vật. (Matt 5:23-24 – BDM)
Qv nhớ câu chuyện ĐCJC nói với các môn đồ về người đàn bà góa bụa dâng vài xu Đức Giê-su ngồi đối diện rương đựng tiền dâng, Ngài quan sát cách những người đến bỏ tiền vào rương. Lắm người giàu có bỏ rất nhiều tiền, 42 cũng có một bà góa nghèo đến dâng hai đồng tiền nhỏ, trị giá một xu. "Thật Ta nói cùng các con, bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng nhiều hơn hết thảy những người khác. 44 Vì mọi người lấy phần dư để đem dâng, còn bà góa nghèo nầy đã dâng tất cả những gì mình có, là tất cả những gì bà ấy có để sống."
Sách CV viết về HT đầu tiên khi các tín đồ tại một HT nghe tin sẽ có một nạn đói lớn xảy ra. Trong thời gian ấy, có vài nhà tiên tri từ Giê-ru-sa-lem đến An-ti-ốt. 28Một người tên A-ga-bút đứng dậy và cậy quyền năng Thánh Linh báo trước rằng sẽ có nạn đói lớn xảy ra khắp nơi có cư dân (Nạn đói này xảy ra dưới triều Cơ-lốt). 29 Các môn đệ Chúa quyết định mỗi người sẽ tùy khả năng gửi quà cứu trợ các anh em tín hữu tại Giu-đê. 30 Họ thực thi công cuộc cứu tế, nhờ Ba-na-ba và Sau-lơ chuyển giao tặng phẩm cho các trưởng lão.
PL cũng viết về sự dâng hiến rời rộng, hy sinh của các tín đồ HT xứ Ma-xê-đoan: Hỡi anh em, chúng tôi muốn anh em biết ơn Đức Chúa Trời đã làm cho các Hội thánh ở xứ Ma-xê-đoan: 2 đang khi họ chịu nhiều hoạn nạn thử thách, thì lòng quá vui mừng, và cơn rất nghèo khó của họ đã rải rộng ra sự dư dật của lòng rộng rãi mình. 3 Vì tôi làm chứng cho họ rằng họ đã tự ý quyên tiền theo sức mình, hoặc cũng quá sức nữa, 4 và nài xin chúng tôi làm ơn cho họ có phần vào sự giùm giúp các thánh đồ. (2 Cor 8:1-4)
Khi Vào Nhà Chúa – Giữ Lời Nói
Chúa Nhật 03 tháng 03, 2019
Hội thánh dưới mắt người không tin Chúa
Lý do gì qv đến hội thánh, nhà Chúa? Bởi vì sự Chúa phạt, hay vì thói quen, hay vì sợ mất mặt với người này người nọ, hay để cho người ta biết mình là người tin kính, yêu mến Chúa?
Khoảng 9 năm trước đây một quyển sách được ấn hành có tựa là In the land of believers – An outsider’s extraordinary journey into the heart of the evangelical church (Trong đất của những người tin Chúa – Một cuộc hành trình bất thường vào trung tâm của hội thánh người tin lành). Tác giả là một phụ nữ tên Gina Welch. Cô gốc người Do Thái nhưng vô thần, lớn lên tại thành phố Berkeley, CA, tốt nghiệp đại học Yale. Ý nghĩ của cô về các người tin Chúa và các hội thánh rất tiêu cực. Cô quyết định tham gia cách giả hình vào một hội thánh lớn, bảo thủ, truyền thống tại Lynchburg, VA để tìm hiểu xem người tin Chúa và hội thánh “đạo đức giả” hay “mau lên án, chỉ trích” thế nào.
Sau 2 năm giả vờ tin Chúa, nhận lễ báp-tem, học lớp truyền giáo, tham gia vào một cuộc truyền giáo tại Alaska, cô biến mất để viết quyển sách về cảm nghĩ, nhận xét, đánh giá về người tin Chúa và hội thánh. Cô vẫn không tin Chúa, nhưng suy nghĩ, nhận xét và tình cảm của cô thay đổi rất nhiều khi nghĩ về người tin Chúa và hội thánh ĐCT. Một đoạn trong sách viết về cảm nghĩ của cô sau khi bài giảng về TT 139 Tình yêu thương của ĐCT, tình yêu thương trong bài TT, tình yêu thương trong bài hát Chúa yêu em – đó là một vòng tình yêu, tình yêu thương không có sự khởi đầu và kết thúc, tình yêu thương vừa êm đềm và trọn vẹn, không hề do dự, đổi thay dù khi biết rõ mọi điều thật về con người bạn. Ai lại không muốn tình yêu thương đó? Dĩ nhiên tôi cũng muốn, nhất là khoảnh khắc đó, khi biết rằng tất cả những bí mật trong tim tôi sẽ bị phơi bày. “God-love, the love in the psalm, the love in Jesus loves you—that was Mobius strip love, love with no beginning or end, love that was both calm and complete, unflinching in the face of anything you could reveal about yourself. Who wouldn’t want that? I certainly did, especially in that moment—knowing the secrets in my own heart, knowing that soon they’d be revealed.”
Một đoạn khác cô viết về sự thông công trong các nhóm hội thánh: Điều mà tôi ghen tị nhất về người tin Chúa không phải là những điều về Chúa, nhưng là một cộng đồng nhóm lại hàng tuần, một nơi nương tựa cho những người có cùng một đức tin, một nơi an toàn để có thể bộc lộ cách chân thành về những đấu tranh trong đời sống, nơi nhắc nhở về kim chỉ nam đạo đức. Có một nơi để bảo vệ khỏi sự cô đơn, để cảm nhận rằng cũng có nhiều người khác như mình. “what I envied most about Christians was not the God thing—it was having a community gathering each week, a touchstone for people who share values, a safe place to be frank about your life struggles, a place to be reminded of your moral compass. Having a place to guard against loneliness, to feel there are others like you”
Lý do gì qv đến nhà Chúa? HT Chúa tại đây có phải là nơi bày tỏ tình yêu thương như tác giả viết: Tình yêu thương của ĐCT, tình yêu thương trong bài TT, tình yêu thương trong bài hát Chúa yêu em – đó là một vòng tình yêu, tình yêu thương không có sự khởi đầu và kết thúc, tình yêu thương vừa êm đềm và trọn vẹn, không hề do dự, đổi thay dù khi biết rõ mọi điều thật về con người bạn. Ai lại không muốn tình yêu thương đó? HT Chúa tại đây có phải là nơi có tình thông công chân thành, một nơi nương tựa cho những người có cùng một đức tin, một nơi an toàn để có thể bộc lộ cách chân thành về những đấu tranh trong đời sống, nơi nhắc nhở về kim chỉ nam đạo đức. Có một nơi để bảo vệ khỏi sự cô đơn, để cảm nhận rằng cũng có nhiều người khác như mình? Ngay cả người không tin Chúa cũng mong ước được đến một nơi như vậy.
Hầu hết, nếu không nói là tất cả đều biết Giăng 3:16; nhưng còn Giăng 3:17? Nếu ĐCJC đã không đến thế gian để phán xét thì lý gì HT ĐCT lại chỉ nơi phán xét: phán xét người không tin Chúa, phán xét người sống bê tha, người phá thai, người ly dị, người đồng tính, người kém đức tin, người đạo đức giả?
Điều tôi mong mỏi hơn hết cho HT Chúa tại đây là được người trong cộng đồng, người đến viếng HT, người đến thờ phượng, tín hữu biết về tình yêu thương chân thật, về ân điển.
Giữ Lời Nói
Khi vào nhà Chúa chúng ta phải giữ tâm trí để ý thức rõ mình đang ở nơi thiêng liêng, để tỉnh thức, tập trung mà lắng nghe lời Chúa. Chúng ta cũng cần giữ gìn lời nói. Đừng nhạy miệng, và con cũng đừng hấp tấp, thốt lời thề nguyện trước mặt Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời ở trên trời, còn con ở dưới đất; Vậy con hãy cân nhắc từng lời nói. (BDM) Khi gặp người chúng ta nể trọng, người có địa vị, chức sắc chúng ta thường rất dè dặt trong lời ăn tiếng nói. Trước khi nói, uống lưỡi bảy lần chớ không thể bạ đây nói đó rồi sau đó lại hối hận. Huống chi khi chúng ta đối diện Thượng Đế, là Đấng sáng tạo, là Chúa của muôn chúa, Vua của muôn vua.
Lời nói là sự bày tỏ của suy nghĩ, cảm giác bên trong như chân đi là thể hiện của hành động bên ngoài. Như chúng ta thấy chân đi thì biết được ý muốn, khi nghe lời người nói chúng ta biết được lòng dạ bên trong. Dĩ nhiên Đức Chúa Trời đọc rõ được mọi ý nghĩ, dự tính của loài người. Chúa không cần thấy hay nghe thì Ngài mới biết được ý tưởng, dự tính của chúng ta. Vậy tại sao Sô-lô-môn lại dùng hình ảnh chân đi, và lời nói là điều cụ thể cho loài người thấy được, nghe được? Bởi vì chúng ta thường muốn cho người khác kính nể mình vì đạo đức bề ngoài khi vào nhà Chúa, qua cung cách, qua lời cầu nguyện, lời nói bên ngoài.
Hãy cẩn thận! Dù có thể dối người nhưng không sao chúng ta có thể dối Chúa là Đấng nhìn biết mọi điều trong tâm hồn. Sô-lô-môn cũng nhắc rằng, "vì Đức Chúa Trời ở trên trời, còn ngươi ở dưới đất. Vậy nên ngươi khá ít lời". Trên trời, dưới đất không phải nói về khoảng cách nhưng về địa vị, chức năng. Chúa là Đấng sáng tạo, loài người chúng ta là loài thọ tạo; Chúa là Đấng toàn năng, vô hạn, vô đối, loài người chúng ta là loài hữu năng, hữu hạn. Chúa là Đấng cứu chuộc, chúng ta là loài được chuộc.
Vậy nên lời nói, ý nghĩ của chúng ta khi vào nhà Chúa cũng phải thể hiện sự kỉnh kiền, tôn kính. Không phải bởi vì là tín đồ lâu năm, hay dù giữ chức vụ gì trong Hội Thánh mà chúng ta có thể coi thường Thượng Đế! Sự quen thuộc, gần gủi với Chúa càng khiến chúng ta ngày càng trở nên kính yêu Ngài hơn.
Một nhà truyền giáo tại Phi Châu kể rằng khi ở Phi Châu, có lúc đang làm việc thì một người bạn bản xứ vào văn phòng hỏi thăm trò chuyện vài câu rồi ngồi xuống. Họ chỉ ngồi im lặng độ 15, 20 phút khi ông đang làm việc. Sau đó họ đứng lên và vui vẻ bảo với ông về thì giờ thăm viếng tốt đẹp rồi cáo từ ra về. Đối với người thân yêu quen thuộc chúng ta cảm thấy tự nhiên, dễ chịu trong sự im lặng. Chỉ với người xa lạ chúng ta mới thấy khó chịu, ngột ngạt vì sự im lặng nên cố tìm lời để nói cho đở căng thẳng. Thi Thiên 46:10 dạy, "Hãy im lặng và biết rằng Ta là Đức Chúa Trời". Trước Đức Chúa Trời, chúng ta cần im lặng để lắng nghe. Mục đích của lời nói không phải để thuyết phục Đức Chúa Trời hầu cho được điều này, điều nọ, nhưng để ca ngợi, tôn vinh, để dọn lòng mình hầu lắng nghe tiếng Chúa. Để làm điều này, chúng ta phải chuẩn bị tâm hồn mình trước khi và trong khi vào nhà Chúa.
KT dạy rất nhiều về lời nói. Sách Gia-cơ viết về cái lửa dù là vật nhỏ nhưng không ai có thể kiểm soát được. Dù vậy người tin Chúa phải cầm giữ lời ăn, tiếng nói của mình: Nhược bằng có ai tưởng mình là tin đạo, mà không cầm giữ lưỡi mình, nhưng lại lừa dối lòng mình, thì sự tin đạo của người hạng ấy là vô ích. (Gia-cơ 1:26). 3 bản dịch.
Cái lưỡi là một ngọn lửa, một thế giới gian ác giữa các chi thể của thân thể ta. Nó làm băng hoại cả con người, đốt cháy cả cuộc đời và chính mình nó bị hỏa ngục đốt cháy. 7 Tất cả các loài thú vật, chim chóc, loài bò sát, và sinh vật dưới biển đều đang bị và đã bị loài người chế ngự, 8 nhưng không có người nào chế ngự được cái lưỡi, là một vật dữ phóng túng đầy chất độc giết người. 9 Chúng ta dùng lưỡi ca ngợi Chúa và Cha chúng ta, cũng dùng nó để nguyền rủa con người là kẻ được tạo nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời. 10 Từ một miệng mà phát ra cả lời phúc lành lẫn nguyền rủa sao? Thưa anh chị em, không nên làm thế! 11 Dòng nước xuất phát từ một mạch lại ra cả nước ngọt lẫn nước đắng sao? 12 Không thể nào được! (Gia-cơ 3:6-12)
Sách CN dạy rất nhiều về lời nói. Dưới đây là một số lời dạy từ CN
Sống chết ở nơi quyền của lưỡi; Kẻ ái mộ [ai yêu mến] nó sẽ ăn bông trái [được hưởng lợi] của nó. (CN 18:21)
Lời nói thiếu suy nghĩ như lưỡi gươm đâm thủng, Nhưng lưỡi người khôn ngoan chữa lành. (12:18)
Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận; Còn lời xẳng xớm trêu thạnh nộ thêm. 2 Lưỡi người khôn ngoan truyền ra sự tri thức cách phải; Nhưng miệng kẻ ngu muội chỉ buông điều điên cuồng 4 Lưỡi hiền lành giống như một cây sự sống; Song lưỡi gian tà làm cho hư nát tâm thần. (15:1,4)
Lời nói dịu dàng như tàng mật ong, ngọt ngào cho tâm hồn và lành mạnh cho xương cốt. (16:24)
Lời nói xấu đâm buốt như gươm, nhưng lời khôn khiến vết thương lành (CN 12:17-18)
Trả lời trước khi nghe, Ấy là sự điên dại và hổ thẹn cho ai làm vậy. (18:13)
Câu KT mà tín đồ thường hay dùng muốn nói một sự thật khó nói cho người: Nhưng Ngài muốn chúng ta nói lên sự thật trong tình yêu thương để trong mọi sự chúng ta tăng trưởng (Ê-phê-sô 4:15) nói sự thật trong tình yêu thương. Lời dạy này gồm 2 phần: Phần thứ nhất là nội dung hay điều muốn diễn đạt cho người nghe. Nội dung phải chân thật không giả dối. Nội dung lời nói có ích lợi cho người nghe. Phần 2 là cách nói, thái độ, giọng điệu nói. Phải nói trong tình yêu thương. Dù lời có đúng cách mấy, có hay đến mấy nhưng với thái độ giận dữ, nghiệt ngã, cay đắng, mai mỉa thì cũng không ai muốn nghe.
PL có lời khuyên rất đáng học làm theo cho tín đồ HT: Môi miệng anh chị em đừng thốt ra một lời ác độc nào, nhưng nếu cần hãy nói lời lành xây dựng để đem lại ân phúc cho người nghe. 30 Anh chị em đừng làm buồn Thánh Linh Đức Chúa Trời, nhờ Ngài anh chị em được đóng ấn cho ngày cứu chuộc. 31 Hãy lột bỏ khỏi anh chị em tất cả những cay đắng, giận hờn, thịnh nộ, kêu rêu, xúc phạm cùng mọi điều hiểm độc. 32 Anh chị em hãy đối xử với nhau cách nhân từ, thương xót, tha thứ nhau như Đức Chúa Trời đã tha thứ anh chị em trong Chúa Cứu Thế. (Ê-phê-sô 4:29-32 – BDM)
Lời nói anh em phải có ân hậu theo luôn, và nêm thêm muối, hầu cho anh em biết nên đối đáp mỗi người là thể nào (Cô-lô-se 4:6) Từ ân hậu cũng là từ nói về ĐCJC là Đấng đầy ơn và lẽ thật.
Tại sao chúng ta không dùng lời nói để khích lệ, động viên, yêu ủi mà chỉ để đả kích, buộc tội, chê bai, lên án?
[Câu chuyện về lời nói của Mi-canh với Đa-vít khi thấy vua nhảy múa trước hòm giao ước: “Hôm nay vua của I-sơ-ra-ên trông thật vẻ vang ghê! Bữa nay nhà vua đã để thân thể lộ liễu trước mặt bọn nữ tỳ, chẳng khác gì một tiện dân phô bày da thịt mà không biết xấu hổ.” (2 Sa-mu-ên 6:20 - BD2011) ]
Điều quan trọng đáng ghi nhớ là lời dạy và cảnh giác của ĐCJC về lời nói: Bởi vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra. 35 Người lành do nơi đã chứa điều thiện mà phát ra điều thiện; nhưng kẻ dữ do nơi đã chứa điều ác mà phát ra điều ác. 36 Vả, ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; 37 vì bởi lời nói mà ngươi sẽ được xưng là công bình, cũng bởi lời nói mà ngươi sẽ bị phạt. (Ma-thi-ơ 12:34-37)
Giữ Lời Hứa
Giữ tâm trí, giữ lời nói, giữ tâm hồn khi vào nhà Chúa. Nhưng chúng ta còn phải giữ lời hứa nữa như Sô-lô-môn dạy, "khi khấn hứa sự gì với Đức Chúa Trời, chớ chậm mà hoàn nguyện". Niềm tin có giá trị gì nếu không có sự hứa nguyện. Trong việc buôn bán, hợp đồng, giao kèo, khế ước là thể hiện của lời cam kết, hứa hẹn giữa hai bên. Khi yêu nhau, nam nữ thề ước trèo non, lội suối để tìm nhau khi phải chia ly, xa cách, và hứa hẹn cùng nhau trong hôn nhân sẽ sống đời cho đến ngày răng long tóc bạc. Người tin Chúa có bổn phận và trách nhiệm chu toàn những lời hứa nguyện của mình với người và với Chúa.
Chú ý lời nhắc dạy của Sô-lô-môn về lời hứa. Đây là lời hứa tự nguyện chứ không phải vì cưỡng ép, bắt buộc, khi khấn hứa điều gì với Đức Chúa Trời... Thà đừng khấn hứa, hơn là khấn hứa mà lại không trả. Dù là tự nguyện, nhưng một khi đã hứa nguyện thì phải "khá trả cho điều gì ngươi hứa". Nếu không giữ tròn sẽ có một hậu quả, "sao làm cho Đức Chúa Trời nổi giận vì lời nói và làm cho hư công việc của tay ngươi?"
Sau-lơ là vua của xứ Do Thái. Khi đang chiến tranh cùng quân Phi-lít-tin thì vì sự căm giận, tức tối, vua Sau-lơ thề với Đức Chúa Trời rằng hễ người nào ăn uống trước chiều tối, trước khi vua thắng được giặc thì sẽ bị xử chết. Con vua là hoàng tử Giô-na-than đói nên ăn mật ong. Vậy đó mà vua đòi chém chết nếu triều thần không can gián. Một lời thề hứa dạy khờ đem lại một hậu quả khó lường. Vậy chớ hồ đồ khi chúng ta hứa nguyện với người và với Chúa.
Khi vào nhà Chúa chúng ta nhớ giữ tâm trí để ý thức rõ rằng đây là nơi thiêng liêng, nơi thờ phượng Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng cần giữ gìn lời nói, đừng nghĩ rằng nhiều lời mà đẹp lòng Chúa. Trái lại, nói ít nghe nhiều. Dọn giữ tâm hồn để nghe tiếng phán dạy, tiếng an ủi động viên của Chúa. Và chúng ta cũng cần giữ trọn lời hứa nguyện với người và với Chúa chúng ta. Bốn điều này sẽ giúp chúng ta thật sự thờ phượng, thông công, học hỏi, và được động viên khi chúng ta vào nhà của Chúa.
