Kẻ Yếu, Người Mạnh (2)
Không một mục sư VN nào lại không được tín đồ hỏi về mấy vấn đề sau đây: 1) Tin Chúa rồi tôi có nên ăn đồ cúng hay không? 2) Về việc dâng hiến, tôi phải dâng 1/10 hay có thể dâng ít hơn? 3) Tôi có làm trái lời KT dạy nếu đi làm ngày Chúa nhật hay không? Qv có biết rằng cả ba vấn đề này đều được đề cập đến và trả lời trong thư 1C không?
Các tín đồ HTC viết thư cho PL hỏi ông về việc ăn của cúng, và về vấn đề dâng hiến. PL trả lời câu hỏi về việc ăn đồ cúng trong 1C 8, và về dâng hiến trong đoạn 16 và 2 C 9. Tuy nhiên vấn đề thức ăn không phải chỉ của HTC mà của cả HT thành La-mã. Vì vậy Rô-ma 14 cũng được PL viết để giải thích cho các tín hữu HT thành La-mã về vấn đề thức ăn nào được hay không được ăn, về ngày nào là ngày thánh, ngày nào không phải là ngày thánh. Dù trong bài giảng này chúng ta sẽ đọc từ 1C 8 và Rô-ma 14-15 về việc ăn đồ cúng và các ngày nhưng nguyên tắc từ các đoạn KT này cũng ứng dụng trực tiếp vào việc dâng hiến.
Tôi cũng muốn qua bài giảng này nói về một vấn đề khác rộng hơn và quan trọng hơn: đó là về thái độ, cách cư xử và quan hệ giữa các tín đồ hay các nhóm tín đồ có quan điểm, suy nghĩ khác nhau; có mức độ đức tin khác nhau, kẻ yếu đức tin, người mạnh hơn trong đức tin; người hiểu biết KT ít, kẻ biết nhiều; người học vấn cao, người học vấn thấp; người lớn lên thành thị, kẻ sống tại nông thôn; khác màu da, khác tiếng nói, phong tục, tập quán, kinh nghiệm sống như người Kinh và người Dân Tộc.
Trong bài giảng này tôi muốn chia sẻ ba điều sau: vấn đề thức ăn và các ngày; giải quyết theo KT; bài học cho HT.
VẤN ĐỀ ĂN ĐỒ CÚNG VÀ CÁC NGÀY
Hầu hết nan đề trong hội thánh không phải là về những giáo lý siêu nhiệm, khó hiểu nhưng về những vấn đề xem như rất bình thường, thậm chí không đáng gì sinh ra từ sự khác biệt về ý kiến. Như việc nhóm tín đồ nói rằng họ theo Phao-lô, nhóm khác theo Apollo, nhóm khác theo Phierơ, và nhóm khác nữa theo ĐCJC. Hay như vấn đề về thức ăn và các ngày viết trong 1C8 và Rô-ma 14: có được ăn đồ cúng thần tượng không; có được ăn mọi thức ăn không hay phải tránh những đồ ô uế; có phải ngày nào cũng như nhau hay có ngày thánh hơn ngày khác.
1C 8:1 bắt đầu với vấn đề đồ cúng thần tượng. Người VN chúng ta thường hay cúng kiến: ngày rằm, ngày lễ cô hồn, ngày lễ vu lang, ngày tết, và dĩ nhiên ngày giỗ. Cúng là đem thức ăn để dâng cho thần, cho ông bà, cha mẹ, người đã mất, đấng trên mình. Đối với tín đồ thành C, thì việc ăn của cúng là một vấn đề rất thực tế, xảy ra như mỗi ngày. Lý do như sau: tại thành C. có đền thờ của nữ thần tình yêu (tình dục) Aphrodite. Bên cạnh việc ăn ở với các kỹ nữ “thánh” để thờ thần, người ta còn dâng của cúng hằng ngày. Không chỉ cho nữ thần Aphrodite nhưng còn cho hằng bao nhiêu thần khác mà người La-mã, Hy Lạp thờ phượng. Mỗi buổi sáng trước khi mở chợ, dân trong thành thường mời các thầy tế lễ của các thần đến để cầu thần phù hộ. Vậy khi tín đồ ra chợ, mua rau, mua thịt thì có thể những đồ này là đồ đã cúng cho thần Apollo hay Aphrodite, hay một thần nào đó rồi. Điều này cũng không khác gì những tiệm buôn bán của người VN chúng ta mỗi sáng trước khi mở tiệm, thắp nhan, cúng thần phù hộ cho công việc.
Tín đồ HTC viết thư hỏi PL về việc này. Họ không biết làm thế nào: có nên ăn đồ cúng hay không nên ăn đồ cúng. Nhóm này nói không được ăn; nhóm khác nói ăn cũng chẳng chết ai. Đây là vấn đề bên ngoài, bề mặt. Nhưng vấn đề bên trong, tiềm ẩn, mấu chốt là sự hiểu biết khác nhau: Về vấn đề đồ cúng thần tượng, chúng ta biết rằng "mọi người đều hiểu biết." (8:1 – BDM)
PL nói về vấn đề ăn của cúng thần tượng này thì mọi người đều có sự hiểu biết cả. Tức là mọi người đều có những suy nghĩ, lý lẽ, nhận xét, rồi quyết định. Có tín đồ thì biết rằng không có thần, có chúa nào khác, ngoài ĐCT: Về việc ăn đồ cúng thần tượng, chúng ta biết rằng thần tượng trong thế gian chỉ là hư không và không có trời nào khác ngoại trừ Đức Chúa Trời duy nhất. 5 Vì mặc dầu người ta nói có nhiều thần trên trời, dưới đất, dù cho thật có nhiều thần, nhiều chúa, 6 nhưng đối với chúng ta, chỉ có một Đức Chúa Trời là Cha; mọi vật do Ngài sáng tạo và chúng ta sống cho Ngài; và chỉ có một Chúa là Chúa Cứu Thế Giê-xu, nhờ Ngài mọi vật hiện hữu và chúng ta cũng nhờ Ngài mà sống. (8:4-6 - BDM).
Nhưng có phải mọi tín đồ đều hiểu biết như vậy hay không? Dĩ nhiên là không: Nhưng chẳng phải mọi người đều có sự hay biết đó. Một đôi người vì nghĩ thường có thần tượng, (8:7). Theo qv thì nhóm tín đồ nào hiểu rằng không có thần thánh nào khác ngoài ĐCT? Và nhóm tín đồ nào nghĩ có thần khác?
Nhóm tín đồ người DT thì hiểu và biết rõ rằng chỉ có một ĐCT. Từ khi còn nhỏ, đi theo cha mẹ đến nhà hội thì mỗi tuần trẻ con DT đều nghe lời dạy này mà mãi đến hôm nay, sau mấy ngàn năm, vẫn được lập lại mỗi ngày Sa-bát tại nhà hội DTG: Hỡi Y-sơ-ra-ên! hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai. (PT 6:4) Từ có một không ai này đúng ra phải được dịch là một, hay một và duy nhất. Câu KT này xác nhận rõ rằng không có thần nào khác ngoài GHV ĐCT.
Nhưng các tín đồ người ngoại (La-mã, Hy Lạp, các dân khác) thì từ nhỏ lớn lên đã thấy cha mẹ, ông bà, hàng xóm cúng thần này, thần nọ. Đã được dạy, nghe những chuyện huyền thoại Hy Lạp về biết bao nhiêu thần chi phối, ảnh hưởng đến cuộc sống, vận mệnh con người. Các tín đồ này cũng không khác gì chúng ta, sinh ra, lớn lên tại VN thường cúng giao thừa, cúng giỗ, cúng ngày rằm tháng chạp. Mỗi làng đều có một đền thờ với thần này, thần nọ. Mỗi nhà đều có bàn thờ cha mẹ, ông bà. Có nhà thì còn thờ thêm phật tổ, nhà thì thờ phật bà, nhà khác thờ quan công, trương phi. Vào tiệm ăn, tiệm nail người Việt thường thấy có một bàn thờ ông địa hay phật bà phù hộ cho việc làm ăn buôn bán!
Sau khi tin Chúa thì ĐTL nhắc nhở các tín đồ này về việc ăn của cúng thần tượng. Thử hỏi trong số qv tại đây bao nhiêu người nghĩ rằng khi đã biết Chúa rồi chúng ta không nên ăn của cúng? Cũng vậy các tín đồ người ngoại trong HTC có thể cả quyết rằng ăn đồ cúng là có tội cùng ĐCT. Nhưng chẳng phải mọi người đều có sự hay biết đó [chỉ có một ĐCT]. Một đôi người vì nghĩ thường có thần tượng, nên khi ăn của cúng tế đó cho là của cúng tế thần tượng; thì lương tâm yếu đuối của họ bởi đó ra ô uế. (8:7)
PL gọi những tín đồ vẫn còn nghĩ có thần tượng là những người có lương tâm yếu đuối. Yếu đuối là gì? Là không mạnh! Vậy ai là người có lương tâm mạnh? Các tín đồ người DT.
Rô-ma 14 cũng viết về việc ăn uống và các ngày. Người nầy tin có thể ăn được cả mọi thứ; người kia là kẻ yếu đuối, chỉ ăn rau mà thôi. (14:2) Vấn đề tại HT La-mã này là gì? Một số tín đồ nói rằng có những thức ăn không sạch nên không được ăn. Số khác nói thức ăn nào lại không sạch, chỉ có người không sạch. Vì chính ĐCJC cũng đã dạy: Người ta bị ô uế không phải vì những gì từ ngoài vào, nhưng những gì từ trong ra mới làm cho người ô uế… Như vậy Chúa tuyên bố tất cả thực phẩm đều thanh sạch. (Mác 7:15, 19 - BDM)
Theo qv thì số tín đồ nào tin rằng có những thức ăn không sạch? Và số tín đồ nào tin rằng mọi thức ăn đều sạch cả? Các tín đồ DT là những người tin có những thức ăn không sạch. Tại sao? Vì trong luật pháp Mô-se theo PTLLK và Lê-vi-ký có định rõ các loài vật, thức ăn mà dân DT cần tránh. Đến hôm nay người theo DTG vẫn không ăn thịt heo, và chỉ ăn thức ăn theo luật Mô-se gọi là Kosher.
Nhưng các tín đồ dân ngoại (cả người VN chúng ta) thì vật gì ăn được thì cứ ăn. Một số tín đồ VN hôm nay cử ăn huyết vì KTCU cấm dân DT ăn huyết, số khác bảo chẳng phải Chúa dạy tất cả thực phẩm đều sạch cả hay sao!
Không chỉ về thức ăn nhưng còn cả về các ngày. Có số người xem ngày nào cũng như nhau; số khác tin có ngày này trọng hơn, thánh hơn ngày khác. Người này coi ngày này trọng hơn ngày kia, kẻ khác coi ngày nào cũng như nhau (14:5). Qv nghĩ nhóm tín đồ nào xem mọi ngày đều như nhau? Các tín đồ dân ngoại. Nhóm nào xem ngày này trọng hơn ngày khác? Dĩ nhiên là các tín đồ người DT.
Và theo PL viết trong Rô-ma 14 thì vấn đề mấu chốt là gì? Đức tin. Hãy tiếp nhận người yếu đức tin, đừng lên án những vấn đề không biết chắc: 2 Người này tin có thể ăn mọi thức ăn, nhưng người kia yếu đuối chỉ ăn rau. (Rô-ma 14:1-2) Người này coi ngày này trọng hơn ngày kia, kẻ khác coi ngày nào cũng như nhau. Mỗi người hãy tin quyết trong trí mình. (14:5)
Qv nghĩ tại hội thánh La-mã, PL xem ai là người yếu đức tin? Tín đồ người DT vẫn còn tin vào luật pháp Mô-se về thức ăn.
Tôi xin tóm lại vấn đề trong hai đoạn KT này như sau:
Trong bất kỳ một hội thánh nào, tín đồ đều có những hiểu biết khác nhau. Người đọc KT mỗi ngày, học lời Chúa thường xuyên, học thuộc lòng nhiều câu KT. Người khác đọc hoài nhưng sao không hiểu nên đợi đến Chúa nhật ăn luôn một lần cho no suốt tuần tới! Sự hiểu biết, kiến thức, theo lời PL, dễ sinh kiêu ngạo. Kiêu ngạo là gì? Là hãnh diện, tự hào về kiến thức, về đức tin, về dâng hiến, về phục vụ, thậm chí về đức tin hơn người. Không những nghĩ mình biết nhiều hơn người khác, người kiêu ngạo còn xem thường, khinh dễ người khác không bằng.
Đến giờ thì chắc hầu hết qv cũng đã biết rằng ĐCT ghét sự kiêu ngạo và chống cự kẻ kiêu ngạo. Có sáu điều Đức Giê-hô-va ghét, Và bảy điều Ngài lấy làm gớm ghiếc:17 Con mắt kiêu ngạo, lưỡi dối trá, Tay làm đổ huyết vô tội (CN 6:16-17); Vì vậy, Kinh Thánh chép rằng: Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường. (Gia-cơ 4:6)
Cũng vậy bất kỳ một hội thánh nào đều có tín đồ có đức tin mạnh mẽ về điều này, nhưng lại yếu về điều khác. Khi so sánh với nhau, người có đức tin mạnh như PL viết trong Rô-ma 14 khinh dễ người kém đức tin. Người kém đức tin thì lại xét đoán người có đức tin. Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người (Rô-ma 14:3). Chúng ta thấy rõ PL dạy rằng cả hai đều có thể phạm tội: hoặc khinh dễ, coi thường anh chị em mình, hoặc xét đoán, lên án, chỉ trích anh chị em mình.
Khi đặt hai đoạn KT này song song với nhau thì chúng ta có thể nhận xét mấy điều quan trọng sau đây:
Phong tục, tập quán, hoàn cảnh sống, học thức, gia đình ảnh hưởng đến quan điểm về cuộc sống, và cả về sự hiểu biết KT. PL không hề phủ nhận điều này. Trái lại ông xác nhận sự khác biệt giữa hai nhóm tín đồ.
Mỗi nhóm tín đồ, dù là người DT hay dân ngoại, đều có những điểm đúng và điểm sai, điểm mạnh và điểm yếu. Không ai độc quyền trong sự thật. Không ai lại đúng hoàn toàn trong mọi hoàn cảnh, thời điểm. Nên chúng ta cần phải có sự khiêm nhường để lắng nghe, để tự xét mình, để không xem thường anh chị em trong Chúa.
Chính vì hai lý do trên mà hội thánh Chúa cần tín đồ với những hoàn cảnh, kinh nghiệm sống khác nhau, cần cả Bắc, Trung, Nam, cả người Kinh lẫn người Thượng, cả người lớn lẫn người nhỏ… Vâng sự đa dạng sẽ có những khác biệt, và khác biệt có thể và thường dễ đem lại xung đột. Chính vì lý do này mà Chúa muốn hội thánh Chúa khác biệt với người đời. Khác biệt thế nào? Khác biệt nhưng hiệp một; khác biệt nhưng yêu thương nhau; khác biệt nhưng biết nhường nhịn nhau.
Sứ đồ Giăng được ĐTL ban cho khải tượng về những ngày sau rốt và khải tượng về thiên đàng. Trên thiên đàng sẽ có đủ mọi dân tộc, mọi giống người khác nhau: Sau đó, tôi thấy một đoàn người rất đông không ai đếm được, từ tất cả các quốc gia, chủng tộc, dân tộc và ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Chiên Con, mặc áo dài tinh bạch, tay cầm cành lá kè. Họ hô lớn: "Ơn cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta, là Đấng ngự trên ngai và thuộc về Chiên Con!" (KH 7:9-10)
GIẢI QUYẾT THEO KINH THÁNH
Trong xã hội ngày nay, dù ở HK hay VN, dù trong công xưởng hay trong trường học gồm cả các chủng viện thần học Cơ Đốc, hay cả trong một giáo phái và hội thánh, một người hay một nhóm người thường được xếp loại, đánh giá theo hai thành phần: hẹp trí (narrow minded) và rộng trí (open minded). Thế giới ngày nay tin rằng người trí thức, hiểu biết phải là người rộng trí và chỉ có những người thiếu hiểu biết là người hẹp trí, và họ cũng là nan đề chính của xã hội, của mọi sự phát triển.
Người hẹp trí thì khăn khăn rằng chỉ có cách tôi làm, suy nghĩ của tôi là đúng trong mọi vấn đề. Chỉ có hệ phái tôi là đúng, mọi hệ phái khác đều sai. Chỉ có cách thờ phượng này là đúng, các cách thờ phượng khác đều sai. Từ đó đến nay hội thánh phải thờ phượng thế này, thế nọ, phải tổ chức thế này, thế nọ. Sự thay đổi, đổi mới là đi trái lại với truyền thống. Trong việc ăn đồ cúng, người hẹp trí cả quyết: tôi không ăn đồ cúng là điều đúng lời dạy KT, vì vậy ai ăn là người phạm tội! Quả thật người hẹp trí gây ra biết bao nhiêu vấn đề trong xã hội, trong hội thánh vì trái lại với suy nghĩ của họ là sai lầm, trái với lời dạy KT, là có tội.
Thế nào là rộng trí? Là tin rằng mọi quan điểm, mọi tôn giáo, mọi niềm tin, mọi lối sống, mọi suy nghĩ đều có giá trị như nhau vì đường nào rồi cũng đến La-mã. Trong việc đồ ăn cúng thần tượng hay ăn thịt, người rộng trí thì nghĩ rằng cả hai đều đúng: Nếu anh chị không muốn ăn thịt, thì đừng ăn, nhưng tôi có thể ăn thịt. Cả hai suy nghĩ đều đúng. Châm ngôn của người rộng trí là: mọi người đều có sự thật; mọi tôn giáo đều như nhau; không có gì đúng hết, cũng chẳng có gì sai hết; mọi sự đều tùy; ai muốn sống, muốn làm sao cũng được miễn đừng đụng đến tôi là được rồi.
Có phải PL, lời Chúa dạy chúng ta nên là người rộng trí hay không? Không. Trong bài giảng trên núi, chẳng phải ĐCJC dạy hãy đi đường hẹp vì đường rộng dẫn đến sự chết hay sao? Hay chẳng phải Chúa khẳng định: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha hay sao? Phủ nhận, từ chối, bác bỏ sự thật tuyệt đối không phải là rộng trí, hay hẹp trí nhưng là lẫn trí!
Người tự xưng mình rộng trí có lúc không biết mình cũng hẹp trí khi họ tuyên bố rằng: ai tin vào sự thật tuyệt đối là người thiếu hiểu biết, người lạc hậu, hẹp trí! Khi tuyên bố như vậy họ cũng đã khẳng định rằng chỉ có niềm tin của họ, tức là không có sự thật tuyệt đối, là tuyệt đối. Không chỉ như vậy họ khinh khi, xem thường người họ xem là hẹp trí. Vì vậy PL cảnh giác tín đồ La-mã: Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn.
Hay KT dạy tín đồ phải hẹp trí? Nhất định là không! Bởi vì đây là người khăn khăn cho ý kiến, suy nghĩ, nhận xét của mình trong mọi sự là đúng, không nghe, không chấp nhận ý của người khác!
Trong cả đoạn 1C8 và Rô-ma 14:3 chúng ta thường nghĩ người rộng trí là người mạnh, người hẹp trí là kẻ yếu. Ai là người rộng trí, người mạnh? Người ăn; ai là người hẹp trí, kẻ yếu? Người không ăn. Nhưng cả hai đều có vấn đề: Người ăn đừng khinh bỉ kẻ không ăn và người không ăn chớ lên án kẻ ăn. Người hẹp trí thì lên án, buộc tội người rộng trí. Người rộng trí thì khinh dễ, xem rẽ, chế diễu, coi thường người hẹp trí. Qv nghĩ xem trong hội thánh có những người rộng trí và hẹp trí không? Qv nghĩ mình là người thế nào: rộng trí hay hẹp trí?
Trước câu hỏi có ăn đồ cúng thần tượng của các tín đồ HTC, PL trả lời thế nào trong 1C8? Có phải ông dạy đừng ăn đồ cúng? Hay dạy rằng vì chỉ có một ĐCT nên ăn đồ cúng không sao?
V8: Thực ra, thức ăn không giúp chúng ta được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta không ăn cũng không hại gì; nếu chúng ta ăn cũng không ích lợi gì. 9 Nhưng hãy cẩn thận, đừng để quyền tự do của anh chị em gây cho những người yếu đức tin vấp phạm.
Khi mới đọc qua xem như PL “ba phải”, dạy làm sao cũng được! Không phải vậy. Vấn đề thức ăn và các ngày không phải là vấn đề trọng yếu. Đây là vấn đề mà tín đồ có sự tự do quyết định theo đức tin (R14) , theo sự hiểu biết (1C8). Tôi lập lại nhiều lần câu nói ý nghĩa này: Trong những điều trọng yếu: hiệp một; trong những điều không trọng yếu: tự do; trong mọi sự: yêu thương.
Vấn đề trọng yếu trong câu KT này là gì? Chúng ta được chấp nhận trước mặt ĐCT, và đừng gây vấp phạm cho người yếu đức tin. Làm sao được ĐCT chấp nhận? Qua thức ăn hay qua việc giữ các ngày? Dĩ nhiên không. Nhưng qua sự tin nhận ĐCJC và làm theo lời Chúa dạy.
9 Nhưng hãy cẩn thận, đừng để quyền tự do của anh chị em gây cho những người yếu đức tin vấp phạm. Đây là một nguyên tắc vô cùng quan trọng cho người tin Chúa: PL dạy rằng các tín đồ DT có sự tự do để ăn đồ cúng, nhưng không nên lạm dụng sự tự do, lạm dụng kiến thức này mà gây vấp phạm cho kẻ có lương tâm yếu đuối.
11 Vì thế sự hiểu biết của anh chị em hủy diệt người yếu đuối ấy, là người anh chị em Chúa Cứu Thế cũng đã chết thay cho. 12 Như vậy khi phạm tội cùng anh chị em mình và làm tổn thương lương tâm yếu kém của họ, anh chị em cũng phạm tội cùng Chúa Cứu Thế. 13 Thế thì nếu thức ăn gây cho anh chị em tôi vấp phạm, tôi sẽ không bao giờ ăn thịt để khỏi gây cho anh chị em tôi vấp phạm.
PL viết trong 1C8:1 Nhưng sự hiểu biết sinh kiêu ngạo. Hơn thế nữa, sự hiểu biết, kiến thức còn có thể hủy diệt người yếu đuối! Không những đừng lạm dụng sự tự do trong Chúa, đừng ỷ lại kiến thức KT mà sinh kiêu ngạo nhưng PL còn đi một bước nữa: phải nhượng sự tự do của mình để giúp cho anh chị em trong Chúa không vấp phạm, để có thể trưởng thành trong Chúa.
PL cũng dạy trong Rô-ma 14:3-4 rằng: Người ăn chớ khinh dể kẻ không ăn; và người không ăn chớ xét đoán kẻ ăn, vì Đức Chúa Trời đã tiếp lấy người. Ngươi là ai mà lên án đầy tớ của người khác? Nó đứng vững hay ngã xuống, đó là việc của chủ nó; nhưng nó sẽ đứng vững vì Chúa có quyền cho nó đứng vững vàng. PL dạy rằng đối với những việc không trọng yếu này hãy cố gắng giải thích bằng KT, với lý lẽ trong tình yêu thương nhưng nếu vẫn bất đồng ý kiến thì hãy để ĐTL làm việc.
Nói như vậy không có nghĩa là không ai đúng, không ai sai; không có người có hiểu đúng KT hay hiểu sai KT. Nhưng đừng vì những sự việc không hệ trọng mà hủy hại công việc Chúa: Vì Nước Đức Chúa Trời không phải là vấn đề ăn uống nhưng là sự công chính, bình an và vui mừng trong Thánh Linh. 18 Vì người nào phục vụ Chúa Cứu Thế cách này thì được Đức Chúa Trời hài lòng và loài người chấp nhận. 19 Vậy, ta hãy đeo đuổi những việc đem lại hòa thuận và xây dựng nhau. Đừng vì món ăn mà hủy hoại công việc của Đức Chúa Trời. (Rô-ma 14:17-19)
Tại sao người hiểu biết phải nhượng sự tự do mình cho anh chị em trong Chúa? Vì tình yêu thương như chính ĐCJC đã yêu chúng ta, vì ân điển như ĐCJC đã ban ân điển. Nhưng sự hiểu biết sinh kiêu ngạo, còn tình yêu thương xây dựng. 2 Nếu ai nghĩ rằng mình hiểu biết điều gì thì người ấy chưa hiểu biết như đáng phải biết. 3 Nhưng nếu ai yêu kính Đức Chúa Trời, Ngài biết người ấy.
Qv nghĩ xem Chúa Jesus yêu thương và ban ân điển cho chúng ta thế nào? Sự cứu rỗi là ân điển của ĐCT qua ĐCJC khi Ngài hạ mình xuống thế gian làm người: 6 Vì Ngài vốn có bản thể Đức Chúa Trời nhưng không coi sự bình đẳng với Đức Chúa Trời là điều phải nắm giữ. 7 Nhưng chính Ngài tự bỏ mình, mang lấy bản thể của một tôi tớ, trở nên giống như loài người, có hình dạng như một người. 8 Ngài đã tự hạ mình xuống, chịu vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên thập tự giá (Phi-líp 2:5-8)
Như vậy giải quyết thế nào theo lời KT dạy? Theo R14:1 và R15:1-2: Hãy tiếp nhận người yếu đức tin, đừng lên án những vấn đề không biết chắc (14:1) Chúng ta là người mạnh phải gánh vác những khiếm khuyết của người yếu; chớ nên chỉ làm hài lòng mình. 2 Mỗi người trong chúng ta hãy làm hài lòng người lân cận để giúp ích và xây dựng họ (15:1)
Chú ý PL xác nhận có kẻ yếu, người mạnh. Không phải mọi niềm tin đều như nhau, mọi hiểu biết đều như nhau. Khi PL nói kẻ yếu, tức ông nói rằng họ hiểu chưa rõ, hiểu chưa đúng, đức tin họ còn yếu, chưa mạnh mẽ. PL cũng không dạy tiếp nhận điều họ tin, hay thay đổi mình theo điều họ tin. Vậy PL khẳng định có đúng, có sai, có phải, có trái. Nhưng lời khuyên của ông là người mạnh phải gánh vác những khiếm khuyết của người yếu.
Từ chấp nhận đây là proslambano (R14:1), có nghĩa là kéo lại gần, mở rộng khuôn vi của mình để kéo người lại gần, mở rộng vòng tay để chào đón, thích ứng, thay đổi đời sống để có quan hệ với người khác mình, ngoài vòng quan hệ của mình, ngoài phong tục, ngoài niềm tin. Từ gánh vác (R15:1) có ý là mang một gánh nặng, vác một vật nặng trên vai. Cả hai điều PL khuyên người tín đồ trưởng thành phải làm đều có giá trả, đều trái với tính tự nhiên, vì không ai khi không lại vác gánh của người khác hay phải ép mình tiếp đón người trái ý với mình, chỉ gây thêm phiền phức. Dĩ nhiên chúng ta chỉ có thể chấp nhận, gánh vác những người muốn đến, muốn bước vào quan hệ, muốn được giúp đở.
Không phải chấp nhận và gánh vác với sự kiêu ngạo: Tôi làm ơn cho họ! nhưng trong ân điển, với lòng nhân từ, chân thành, với sự khiêm nhường trong tình yêu thương, tha thứ.
BÀI HỌC CHO HỘI THÁNH
1. Chấp nhận, yêu thương con em trong HT. Tạo môi trường để có thể phát triển.
Người lớn tuổi, có sự hiểu biết, kinh nghiệm sống trong Chúa yêu thương, chấp nhận thế hệ trẻ. Chúng ta cần cầu xin Chúa ban cho sự khôn ngoan, kiên nhẫn, và tình yêu thương (điều mà tôi thường cầu nguyện cho cha mẹ!) để phân biệt điều hệ trọng và phụ thứ, điều đáng nói, điều có thể bỏ qua. Hơn bao giờ hết, con em trong HT cần được yêu thương, chấp nhận. Cần được biết rằng dù có phạm lỗi lầm, thì cha mẹ, gia đình, HT vẫn là nơi luôn mở rộng vòng tay để chào đón các em.
Điều này cũng phải được áp dụng với những anh em chị em còn non nớt trong đức tin, chưa trưởng thành. Nếu bước vào HT mà chỉ nghe chỉ trích, phê bình, lên án, buộc tội. Khi bước ra thì chỉ cảm thấy xấu hổ, nhục nhả thì HT giúp ai? Không ai cả! Cũng vì lý do này mà có lúc HT chỉ có thể đi nhanh nhất bằng tốc độ chậm nhất của tín đồ bởi vì HT của ĐCT không thể bỏ ai như Chúa đã không bỏ chúng ta khi còn là những người có tội.
2. Đời sống, cư xử, thái độ thể hiện ân điển
Khi hỏi người chưa tin Chúa hình ảnh gì, suy nghĩ gì đầu tiên khi nghĩ về tín đồ, về HT? Hầu hết trả lời rằng hẹp trí, hay phán xét, lên án, buộc tội, thiếu sự mềm mại, ngọt ngào. Nếu hỏi đồng hương VN thành phố về HT và tín đồ thì ý tưởng đầu tiên gì đến trong trí họ? Dĩ nhiên tôi không nói về sự khác biệt đức tin, về sự thật. Nhưng tín đồ bày tỏ đức tin, chân lý thế nào trong đời sống, cư xử, thái độ? Họ là cây xương rồng đầy gai nhọn, không đem bóng mát đến hay là cây có trái ngon ngọt, có tàng to phủ bóng mát lúc trưa hè nắng gắt?
Chúng ta thường lầm hai điều: thắng một cuộc tranh luận và thắng một tâm hồn. Qv có thể thắng cuộc tranh luận vì có sự thật, đầy lý lẽ nhưng có thể lại mất một tâm hồn vì lời nói, cư xử, thái độ. Trái TL là gì? Lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. Không phải lý lẽ, kiến thức, hiểu biết!
Trái TL phải được thể hiện mọi nơi trong mọi lúc: gia đình, công sở, HT, tình bạn. HT đã đọc qua nhiều lần đoạn KT trong Cô-lô-se 3:12: Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, 13 nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. 14 Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành.
Tôi muốn qv cũng nhớ câu KT này trong Ma-thi-ơ 11:29: Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. 29 Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ.30 Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng.
Khi nào qv có thể yên nghỉ thật sự? Khi có sự bình an, biết được an toàn.
ĐCJC nói về Ngài thế nào? Lòng nhu mì và khiêm nhường
Gánh của Chúa thế nào? Dễ chịu và nhẹ nhàng. Không phải vì không gặp thử thách, khó khăn, vì mất mát, hoạn nạn nhưng vì biết Đấng Christ cho chúng ta sự tự do để mang ách và mục đích của ách đó là tình yêu thương, là cho lợi ích của chính chúng ta.
1 Cô-rinh-tô 8
Rô-ma 14
Vấn đề bề ngoài
Thức ăn cúng thần tượng
Thức ăn và các ngày
Vấn đề bên trong
Kiến thức sinh ra kiêu hãnh
Đức tin sinh ra tự phụ, xét đoán
Tín đồ người Do Thái
Không có thần nào khác ĐCT nên có thể ăn mọi thức ăn
Vì luật Mô-se nên không thể ăn các thức ăn dơ bẩn.
Nhớ lấy ngày nghĩ làm nên ngày thánh
Tín đồ người ngoại
Có thể có các thần khác nên đừng ăn đồ cúng các thần
Mọi thức ăn đều sạch cả
Mọi ngày đều như nhau
Hậu quả
Người này hãnh diện về kiến thức, sự hiểu biết nên sinh ra kiêu căng
Người này khinh người khác; người này lên án người khác
Kẻ Yếu
Tín đồ dân ngoại
Tín đồ Do Thái
Người Mạnh
Tín đồ Do Thái
Tín đồ dân ngoại
