Khi Mọi Cửa Đóng Kín
Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. Rô-ma 8:28
Lòng người có nhiều kế hoạch, Nhưng ý định của CHÚA mới được thành tựu. (CN 19:21 – BDM)
Chúng ta cầu nguyện, cẩn thận dự tính, hết lòng chuẩn bị. Rồi kiên nhẩn chờ đợi kết quả như lời KT dạy. Vài tuần rồi vài tháng trôi qua, những hột giống chúng ta gieo vẫn không thấy nở mầm, không hề sinh bông trái. Thay vì nhìn thấy những cánh cửa cơ hội, hy vọng rộng mở, chúng ta chỉ nghe tiếng cửa đóng sầm trước mắt; không chỉ một cửa nhưng hết cửa này đến cửa khác. Cuối cùng mọi cửa đều đóng kín, đóng chặt. Chúng ta chạy đến gỏ cửa, trì kéo với hy vọng ĐCT sẽ lắng nghe, rồi cửa sẽ mở. Nhưng cửa vẫn đóng chặt, không một tiếng trả lời.
Cửa đóng khi quan hệ với những người bạn thân thiết, người thân quen trong gia đình tưởng như theo thời gian sẽ bền chắc hơn, sâu đậm hơn. Nhưng rồi một ngày sự này, việc nọ xảy ra hết sức bất ngờ khiến cho tình cảm nứt rạn, rồi cuối cùng chấm dứt. Chúng ta hỏi Chúa tại sao?
Cửa đóng khi chúng ta dự tính sẽ thay đổi công việc, chổ làm với hy vọng sẽ tốt đẹp, thuận lợi hơn. Không ngờ việc xảy ra còn tệ hơn trước. Chúng ta ngạc nhiên, ngỡ ngàng. Hỏi Chúa tại sao?
Cửa đóng khi HT đang phát triển. Anh chị em trong HT vui vẻ, chân tình với nhau. Mọi người phấn khởi đọc, học lời Chúa. Thình lình cách bất ngờ không ai có thể dự tính trước lại có chuyện hiểu lầm rồi sinh ra bất hòa. Một số người cho rằng MS thiên vị, không công bình, ngồi trên ngai ĐCT để xét xử rồi bỏ HT để đến một HT khác sinh hoạt, thờ phượng.
Còn bao nhiêu cánh cửa khác trong đường học vấn, cơ hội làm ăn buôn bán, trong dự tính cho tương lai, mong ước cho con cái chúng ta…
Khi các cánh cửa của hy vọng, cơ hội, dự tính đóng sầm trước mắt, rất khó cho chúng ta chấp nhận. Chúng ta mong mỏi, hy vọng, dự tính, tham hỏi ý kiến của những người yêu mến Chúa, tham khảo lời Chúa để biết rõ ý Chúa. Nhưng rồi mọi cánh cửa cơ hội lại vẫn đóng xầm trước mặt. Chúng ta cầu nguyện nhưng như lời dội lại từ trần, từ tường. Chúa dường như vắng mặt hay không màng đến chúng ta.
Chúng ta tự xét hỏi chính mình: có phải vì những sai quấy, tội lỗi, vấp phạm của chính tôi mà cửa vẫn đóng, quan hệ chấm dứt, hột giống gieo không hề kết quả. Dĩ nhiên Chúa có thể đóng cửa vì tội lỗi chúng ta phạm hay động cơ không chính đáng. Nhưng dù thật tâm ăn năn, tự xét lấy động cơ thì cánh cửa đóng cũng không được Chúa mở ra. Chờ một vài tuần, một vài tháng cửa vẫn đóng, Chúa vẫn im lặng!
Chúng ta trách móc, đổ lỗi cho người này, người nọ. Chúng ta nghi ngờ lời hứa của ĐCT trong KT.
Tôi không biết trong số qv đây có ai đang đứng trước các cửa quan hệ, cơ hội, việc làm vẫn đang bị đóng chặt? Chính tôi đang kinh nghiệm được điều này!
Tôi muốn xác nhận một điều quan trọng để mọi người không hiểu lầm: không phải sau khi tin Chúa, , cuộc đời đầy hoa mộng, dễ dàng, mọi sự trở nên thuận lợi, thành công. Rồi mọi người sẽ sống hạnh phúc với nhau cho đến ngày răng long tóc bạc. Mỗi ngày đều tuyệt vời, hoàn toàn tốt đẹp, mọi việc như ý. Nếu đó là hy vọng của qv thì tôi xin làm cho các bong bóng hy vọng đó của qv xì hơi!
Cuộc sống hằng ngày thường đòi hỏi chúng ta học bài học mới, tiến thêm một bước. Hôm sau có thể lùi lại 2 bước! Nhưng rồi vẫn phải tiếp tục: học hỏi, sửa đổi, vấp ngã, ăn năn, đứng lên tiếp tục, rồi lại phạm lỗi, phạm tội, xin tha thứ, tha thứ, đứng lên rồi tiếp tục. Không có nơi nào trong KT dạy rằng ĐTL sẽ báo trước cho chúng ta khi Ngài thay đổi dự tính, khi đóng cửa cơ hội, khi mất tình cảm với người chúng ta thân mến.
KH 3:7 viết: Nầy là lời phán của Đấng thánh, chân thật, là Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được. “có chìa khóa của Đa-vít” nói lên uy quyền trên toàn dân, toàn xứ. Người có chìa khóa nhà là người có quyền trên căn nhà đó. Khi Chúa mở thì không ai có thể đóng lại; nhưng khi Chúa đã đóng thì không một người nào, một thế lực nào, HT nào có thể mở được.
KT cũng ví Chúa như người thợ gốm, còn chúng ta là đất trong tay Ngài. Có khi nào, người thợ gốm lại hỏi cục đất về cách thức nắn tạo hay muốn trở thành bình hay ly uống nước. Trái lại người thợ nắn tạo thế nào hoàn toàn tùy ý. Và nếu muốn bỏ làm lại từ đầu cũng toàn quyền quyết định.
Kinh nghiệm về việc mọi cánh cửa đóng kín không chỉ xảy ra cho những người tín đồ yếu đuối, thiếu đức tin hay không có lời Chúa. Trái lại đây là kinh nghiệm mà chính các “thánh đồ” trong KT cũng đã trải qua. Cụ thể hơn trong bài giảng hôm nay về sứ đồ Phao-lô theo CV 16.
THAY ĐỔI BẤT NGỜ KHI BẮT ĐẦU CHUYẾN TRUYỀN GIÁO THỨ HAI
Khoảng 10-14 năm sau kinh nghiệm đổi đời đó trên đường đến thành Đa-mách, PL bắt đầu cuộc truyền giáo thứ nhất từ một hội thánh tại thành Antioch xứ Syria. Trong chuyến truyền giáo đó, ông đi cùng với một người bạn thân thiết, yêu mến trong Chúa tên Ba-na-ba. Ba-na-ba là người đầu tiên tin tưởng, giới thiệu và bảo chứng cho PL cùng các sứ đồ khi PL đến thành Giê-ru-sa-lem sau khi mới tin Chúa.
Một năm sau khi trở về từ chuyến truyền giáo thứ nhất, PL đề nghị cùng Barnabas: Chúng ta hãy trở lại thăm hết thảy anh em trong các thành mà chúng ta trước đã giảng đạo Chúa, xem thử ra thể nào. Ba-na-ba muốn đem theo Giăng cũng gọi là Mác. Nhưng Phao-lô không có ý đem Mác đi với, vì người đã lìa hai người trong xứ Bam-phi-ly, chẳng cùng đi làm việc với. (CV 15:36-38) Vì lý do này hai người tranh cãi dữ dội đến nỗi mỗi người đi một đường. Lý do là vì B. muốn đem theo Giăng Mác nhưng PL không đồng ý vì Mác đã bỏ họ trong chuyến truyền giáo thứ nhất. Nhân đó có sự cãi lẫy nhau dữ dội, đến nỗi hai người phân rẽ nhau (CV 15:37).
Đây là một lý do tôi yêu mến lời Chúa. Vì KT không tô vẽ một bức tranh màu hồng lý tưởng, toàn diện nhưng cũng có bao nhiêu điều không tốt đẹp như câu chuyện giữa PL và B. Tôi chắc cả 2 đều nghĩ họ sẽ là bạn thân thiết đến suốt đời. Ai ngờ chỉ vì một việc nhỏ mà lại tranh cải với nhau đến nỗi phân rẽ.
Khi PL dự định cuộc truyền giáo thứ hai, ông chắn chắn sẽ đi cùng Ba-na-ba. Lời của PL cùng B. rõ ràng: Chúng ta hãy trở lại thăm hết thảy anh em trong các thành mà chúng ta trước đã giảng đạo Chúa, xem thử ra thể nào. Nhưng ĐCT trong sự hiểu biết vô cùng tận và dự tính của Ngài đã thay đổi chương trình, kế hoạch của PL và Barnabas. Tại sao ĐCT lại để cho họ tranh cải đến nỗi phải chia cách nhau? KT không hề giải thích.
Rồi PL đem theo Si-la đi bằng đường bộ hướng về phía bắc trở về quê hương của ông là thành Tarsus. Còn Ba-na-ba đem theo Giăng Mác đi đường biển sang phía tây về quê hương của ông là đảo Chíp-rơ (Cyprus). Khác với chuyến truyền giáo thứ nhất PL vắng mất người bạn thân thiết, người cố vấn tín cẩn, người đồng hành luôn động viên, khích lệ (tên Barnabas có nghĩa là con trai của sự yên ủi, khích lệ). Trái tim của PL chắc chắn có một khoảng trống to lớn, lòng PL nặng trĩu với nỗi buồn khi ông rời thành Antioch xứ Syria cùng Si-la.
Có lẽ vì sự cải vã đến nỗi chia tay với Ba-na-ba, PL học được thêm bài học về sự kiên nhẫn và mềm mại nên viết: Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhân từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo, 5 chẳng làm điều trái phép, chẳng kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự dữ, 6 chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui trong lẽ thật. 7 Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự, nín chịu mọi sự. (1 Cô-rinh-tô 13:4-7)
Qv có bao giờ kinh nghiệm những thay đổi trong các chương trình, dự tính hay không? Tôi chắc chắn mọi người đều có cả! Qv dự định làm một việc nhưng kết thúc lại làm việc khác. Tôi học văn chương VN khi còn trung và đại học rồi đi dạy học. Nhưng khi sang đây phải đổi lại học về điện toán, rồi thần học. Một buổi chiều bình thường như mọi ngày tôi gặp một người đàn ông trong tuổi 60 tại trạm xăng nơi làm việc. Cuộc gặp gỡ đó đã thay đổi cuộc đời tôi hoàn toàn, từ một người sa đọa, vô thần, tôi trở nên người tin Chúa. Và không bao giờ tôi có ý nghĩ là mình sẽ hầu việc Chúa như mục sư của hội thánh!
Ngàn năm trước đây tác giả sách Châm Ngôn viết những lời dạy khôn ngoan sau: Lòng người có nhiều kế hoạch, Nhưng ý định của CHÚA mới được thành tựu. (CN 19:21 – BDM). Người Việt ta cũng nói: Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Cuối cùng thì chỉ có ý chỉ, dự tính của ĐCT sẽ được thành đạt, cả sáng chứ không phải ý muốn hay dự tính của chúng ta. Chính ĐCJC cũng đã cầu nguyện xin Cha cất chén đắng khỏi Ngài, nhưng không phải theo ý Con nhưng theo ý Cha được nên.
Những thay đổi bất ngờ ngoài dự tính, những cánh cửa đóng kín giúp chúng ta ý thức rất rõ rằng có biết bao nhiêu hoàn cảnh, bao nhiêu vấn đề nằm ngoài sự kiểm soát, khả năng. Mong muốn, dự tính nhưng không chắc sẽ được như ý mình muốn. Đối với người tin Chúa điều này không có gì ngạc nhiên cho lắm vì chỉ có dự tính, ý chỉ của ĐCT mới được thành tựu trong đời sống. Như KH 3:7 dạy: một khi Chúa đóng thì không ai có thể mở lại ngoài chính Ngài.
PL viết những lời hết sức ý nghĩa sau: Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. (Rô-ma 8:28) Hai điều tôi muốn qv chú ý trong câu KT này: 1) Mọi sự - tức gồm cả những điều xảy ra theo dự tính, ý nguyện của chúng ta và những điều xảy ra ngoài dự tính, ý nguyện; 2) theo ý muốn Ngài đã định, chứ không phải theo ý muốn qv đã định!
Hễ chương trình, dự tính càng quan trọng, tốn kém bao nhiêu thì sự thất vọng, thậm chí tuyệt vọng, càng lớn bấy nhiêu khi có sự thay đổi, hay không thành. Tôi chắc rằng mỗi qv đây đều có một lần, hay vài lần trong đời sống kinh nghiệm sự thất vọng khi dự định thay đổi, hay không thành. Dù biết sự thay đổi có thể xảy ra nhưng không có nghĩa là chúng ta cứ phó mặc cho “định mệnh”, không dự tính, không chuẩn bị.
Một trong những thất vọng lớn nhất trong đời tôi là khi mẹ tôi bị tai biến ngay trong ngày bà được gọi phỏng vấn lần cuối để được sang đây. 10 năm dài chờ đợi, hy vọng tan biến một trong một ngày, một giờ. Tất cả những dự tính của gia đình trong phút chốc tan theo mây khói, chỉ vì một cơn tai biến máu não bất ngờ xảy ra ngay trong ngày hôm đó. Tôi thú nhận tôi có sự cay đắng và hờn trách trong lòng một thời gian sau đó. Tại sao ĐCT lại để cho điều xảy ra cho mẹ tôi, cho gia đình tôi? Tại sao điều này lại xảy ra không sau 1, 2 năm mà lại sau 10 năm dài chờ đợi? Tại sao lại không xảy ra sau khi mẹ tôi sang HK mà lại ngay trong ngày phỏng vấn?
Tôi muốn hỏi qv hiện diện tại đây rằng có bao giờ qv có sự cay đắng, hờn giận với Chúa khi Ngài đóng thay đổi dự định, chương trình của qv hay đóng chặt cánh cửa qv muốn mở ra? Một cơ hội làm ăn, thương mãi, một tiến chức trong công việc, một dự định hôn nhân, một ngôi nhà mới, hy vọng con cái được thành đổ nên người… Bao nhiêu dự tính, hy vọng bị ngăn trở, chận đứng, thay đổi, thất bại.
Chính những cánh cửa đóng kín khiến cho chúng ta phải tin tưởng vào chương trình, kế hoạch của ĐCT, như Sô-lô-môn đã viết: Hãy hết lòng tin cậy Đức Giê-hô-va, Chớ nương cậy nơi sự thông sáng của con; 6 Phàm trong các việc làm của con, khá nhận biết Ngài, Thì Ngài sẽ chỉ dẫn các nẻo của con. ( CN 3:5-6) Có người nói thế này: Khi chúng ta không thấy tay Chúa, chúng ta vẫn có thể tin vào tấm lòng của Ngài.
KHÔNG ĐƯỢC VÀO VÙNG TIỂU Á!
Rồi PL rời thành Antioch xứ Syria trong cuộc truyền giáo thứ hai vắng bóng người bạn thân thiết Ba-na-ba, nhưng cùng đi với Si-la. Họ đi từ Antioch đến Tarsus, quê hương PL. Rồi hai người trở lại thăm viếng các hội thánh đã xây dựng trong cuộc truyền giáo thứ nhất. Sau đó họ hướng bắc qua dãi núi Taurus rồi sang phía Tây độ 150 miles đến thành Đẹt-bơ (Derby) và Lít-trơ (Lystra). Đây là hai thành phố mà PL và B. đã đến trong chuyến truyền giáo thứ nhất. Nhưng lần này, một ngạc nhiên chờ đón PL. Phao-lô tới thành Đẹt-bơ và thành Lít-trơ. Nơi đó, có một môn đồ tên là Ti-mô-thê, con của một người đàn bà Giu-đa đã tin, còn cha thì người Gờ-réc. Anh em ở thành Lít-trơ và thành Y-cô-ni đều làm chứng tốt về người. (Công Vụ 16:1-2)
Tại đó ông gặp được một người trẻ tuổi tên Ti-mô-thê, người mà đến cuối đời PL gọi là người con thật trong đức tin (1 Tim 1:2) và người con yêu dấu của ta (2 Tim 1:2). Cuối đời, khi bị bắt giam trong ngục chờ ngày bị xử, PL viết lá thư cuối đời cho Timothy như lời của một người cha cùng con mình: Ta cảm tạ Đức Chúa Trời mà ta hầu việc bằng lương tâm thanh sạch như tổ tiên ta đã làm, cả ngày lẫn đêm ta ghi nhớ con không thôi trong khi cầu nguyện. 4 Vì ta nhớ đến nước mắt con, muốn đến thăm con quá chừng, để được đầy lòng vui vẻ. (2 Tim 1:3-4). Từ khi PL gặp Timothy đến khi bị chém đầu, gần 20 năm dài trôi qua nhưng cả hai vẫn luôn giữ tình thầy trò, cha con trong Chúa. Tình bạn 20 năm dài thử nghĩ mấy ai có thể tìm được!
Khi Chúa đóng các cửa này thì Ngài sẽ mở các cửa khác tốt đẹp hơn. ĐCT đóng cánh cửa quan hệ giữa PL & Ba-na-ba. KT không hề giải thích lý do. Nhưng rồi Chúa lại mở các cánh cửa khác trong quan hệ cho PL, cho Ba-na-ba, cho việc phát triển TL.
ĐCT đã đem Timothy đến cùng PL để an ủi, động viên ông trong chuyến truyền giáo này. Chính bởi Ba-na-ba cho cháu mình là Giăng Mác một cơ hội nữa nên sau này Mác trở nên một người hết sức trung tín, người viết 1 trong 4 sách Phúc Âm. Theo lịch sử hội thánh là người con trong Chúa của sứ đồ Phi-e-rơ. Nếu không có Ba-na-ba thì làm sao chúng ta có Phúc Âm Mác? Làm sao Phi-e-rơ có người con trong Chúa trung tín, gần gủi như Mác?
Món quà về tình bạn, tình cha con trong Chúa, về sự hiệp tác đồng công cộng sức trong mục vụ mà Chúa ban cho PL qua Timothy là một trong những quan hệ nổi bật hơn hết trong cuộc đời hầu việc Chúa của PL. Đây là món quà thật kỳ diệu, quí báu mà ĐCT đã đem đến một cách bất ngờ khi Ngài thay đổi chương trình, dự tính của PL. Dĩ nhiên đây cũng không phải là món quà cuối cùng!
Qv cùng tôi đọc CV 16:6: Đoạn, [họ, PL, Si-la, Timothy] trải qua xứ Phi-ri-gi và đất Ga-la-ti, vì Đức Thánh Linh đã cấm truyền đạo trong cõi A-si.[show map] Thường khi chúng ta đến với Chúa với dự tính, chúng ta chỉ muốn Chúa chấp thuận và ban phước, luôn nghĩ rằng chương trình này là tốt nhất, không cần thay đổi. Chúng ta quên rằng: Đức Giê-hô-va phán: Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. 9 Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu (Ê-sai 55:8-9).
ĐCT có thể trả lời theo 3 cách: Go (Tiếp tục), Slow (Chậm lại), No (Không được). Tiếp tục vì Chúa thuận ý và ban phước. Chậm lại vì Chúa có lý do, mục đích. Không được vì Chúa biết chúng ta cần thay đổi chương trình, dự tính và thay vào bằng chương trình của chính Ngài.
Theo CV 16:6, ĐCT rõ ràng nói không với PL và những người đi cùng ông khi họ muốn rao giảng Tin Lành trong vùng A-si (Tiểu Á). KT không giải thích, cũng không cho chúng ta biết lý do. Rồi một lần nữa ĐCT lại thay đổi dự tính của PL: Tới gần xứ My-si rồi, hai người [họ, ít nhất 3 người] sắm sửa vào xứ Bi-thi-ni; nhưng Thánh Linh của Đức Chúa Jêsus không cho phép (CV 16:7) [show map] Họ dự tính lên phía bắc xứ Bi-thi-ni nhưng Chúa lại muốn họ sang phía Tây đến thành Trô-ách.
Từ lúc khởi đầu cuộc truyền giáo thứ hai, ĐCT đã thay đổi dự tính của PL đi cùng Ba-na-ba nhưng rồi ban cho ông một niềm vui bất ngờ tại Lít-trơ khi gặp Ti-mô-thê. Bây giờ, hai lần Chúa ngăn cản dự định của PL giảng TL trong vùng Tiểu Á. PL có thể hỏi Tại sao Chúa lại làm việc này? Hay tự hỏi phải chăng cuộc truyền giáo này không nằm trong ý định của Chúa cho đời ông. Thay vào đó KT viết: họ bèn kíp qua khỏi xứ My-si, và xuống thành Trô-ách. [Vậy họ vượt qua My-si, xuống thành Trô-ách. BDM] (16:8)
Đây cũng là một bài học quan trọng cho chúng ta: Con đường Chúa chọn không phải lúc nào cũng là con đường bằng phẳng, dễ dàng, thuận lợi. Trái lại lắm lúc là con đường dài hơn, khó hơn, nhọc hơn. Nói văn hoa như nhạc sĩ Trần Thượng Trí là con đường của mắt trừng răng nhọn, biết bao tủi hờn. Hay như lời dạy của ĐCJC trong bài giảng trên núi là con đường hẹp, ít người đi nhưng dẫn đến sự sống.
ĐCT có quyền thay đổi chương trình, dự định của chúng ta. Có khi Chúa làm cho thuận lợi hơn. Nhưng cũng có khi Chúa thay đổi hoàn toàn như Chúa đã thay đổi dự tính của PL và làm cho khó hơn. Tuy nhiên ĐCT có lý do, mục đích, dự định lớn lao hơn, vượt trên mọi suy nghĩ, dự đoán của PL và các bạn truyền giáo của ông. Và lý do của sự thay đổi này không được tiết lộ cho đến sau khi PL vâng lời Chúa: Ban đêm, Phao-lô thấy khải tượng một người Ma-xê-đoan đứng trước mặt nài nỉ: "Xin ông vào xứ Ma-xê-đoan cứu giúp chúng tôi! Sau khi Phao-lô thấy khải tượng này, chúng tôi lập tức tìm cách đi vào xứ Ma-xê-đoan vì kết luận rằng Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng tôi truyền bá Phúc Âm tại đó” (16:9-10 - BDM)
ĐCT muốn họ giảng Tin Lành tại các thành thuộc xứ Âu Châu. Chú ý thái độ của PL và những người cùng đi với ông: chúng tôi lập tức tìm cách đi vào xứ Ma-xê-đoan. Không do dự, không trì nãi, chậm trễ nhưng lập tức tìm mọi cách để vào xứ Ma-xê-đoan. Chú ý từ chúng tôi trong CV 16:10. Đây là lần đầu tiên trong cuộc truyền thứ hai này, sách CV dùng từ chúng tôi. Chúng tôi là ai ngoài 3 người: PL, Si-la và Ti-mô-thê? Tại thành Trô-ách, ĐCT đem bác sĩ Lu-ca đến với PL. ĐCT ban thêm cho PL Lu-ca, một người hầu việc Chúa trung tín, một bác sĩ giúp chửa bệnh, một sử gia đầu tiên ghi lại công việc và sự phát triển của hội thánh đầu tiên. Từ hai người là PL và Si-la lúc khởi đầu, ĐCT ban thêm Ti-mô-thê tại thành Lít-trơ và bác sĩ Lu-ca tại thành Trô-ách. Đến cuối đời của PL, hai người này vẫn trung tín hầu việc Chúa cùng ông.
Xứ Ma-xê-đoan hôm nay là một phần Âu Châu. Thành Phi-líp vẫn còn là một di tích lịch sử quan trọng của xứ Hy lạp. Vậy khi đến thành Phi-líp, PL cùng những người hầu việc Chúa với ông bắt đầu một sự kiện lịch sử mới: TL về ĐCJC được rao giảng tại Âu Châu. Bây giờ chúng ta mới bắt đầu hiểu được ý chỉ của ĐCT cho cuộc truyền giáo thứ hai này, rằng PL sẽ giảng TL tại vùng đất mới Âu Châu, đầu tiên cho người xứ Ma-xê-đoan ảnh hưởng bởi Hy Lạp, và sau đó đến thành La-mã, thủ đô của thế giới bấy giờ.
CV 1:8 viết: Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất. Cho đến nay Tin Lành giới hạn trong vùng Tiểu Á. Chuyến đi từ cảng Trô-ách đến xứ Ma-xê-đoan đánh dấu sự khởi đầu của lời tiên tri: cho đến cùng trái đất.
Hội thánh đầu tiên PL lập trong xứ Ma-xê-đoan là hội thánh tại thành Phi-líp: Vậy, chúng ta từ thành Trô-ách đi thuyền thẳng đến đảo Sa-mô-tra-xơ; bữa sau, đến thành Nê-a-bô-li; 12 từ nơi đó, chúng ta tới thành Phi-líp, là thành thứ nhất của tỉnh Ma-xê-đoan, và là thuộc địa nước Rô-ma. (16:11-12). Qv có chú ý lời KT viết là thành thứ nhất ca tỉnh Ma-xê-đoan, và là thuộc địa nước Rô-ma. TL đã thật sự bắt đầu được rao giảng cho đến cùng trái đất qua cuộc truyền giáo thứ hai này.
Dự định đầu tiên của PL là gì khi ông ngõ lời cùng Barnabas? Chúng ta hãy trở lại thăm hết thảy anh em trong các thành mà chúng ta trước đã giảng đạo Chúa, xem thử ra thể nào. (15:37) Tức các thành trong xứ Tiểu Á. Nhưng ĐCT thay đổi hoàn toàn dự định đó. Ngài dùng PL, Timothy, Si-la, Lu-ca để đem TL đến Âu Châu lần đầu tiên trong lịch sử hội thánh.
Các hội thánh thành lập trong chuyến truyền giáo thứ hai có một vị trí quan trọng trong lịch sử phát triển đạo Chúa và trong lòng của PL. Trong số13 thư/sách PL viết, 9 viết gởi cho các hội thánh (Ga, 1&2 Tê, 1&2 Cô, Rô, Cô, Ê-phê, Phi), và 4 viết cho những người con trong Chúa như Ti-mô-thê, Tít, và chủ của người nô lệ tên Philemon. Trong số 9 thư gửi các HT, ngoại trừ thư gửi HT Rô-ma, 8 thư kia gửi cho các HT PL sáng lập. Trong số 8 thư gửi cho các HT PL sáng lập, 5 thư viết cho 3 hội thánh PL sáng lập trong chuyến truyền giáo thứ hai này: Phi-líp, Tê-sa-lô-ni-ca, Cô-rinh-tô, ngoại trừ Ê-phê-sô & Cô-lô-se trong vùng Tiểu Á)
Tôi không nghĩ PL và các bạn đồng lao của ông biết trước về tầm quan trọng của chuyến truyền giáo này trong lịch sử hội thánh, cả lịch sử Âu Châu và cho toàn thế giới. Họ chỉ đơn giản vâng phục Chúa. Họ đơn giản chấp nhận sự thay đổi của ĐCT cho chương trình, dự tính của đời họ. Họ tin tưởng tuyệt đối vào chương trình của Chúa cho đời họ. Họ phó thác đời sống cho Chúa, cho sự dẫn dắt trong mỗi chặng đường đời, trong công việc Chúa thay vì dựa vào sức lực, khả năng, vào sự hiểu biết của chính mình.
Qv có tin tưởng tuyệt đối rằng ĐCT sẽ hướng dẫn đời sống mình hay không? Qv có tiếp tục vững tin vào Chúa khi Ngài thay đổi dự tính, chương trình qv, ngay khi qv hoàn toàn không hiểu lý do, mục đích hay không? KT khẳng định về dự định của ĐCT cho đời sống người tin Ngài: Đức Giê-hô-va phán: Vì ta biết ý tưởng ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa, để cho các ngươi được sự trông cậy trong lúc cuối cùng của mình. (Giê-rê-mi 29:11)
Khi cửa đóng lại, hãy ghi nhớ bốn nguyên tắc sau đây:
1) ĐCT là Đấng tối thượng, Ngài hoàn toàn kiểm soát tất cả các cánh cửa trong cuộc sống của chúng ta. 2) Kiểm soát hoàn toàn, Đức Chúa Trời chịu hoàn toàn trách nhiệm. 3) Khi một cánh cửa của một điều gì đó tốt đẹp theo kế hoạch của chúng ta đóng lại, nó thường dẫn chúng ta đến một cánh cửa mở của một điều gì đó tốt đẹp hơn trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. 4) Cho đến khi chúng ta bước qua cánh cửa mà Đức Chúa Trời mở ra, chúng ta mới nhận ra sự cần thiết của những cánh cửa mà Ngài đã đóng lại.
When doors shut, keep in mind the following four principles from our study: 1) Because God is sovereign, He is in full control of all the doors in our lives. 2) Being in full control, God takes full responsibility. 3) When a door of something good according to our plan closes, it often leads us to an open door of something better in God’s plan. 4) Not until we walk through the door that God opens will we realize the necessity of the ones he closed.
