Khi Các Ấn Mở Ra – Chúa Ơi, Cho Đến Bao Giờ?
Chúng ta sẽ tiếp tục loạt bài giảng Khi Các Ấn Mở Ra từ KH 6-8. KH 5 cho biết Đấng ngồi trên ngôi cao giữa muôn vàn thiên binh, thiên sứ thờ lạy, ca tụng nắm trong tay Ngài một cuộn sách niêm phong với 7 ấn. Và Chiên Con như đang bị giết, tức ĐCJC là Đấng duy nhất có thể nhận được cuộn sách đó và mở các ấn. Cuộn sách là hình ảnh tượng trưng cho lịch sử của loài người nằm trong dự định từ trước muôn đời của ĐCT. Những diễn tiến trong lịch sử loài người từ xưa mãi cho đến ngày tận thế đều đã được Chúa biết trước tận tường, không có gì ngạc nhiên, bất ngờ với ĐCT của KT cả. Hình ảnh của các ấn dần được mở ra bởi Chiên Con dạy chúng ta rằng mọi diễn tiến trong lịch sử loài người chỉ xảy ra trong thời điểm và ý chỉ đã định trước. Chương trình của ĐCT cho lịch sử cứu rỗi và xử phạt loài người chỉ xảy ra khi các ấn mở ra. Cũng như lệnh vua ngày xưa viết trong chiếu sẽ không được xử lý, tiến hành cho đến khi nào chiếu được mở và được đọc.
Bài giảng lần rồi về Khải Tượng Về Bốn Kỵ Mã theo KH 6:1-8 khi 4 ấn đầu tiên của cuộn sách niêm phong bởi 7 ấn được mở và về khải tượng của 4 người cỡi ngựa (kỵ mã) có màu khác nhau. Chúng ta thấy gì khi 4 ấn đầu tiên mở ra? Về sự xuất hiện của 4 kỵ mã, 4 người cỡi ngựa với 4 màu khác nhau. Và khi người cỡi ngựa xuất hiện thì xảy ra bao nhiêu tai họa trên thế giới: Chiến tranh, loạn lạc, bất an, giết chóc, xung đột xã hội, khó khăn kinh tế, dịch bệnh, chết chóc. Đây là những thảm họa trong đời sống đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra từ xưa, đến nay và mãi cho đến khi Sa-tan và ma quỉ vẫn còn làm chúa thế gian này, cho đến khi tội lỗi vẫn còn cai trị trong lòng của con người.
Tôi muốn nói điều này với con cái Chúa trong tình yêu thương và với lòng quan tâm. Đúng là ĐCT nói với chúng ta, đặc biệt trong TU qua sự giáng sinh, chịu chết và sống lại của ĐCJC bằng ngôn ngữ của tình yêu thương, của sự tha thứ, kiên nhẫn chờ đợi. Nhưng KH 6-8 cho biết Ngài cũng nói với chúng ta bằng ngôn ngữ của sự phán xét, trừng phạt. ĐCT là ĐCT của tình yêu thương, tha thứ, nhân từ nhưng cũng là ĐCT công chính, thánh khiết sẽ trừng phạt tội ác.
Khải tượng về 4 kỵ mã đang xảy ra trước mắt chúng ta. Trước cơn dịch toàn cầu covid-19, trước những cuộc biểu tình, bạo động, phá hoại tại các thành phố lớn, trước những biến chuyển toàn cầu giữa các quốc gia như cuộc giao chiến tại biên giới giữa TQ và Ấn Độ, cuộc chiến tranh lạnh đang xảy ra giữa HK và TQ, qv có thể bịt tai như không nghe, quay mặt làm ngơ như không thấy, tiếp tục sống như mình là chủ cuộc đời, hay qv để lời Chúa nhắc nhở về sự mong manh, tạm bợ của đời sống trù phú trên đất này và đặt hy vọng và đầu tư vào đời sống vĩnh cửu nơi thiên đàng. ĐCT đang nhắc nhở dân sự trên đất này về ảo tưởng của thiên đàng trên đất, về sự phán xét trong những ngày cuối. Con dân Chúa có lắng nghe không?
LIÊN HỆ GIỮA LỜI DẠY CỦA ĐCJC VÀ KH 6-7
Chúng ta càng phải chú ý vào lời dạy trong KH 6:1-8 về 4 kỵ mã tượng trưng cho những thảm cảnh trong suốt lịch sử loài vì đây cũng chính là lời tiên tri của ĐCJC kh các môn đồ hỏi Chúa về dấu hiệu của ngày sau rốt. Những lời Chúa dạy ghi lại trong 3 sách PA: Ma-thi-ơ 24, Mác 13 và Lu-ca 21 và được gọi là bài giảng núi Ô-li-vê theo địa điểm nơi Chúa phán những lời dạy này.
Những điềm và dấu hiệu sẽ xảy ra trong những ngày cuối theo lời dạy của ĐCJC trong các sách PA hoàn toàn trùng hợp với những điềm và dấu khi các ấn mở ra Chiên Con mở ra. Chúng ta cũng nhớ rằng khoảng 60 năm đã trôi qua từ khi Chúa dạy các môn đồ, gồm cả sứ đồ Giăng về điềm và dấu của ngày cuối và khi Giăng nhận được khải tượng từ thiên sứ khi bị bắt đày tại đảo Bát-mô.
LINH HỒN CỦA NHỮNG NGƯỜI TỬ ĐẠO
Khi Chiên Con mở ấn thứ năm, tôi thấy dưới bàn thờ có những linh hồn của kẻ đã chịu giết vì đạo Đức Chúa Trời và vì lời chứng họ đã làm. 10 Chúng đều kêu lên lớn tiếng rằng: Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, Chúa trì hoãn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào? 11 Có kẻ bèn cho họ mỗi người một cái áo trắng dài; và có lời phán rằng phải ở yên ít lâu nữa, cho đến khi được đủ số người cùng làm việc và anh em mình phải bị giết như mình vậy. (6:9-11)
Nếu những diễn tiến khi 4 ấn đầu tiên được mở xảy ra trên thế giới này thì khi ấn thứ 5 được mở chúng ta sẽ thấy mọi diễn tiến xảy ra trên trời. Đây là một điểm cần chú ý khi đọc KH là về diễn tiến thay đổi giữa đất và trời, giữa nước người và nước Trời, giữa thế gian và thiên đàng.
Đất, thế gian: 1-3; 6:1-8, 12-16; 8:7-11:14; 12:5-14:20; 16-18; 19:11-20:10
Trời, thiên đàng: 4-5; 6:9-11; 7:1-8:6; 11:15-12:4; 15:1-8; 19:1-10; 20:11-22:21
Mục đích là để cho người đọc hiểu rõ cuộc sống trên đất không phải là duy nhất và tất cả, rằng mọi diễn tiến trên đất không phải xảy ra cách ngẫu nhiên, hay hoàn toàn theo ý muốn, dự tính con người nhưng theo dự định, ý chỉ và thời điểm đã định trước muôn đời của ĐCT; rằng lịch sử loài người nằm trong sự tể trị của ĐCT. Chúng ta có thể ngạc nhiên về những biến cố trong xứ này và trên toàn thế giới trong 6 tháng qua, nhưng ĐCT đã biết rõ những sự việc này từ trước muôn đời và cho phép những điều này xảy ra.
KH 4 cho thấy khải tượng về một ngôi trên thiên đàng với ĐCT là Đấng ngồi trên ngôi cao. Đoạn KT này cho thấy một khải tượng về thiên đàng như đền thờ nơi ĐCT ngự. Ngôi tượng trưng cho quyền năng tể trị của ĐCT, Chúa của muôn chúa, Vua muôn vua, Đấng sáng tạo, chủ tể dòng lịch sử loài người. Đền thờ tượng trưng cho sự thánh khiết, Đấng đáng tôn thờ, Đấng tha tội cho những kẻ ăn năn đến với Ngài qua dòng huyết của ĐCJC. Như tiên tri Ha-ba-cúc đã viết về hình ảnh này ngàn năm trước đó: Nhưng Đức Giê-hô-va ở trong đền thánh của Ngài, trước mặt Ngài, cả đất hãy làm thinh! (Ha-ba-cúc 2:20). KH cũng cho biết nơi trời mới, đất mới sẽ không còn có đền thờ vì chính ĐCT và ĐCJC là đền thờ của thành: Ở đó, tôi không thấy đền thờ nào; vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành. (KH 21:22).
Trong khải tượng Giăng thấy dưới bàn thờ có những linh hồn của kẻ đã chịu giết vì đạo Đức Chúa Trời và vì lời chứng họ đã làm. Đây là những người bị giết hại vì niềm tin trong Chúa và vì lời làm chứng về Chúa. Từ linh hồn cho biết những người đã tử đạo này đang chờ ngày sống lại cùng với Đấng Christ để được nhận lấy một thân thể mới hiển vinh.
KT dạy rõ rằng khi còn sống trên đất này, chúng ta sống trong thể xác với một linh hồn. Hồn và xác dù là hai nhưng hiệp một trong con người khi còn sống. Khi trút hơi thở cuối cùng trả lại hơi thở Chúa ban cho, xác sẽ chết, ngừng hoạt động, sẽ mục rữa, bụi cát sẽ trở về với cát bụi. Đối với người vô thần thì sự chết này là sự chết cuối cùng. Nhưng KT cho biết bên cạnh sự chết thể xác, con người còn có một sự chết đáng kinh sợ hơn bao lần: đó là sự chết tâm linh khi con người bị tách rời khỏi ĐCT đời đời. Như lời ĐCJC dạy: Đừng sợ kẻ giết thân thể mà không giết được linh hồn; nhưng thà sợ Đấng làm cho mất được linh hồn và thân thể trong địa ngục. (Ma-thi-ơ 10:28). Linh hồn, theo lời KT dạy sẽ sống đời đời
Nhưng linh hồn người tin Chúa sẽ về thiên đàng với Chúa, như hình ảnh những linh hồn trong câu 9. Đến khi Chúa trở lại người tin Chúa sẽ nhận được một thân thể mới thiêng liêng, vinh hiển, không còn già yếu, bệnh tật, đau đớn, không còn chết chóc nhưng bất tử và vinh hiển đời đời. Người không tin Chúa cũng sẽ sống lại trong ngày phán xét cuối cùng để chịu xử vì địa ngục là nơi như lời ĐCJC dạy không chỉ cho linh hồn con người nhưng cho cả linh hồn và thân thể.
Theo cách giải thích tương lai phổ thông, thì những linh hồn dưới bàn thờ là của những người tin Chúa trong thời gian 7 năm đại nạn. Lịch sử đạo Chúa, bắt đầu từ HT đầu tiên cho đến khi sứ đồ Giăng nhận được khải thị viết sách KH, và 2000 năm qua mãi cho đến hôm nay luôn luôn có những người chết vì niềm tin trong Chúa. Sách Hê-bơ-rơ cho thấy hình ảnh của những người chịu khổ, chịu chết vì niềm tin trong Chúa: Họ đã bị ném đá, tra tấn, cưa xẻ; bị giết bằng lưỡi gươm. Ê-tiên là người tử đạo đầu tiên bị ném đá đến chết. Sứ đồ Gia-cơ, anh em với sứ đồ Giăng bị vua Hê-rốt chém đầu (CV 12:2). Khi Giăng viết KH thì 11 sứ đồ kia đều đã tử đạo: Phi-e-rơ bị đóng đinh trên thập giá, Giăng, em ĐCJC bị ném từ nơi cao rồi bị đáng cho đến chết, Phao-lô bị chém đầu. Trong 7 thư gởi các HT Tiểu Á, Giăng cũng cho chúng ta biết tín đồ các HT Si-miệc-nơ, Bẹt-găm cũng chịu chết dưới tay đại đế Domitian vì không chịu thờ lạy đại đế.
Tuy nhiên các sử gia HT cho biết trong thế kỷ 20 số tín đồ tử đạo nhiều hơn cả 19 thế kỷ trước đó cộng lại: Trong thế kỷ 20 chúng ta có dữ kiện trên 26 triệu người tử đạo. Từ năm 33 đến 1900, có 14 triệu người tử đạo, tức gần 2 lần trong thế kỷ 20 so với 19 thế kỷ trước cộng lại. Theo tổ chức Voice of Matyrs (Tiếng của Những Người Tử Đạo) thì hiện nay trên thế giới có trên 40 quốc gia đang bắt bớ tín đồ Chúa, một số quốc gia như Bắc Hàn, Iran, không chỉ bắt bớ nhưng còn tra tấn, giết hại. Và một điều khó tin nhưng thật là ngay trong lúc này đạo Chúa vẫn còn bị bắt hại và người tin Chúa vẫn còn chịu chết vì đạo hơn bao giờ hết.
LỜI THỞ THAN CỦA NHỮNG NGƯỜI TỬ ĐẠO: CHÚA ƠI, CHO ĐẾN BAO GIỜ!
Những người tử đạo này kêu van cùng ĐCT: Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, Chúa trì hoãn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào? Một điều ngạc nhiên là lời thở than này không phải là tại sao? Tại sao Chúa lại để chúng ta chịu khổ, chịu chết vì niềm tin trong ĐCJC, khi chúng tôi làm chứng về Ngài? Nhưng là cho đến chừng nào? Cho đến bao giờ? Cho đến bao giờ Chúa mới xét đoán và trừng phạt những kẻ đã giết hại chúng tôi? Đây cũng là câu hỏi từ xưa của tác giả TT, của các tiên tri và cũng là câu hỏi của bao nhiêu người tin Chúa hôm nay.
Chúa ôi! Chúa chịu xem điều ấy cho đến chừng nào? Xin hãy cứu vớt linh hồn tôi khỏi sự phá tan của chúng nó, Và rút mạng sống tôi khỏi sư tử. (TT 35:17)
Đức Chúa Trời ôi! kẻ cừu địch sẽ nói sỉ nhục cho đến chừng nào? Kẻ thù nghịch há sẽ phạm danh Chúa hoài sao? (TT 74:10)
Đức Giê-hô-va ôi! cho đến chừng nào? Ngài há sẽ giận đời đời sao? Sự phân bì Chúa há sẽ cháy như lửa ư? (TT 79:5)
Số các ngày kẻ tôi tớ Chúa được bao nhiêu? Chừng nào Chúa sẽ đoán xét những kẻ bắt bớ tôi? (TT 119:84) – Một câu hỏi hoàn toàn giống như câu hỏi của những linh hồn tử đạo trong KH 6:11)
Hỡi Đức Giê-hô-va! Tôi kêu van mà Ngài không nghe tôi cho đến chừng nào? Tôi vì cớ sự bạo ngược kêu van cùng Ngài, mà Ngài chẳng khứng giải cứu tôi! (Ha-ba-cúc 1:2)
Qv đây có con, có cháu chắc biết đối với trẻ con 5 phút chờ để được kẹo bánh, để được mở quà dài như 1 thế kỷ. Nhà vật lý gia trứ danh Albert Einstein có 1 ví dụ khi giải thích về thuyết tương đối của ông: khi một người đang yêu ngồi cạnh người mình yêu trong khung cảnh lý tưởng thì thời gian như qua đi rất nhanh, nhưng cùng khoảng thời gian đó lại cảm thấy như cả thế kỷ khi phải chịu đựng với người mình ghét. Câu hỏi cho đến chừng nào Chúa ơi cũng thay đổi theo đối tượng và hoàn cảnh. Chúng ta thường hỏi trong những cảnh ngộ khó khăn, hoạn nạn như tác giả TT hỏi Chúa cho đến chừng nào thì hoàn cảnh khó khăn, khổ đau, mất mát này mới qua đi và ngày vui, hạnh phúc mới trở lại. Có ai khi hạnh phúc, hanh thông lại hỏi Chúa cho đến chừng nào Chúa mới thôi ban cho con những phước hạnh này.
Dù đức tin vững chắc, mạnh mẽ, trung kiên đến nỗi chịu chết cho Chúa, nhưng ai lại không có lúc trăn trở, dằn vặt bởi câu hỏi cho đến chừng nào. Tôi vẫn còn nhớ như hôm qua một kỷ niệm khi tôi mới bắt đầu vào đại học tại HK để học lại từ đầu. Ngày đó tôi gặp hai sinh viên đã tốt nghiệp cử nhân, một người sắp đi làm, một người sẽ bắt đầu chương trình cao học học kỳ tới. Tôi nhìn họ mà tự hỏi cho đến chừng nào tôi mới được như họ. Rồi khi vào cư trúc xá tôi sống chung phòng với một sinh viên VN có một người bạn gái thật xinh đẹp. Khi thấy hình của người bạn gái đó, tôi tự hỏi cho đến chừng nào tôi mới có một người bạn gái. Và từ đó đến nay có bao nhiêu lần tôi cũng đã hỏi Chúa Chúa ơi, cho đến bao giờ. ‘
Tôi chắc qv cũng như tôi và bao nhiêu tỉ người trên thế giới này cũng đang hỏi: cho đến bao giờ cơn dịch covid-19 này mới qua đi, cho đến bao giờ đời sống mới trở lại bình thường như xưa… Hễ khi nào còn sống, chắc chắn chúng ta sẽ còn có câu hỏi này. Có Chúa chúng ta hỏi nhưng biết rằng Chúa sẽ trả lời trong thời điểm và ý chỉ tốt lành của Ngài. Nhưng với những người không biết Chúa thì họ có thể hỏi nhưng ai sẽ trả lời cho họ?
Câu hỏi cho đến bao giờ của những người tử đạo là Lạy Chúa là Đấng thánh và chân thật, Chúa trì hoãn xét đoán và chẳng vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất cho đến chừng nào? Có người hỏi tại sao người tin Chúa lại nghĩ đến việc trả thù vì chẳng phải câu vì huyết chúng tôi báo thù những kẻ ở trên đất là trả thù hay sao? Không phải ĐCJC dạy phải tha thứ hay sao? Đúng vậy. Vì họ không trả thù nên mới chờ cho sự đoán xét và xử phạt của ĐCT. Hỡi kẻ rất yêu dấu của tôi ơi, chính mình chớ trả thù ai, nhưng hãy nhường cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời; vì có chép lời Chúa phán rằng: Sự trả thù thuộc về ta, ta sẽ báo ứng. (Rô-ma 12:19)
Sự tương phản của tình yêu thương không phải là thù ghét như là thờ ơ, dững dưng, mặc kệ. Tương phản của bất công không phải là trừng phạt nhưng là thờ ơ, dững dưng, mặc kệ. Khi thật sự yêu thương chúng ta sẽ phẩn nộ, tức giận khi người chúng ta yêu bị hãm hại vô cớ. Vài tuần trước đây chỉ vì một video về một cảnh sát da trắng đè đầu gối trên cổ của một người da đen đến nỗi chết vì không thở được mà bao nhiêu chục ngàn người biểu tình chống đối bất công về sự kỳ thị chủng tộc, màu da. Ai thấy video mà không phẩn nộ có thể phải tự hỏi lại con tim mình có phải quá chai lì hay không?
Vậy khi những người tử đạo kêu than cùng ĐCT và hỏi Chúa cho đến bao giờ Chúa mới phán xử và trừng phạt những kẻ độc ác giết hại dân sự Chúa thì đây là một điều hoàn toàn hợp lý và phải lẽ. Họ không trả thù, họ chờ ĐCT trả thù; nếu từ trả thù khó nghe thì qv có thể nghĩ là xử phạt bởi vì ĐCT là Đấng nhân từ, nhưng cũng là Đấng công bình. Chúng ta không thể một quan án là công bình nếu lại tha bổng kẻ phạm tội để họ tiếp tục phạm tội. Và hễ kẻ phạm tội nặng bao nhiêu thì sự trừng phạt phải thích hợp thì chúng ta mới gọi quan án là người xử công bình.
Đây cũng là một lý do mà người vô thần không thể nào có câu giải thích, trả lời thỏa đáng cho những bất công, tội ác trong đời sống dưới trời này. Một tác giả (Annie Dillard) viết một cuốn sách (Pilgrim at Tinker Creek) được giải thưởng văn học HK (Pulitzer) kể lại câu chuyện khi bà tìm một đời sống bình dị tại một dòng suối trong vùng núi Virginia. Bà hy vọng thiên nhiên sẽ giúp cho bà tìm được sự bình an tâm hồn. Nhưng thực tế của thiên nhiên khiến bà hoàn toàn vỡ mộng. Một ngày bà chứng kiến một cảnh tượng mà bà không thể nào quên được khi thấy một con sâu nước chít chết một con cóc rồi hút hết bộ óc của con cóc cho đến khi xác con chỉ còn là cái vỏ. Cả tuần lễ bà không thể nào bỏ qua hình ảnh kinh khủng đó.
Bà viết: Sự tiến hóa yêu sự chết hơn là yêu tôi, bạn hay bất cứ người nào. Tôi nghĩ phải sống bên cạnh con lạch để định hướng cuộc sống của mình theo dòng chảy tự do của nó, nhưng dường như tôi đã đạt đến điểm mà tôi phải vẽ đường. Tôi phải chia tay với thế giới duy nhất mà tôi biết. Nhìn kìa: Một con chim sẻ có thể chết khủng khiếp nhất với cái chết chậm, và thiên nhiên cũng không kém phần hài lòng. Mặt trời lên cao, con lạch lăn lên, những người sống sót vẫn hát, nhưng tôi không thể cảm nhận được điều đó về cái chết của bạn, cũng không phải về tôi, cũng không phải ai trong chúng ta về cho chim sẻ. Chúng ta xem trọng con người hơn hết, và thiên nhiên chẳng xem con người ra gì. Có vẻ như tôi có thể phải từ chối cuộc sống lạch này trừ khi tôi muốn bị tàn bạo hoàn toàn ... Nhưng chờ đã, bạn nói. Không có đúng sai trong thiên nhiên. Đúng và sai là một khái niệm của con người. Chính xác. Chúng ta là những sinh vật đạo đức trong một vũ trụ đang chạy theo ngẫu nhiên hội và cái chết, chăm sóc một cách mù quáng từ hư không đến hư không, điều này bằng cách nào đó đã tạo ra chúng ta tuyệt vời. Thế giới này chạy theo ngẫu nhiên, sự chết và quyền lực, nhưng tôi trân trọng cuộc sống và quyền của kẻ yếu so với kẻ mạnh. Vì vậy, tôi tình cờ bò ra khỏi biển của amino át xít và tôi đã tiến hóa từ chất nhờn. Bây giờ tôi phải quay cuồng và lắc nắm đấm của mình ở biển đó và trách, ‘Xấu hổ với bạn.”
Nếu con người là sản phẩm của sự tiến hóa tự nhiên thì người mạnh thắng kẻ yếu, người có quyền giết hại người dưới quyền cũng chỉ là điều tự nhiên, cần gì chúng ta phải quan tâm để ý, lấy làm khó chịu hay cảm thấy bất công. Bởi vì đây là định luật của thiên nhiên. Vậy chúng ta hỏi: ý tưởng về sự công bình, về bất công, độc ác từ đâu đến nếu con người không được Chúa đặt trong tâm hồn, trí tưởng khái niệm về sự công bình, độc ác.
Ai đọc về lời than thở của những người tử đạo bị giết hại chỉ vì tin vào Chúa mà trách họ sao còn có ý trả thù thì trước hết nên tự hỏi chính mình về suy nghĩ, dự định, thái độ, hành động của mình trong tuần qua khi ai đó nói phạm mình điều gì, lỡ làm tổn thương, nói chi đến chủ ý làm hại. Qv có bỏ qua hay không? Hay có ý ăn miếng trả miếng? Mọi người đều muốn công bình, nhưng khi áp dụng tiêu chuẩn đó cho người, nhưng với mình lại xin ân điển, cảm thông, thương xót, tha thứ.
Những người tử đạo được Chúa ban cho áo trắng của sự công chính. Nhưng câu trả lời của ĐCT khiến người đọc thắc mắc, khó hiểu: Có kẻ bèn cho họ mỗi người một cái áo trắng dài; và có lời phán rằng phải ở yên ít lâu nữa, cho đến khi được đủ số người cùng làm việc và anh em mình phải bị giết như mình vậy. Một học giả bình luận câu KT này như sau: Chúa bảo họ tự chế việc thiếu kiên nhẫn để tận hưởng trọn vẹn mọi ơn phước đang nhận lãnh. Có nghĩa là khi vẫn còn bất an, vẫn còn vấn hỏi về thời điểm của ĐCT trong việc tể trị, điều hành lịch sử thế giới thì họ vẫn chưa thể vui hưởng cách trọn vẹn những ơn phước đang nhận.
Tôi nhớ đến câu chuyện trong STK 15 khi ĐCT có lời hứa vô điều kiện cùng Áp-ra-ham: Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Phải biết rằng, dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về chúng nó, làm tôi mọi cho dân xứ đó và bị họ hà hiếp bốn trăm năm. 14 Nhưng, ta sẽ đoán phạt dân mà dòng dõi ngươi sẽ làm tôi mọi đó; rồi khi ra khỏi xứ, thì sẽ được của cải rất nhiều. 15 Còn ngươi sẽ bình yên về nơi tổ phụ, hưởng lộc già sung sướng, rồi qua đời. 16 Đến đời thứ tư, dòng dõi ngươi sẽ trở lại đây, vì tội lỗi của dân A-mô-rít chưa được đầy dẫy. (STK 15:13-16). Chúa nói với Ạ 1 lý do dân Chúa phải chịu cảnh nô lệ trong xứ Ê-díp-tô và chưa nhận được vùng đất hứa là vì vì tội lỗi của dân A-mô-rít chưa được đầy dẫy. Có nghĩa là ĐCT vẫn còn cho dân A-mô-rít thời gian và cơ hội hơn 400 năm để ăn năn, để thay đổi, để trở lại với Chúa. Nhưng khi tội đã quá thì ĐCT sẽ trừng phạt.
ĐCT cũng cho mọi người thời gian và cơ hội để ăn năn, tin Chúa. Khi thời gian ân điển rồi sẽ qua đi và sự trừng phạt sẽ đến cho những người tiếp tục từ chối lời mời gọi của ĐTL. Ấn thứ năm mở ra cũng cho thấy rằng ĐCT xem rất trọng sự chết của người trung tín với Chúa và sẽ báo thù cho những kẻ độc ác, tàn hại con dân Ngài. Đây là một an ủi lớn và hy vọng cho người tin Chúa đang sống trong một thế giới đầy những bất công, bạo nghịch. Biết rằng Chúa chúng ta nhìn thấy, lắng nghe, ghi nhận và sẽ thưởng phạt cũng như trừng phạt xứng hợp và công bình.
Vốn là những người cộng tác với Chúa, chúng tôi khuyên nài anh chị em chớ nhận lãnh ân sủng Đức Chúa Trời một cách vô ích. 2 Vì Ngài phán: "Ta đã nhận lời con trong thời thuận tiện, Ta đã phù hộ con trong ngày cứu rỗi. Kìa, hiện nay là thời thuận tiện, Kìa, hiện nay là ngày cứu rỗi!" (2 Cô-rinh-tô 6:1-2 -BDM)
Ma-thi-ơ 24
Khải Huyền 6-7
Tiên tri giả (4-5)
Bạch kỵ mã (1-2)
Chiến tranh và tin đồn về chiến tranh (6-7a)
Hồng kỵ mã (3-4)
Nạn đói (7b)
Ô kỵ mã (5-6)
Nạn đói và dịch lệ, tai ương (7b, Lu-ca 21:11)
Lam kỵ mã (7-8)
Bắt bớ và tử đạo (9-10)
Tử đạo (9-11)
Thiên tai và các đại nạn từ trời (29, Lu-ca 21:11)
Thiên tai và các đại nạn từ trời (12-17)
Tin Lành giảng cho muôn dân (14)
144,000 được dấu ấn của Chúa (7:1-8)
