Jêsus Christ – Người Đầy Tớ Chịu Thương Khó
Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người. (Mác 10:45)
BỐN PHÚC ÂM VỀ JÊSUS
Bốn sách Phúc Âm đều ghi lại về cuộc đời và diễn tiến trong vòng 3 năm ĐCJC hành đạo. Mỗi sách có một mục đích, đọc giả và đối tượng cụ thể.
Chúng ta đã tìm hiểu qua TL theo Ma-thi-ơ chủ yếu viết cho người Do Thái và nhấn mạnh về sự ứng nghiệm của CU trong ĐCJC. Mác chủ yếu viết cho những người ngoại, công dân La-mã, chủ yếu nói tiếng Hy-lạp (hơi phức tạp!). Lu-ca viết chủ yếu cho người Greek (người ngoại) và cho biết rõ các chi tiết về cuộc đời của Đấng Cứu Rỗi Jêsus như Con Loài Người (Son of Man).
Sách Giăng chủ yếu viết cho cả người Giu-đa và người ngoại về Jêsus là Con Thượng Đế (Son of God). Khác với 3 sách Tin Lành kia chú trọng về những sự kiện trong đời ĐCJC, Giăng chú trọng về ý nghĩa của những sự kiện đó. Khi cả 4 sách PA ghi lại về câu chuyện Chúa làm phép lạ hóa bánh cho 5000 người thì chỉ có Giăng giải thích rằng chính Jêsus là Bánh Hằng Sống.
Dù viết lại về cuộc đời của Jêsus, nhưng 4 sách PA khác với các sách về tiểu sử hôm nay.
PA không ghi lại toàn bộ chi tiết về cuộc đời của ĐCJC: về hình dạng, tiếng nói, tính tình, tâm lý. Nhưng chỉ ghi lại một vài chi tiết về sự chào đời, sự chết và chủ yếu về những câu chuyện quan trọng trong cuộc đời và những lời dạy.
PA không nhất thiết viết theo thứ tự thời gian về cuộc đời và những diễn tiến trong cuộc đời theo thời gian
3 PA: Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca có rất nhiều nội dung giống nhau. Theo một học giả thì trong số 661 câu KT trong sách Mác, khoảng 90% nội dung đó cũng có trong sách Ma-thi-ơ, và khoảng gần 50% có trong sách Lu-ca. Tuy nhiên nội dung của sách Giăng chỉ có độ 10% giống với 3 sách PA kia.
[Giả thuyết về thứ tự và nguồn gốc của 4 sách Phúc Âm]
Truyền thống hội thánh còn dùng 4 biểu tượng cho 4 sách PA. 4 biểu tượng này từ Ê-xê-chi-ên 1:10 và KH 4:7 gồm 4 sinh vật với 4 mặt: người, sư tử, bò, và chim ưng.
Ê-xê-chi-ên 1:5, 10; KH 4:6-7; [2 hình ảnh ví dụ]
Ma-thi-ơ: con người, loài cao quí nhất được chính ĐCT sáng tạo, chúa tể của muôn loài trên đất. ĐCJC hạ thế làm người, chịu chết cho tội lỗi loài người.
Mác: sư tử (sách mở đầu với lời của tiên tri Ê-sai về tiếng vang từ đồng vắng). Sư tử là chúa tể của sơn lâm, của các loài động vật trên đất. ĐCJC hành đạo với lời giới thiệu của Giăng Báp-tít, tiếng vang từ đồng vắng. Sau ba ngày trong mồ tối, Chúa sống lại khải hoàng
Lu-ca: bò. Bò là sinh vật tượng trưng cụ thể nhất cho mọi loài sinh vật được thuần phục bởi loài người. Bò cũng là của tế vật chuộc tội. Tượng trưng cho sự hy sinh chuộc tội cho loài người.
Giăng: chim ưng. Chúa tể của các loài vật trên không. Sau khi sống lại, Ngài thăng thiên về trời cùng Đức Chúa Cha. Cánh Ngài che phủ, bảo vệ cho dân sự.
TÊN GỌI VÀ DANH XƯNG CHÚA
Mỗi người đều có một tên. Tên được cha mẹ chọn đặt để có thể nói lên hy vọng về tính tình, phẩm hạnh của một người. Khi nghe người tên Tuyết thì nghĩ người đó là phái nữ, trắng trẻo, đẹp đẻ. Khi nghe tên Lan thì nghĩ đến sắc đẹp như bông lan, đẹp cách đài cát, sang trọng và nở rộ lâu dài. Nghe tên Dũng thì nghĩ đến người anh dũng, can đảm…
Tên của các nhân vật trong KT cũng được chọn với ý nghĩa. Trước khi được ĐCT đổi tên thì Áp-ra-ham có tên là Áp-ram, có nghĩa là người cha đáng quí. Sau đó được đổi là Áp-ra-ham, có nghĩa là cha của nhiều người. Hay vợ ông, trước đó có tên là Sa-rai hay công chúa, hoàng hậu. Sau đổi thành Sa-ra, mẹ của các dân tộc.
Có người hỏi vậy tên Jêsus có nghĩa gì? Jêsus hay Joshua, có nghĩa là ĐCT cứu (God saves), là một tên rất phổ thông và quen thuộc trong vòng người Do Thái. Và từ Christ có nghĩa là Đấng chịu xức dầu, hay một danh xưng, chứ không phải là họ của Chúa. Vậy từ Jêsus Christ có nghĩa là Jêsus, Đấng Cứu Rỗi. Các tín đồ đầu tiên dùng hai chữ Chi (kai – X) và Rho (rhô – P) để làm dấu tượng trưng cho Christ, Đấng Cứu Rỗi với hai mẫu tự đầu tiên và cuối cùng là Alpha và Omega để nói về Đấng từ đời đời cho đến đời đời. [2 hình ví dụ]
Bên cạnh danh xưng Christ, Đấng được xức dầu, Đấng được ĐCT chọn thì KT còn có trên 50 danh xưng khác. Sau đây là một vài danh xưng, một số chúng ta thường dùng để gọi Ngài trong mùa Giáng Sinh: Đấng Mê-si, Đấng Cứu Rỗi, Chúa Bình An, Ê-ma-nu-ên, Sự Sáng Lớn, Đấng Lạ Lùng, Đấng Mưu Luận, ĐCT Quyền Năng, Cha Đời Đời, Chiên Con Thượng Đế, Sự Sống Lại và Sự Sống, Sư Tử chi phái Giu-đa, Chồi của vua Đa-vít, A-đam thứ hai, Vua muôn vua Chúa muôn chúa… []
PHÚC ÂM THEO MÁC
Nếu Ma-thi-ơ chủ yếu nói về ĐCJC như Đấng ứng nghiệm lời hứa đã được báo trước và tiên tri từ ngàn xưa, thì trọng tâm của Mác về ĐCJC là người đầy tớ chịu thương khó (the suffering servant).
Ma-thi-ơ, tác giả PA Ma-thi-ơ là một trong 12 sứ đồ của ĐCJC. Trong 3 năm trời Ma-thi-ơ có dịp theo Chúa, nghe những lời giảng dạy của Ngài, chính mắt thấy những phép lạ Chúa thực hiện và có cơ hội để bàn bạc, thảo luận với các sứ đồ khác về những điều đã nghe, thấy, học từ Chúa. Trái lại, Mác không phải là sứ đồ của ĐCJC. Trái lại Mác có thể được xem là tín đồ thế hệ thứ hai. Đặc biệt đây là một tín đồ có lúc vấp ngã, xa xút trong bước đi với Chúa và hầu việc Ngài. Mẹ của Mác là người tin Chúa, sinh sống tại thành Jêrusalem. Mác là cháu của Ba-na-ba, một nhân vật vô cùng quan trọng trong lịch sử hội thánh và đặc biệt trong cuộc đời của sứ đồ Phao-lô. Vì chính Ba-na-ba đã giới thiệu PL cùng các sứ đồ tại thành Giê-ru-sa-lem sau khi ông tin Chúa.
Trong cuộc truyền giáo thứ nhất cùng với PL và B., khi đến một thành phố thì Mác bỏ hai người mà về lại Jerusalem: Phao-lô với đồng bạn mình xuống thuyền tại Ba-phô, sang thành Bẹt-giê trong xứ Bam-phi-ly. Nhưng Giăng lìa hai người, trở về thành Giê-ru-sa-lem. (CV 13:13) Chính vì lý do này mà trong chuyến truyền giáo thứ hai, PL và Banaba tranh cải dữ dội đến nỗi mỗi người đi một đàng vì B. muốn đem theo Mác nhưng PL thì nhất định không thuận.
Nhưng theo lá thư viết cuối đời của PL thì Mác trở lại hầu việc Chúa và là người hầu việc hữu ích. Chúa lại ban cho ông cơ hội và vinh dự để viết lại về cuộc đời của ĐCJC.
Chúng ta hỏi làm sao Mác biết về cuộc đời của ĐCJC mà ghi lại? Mác ghi lại theo lời kể của sứ đồ Phierơ. Sách Mác ghi lại rõ hơn hết về những hành động, lỗi lầm, vi phạm và sự từ chối Chúa của Phierơ hơn 3 PA kia. Mác chắc cảm thông được sự vi phạm, lầm lỗi, đồng cảm với sự ăn năn, hối hận và với cố gắng để hồi phục lại niềm tin của các tín hữu cùng làm việc của Phierơ vì chính ông cũng đã vi phạm và trải qua.
Bài học hết sức quí báu cho chúng ta là ĐCT của chúng ta là ĐCT ban cho cơ hội để ăn năn, thay đổi, để bắt đầu lại. KT cũng nhắc dạy kẻ đầu có thể nên cuối và kẻ cuối nên đầu là vậy!
Đối tượng của Mác là người ngoại, dân đế quốc La-mã nói tiếng Hy-lạp. Sách chú trọng nhiều về các công việc và hành động của ĐCJC. Nếu Ma-thi-ơ bố cục sách với 5 phần về các câu chuyện về cuộc đời của ĐCJC xen giữa 5 bài giảng như 5 sách đầu tiên của CU, thì Mác chủ yếu tập trung, chú trọng vào những hoạt động của Chúa.
PA Mác bắt đầu với những lời sau: Đầu (bắt đầu, the beginning)Tin Lành của Đức Chúa Jêsus Christ, là Con Đức Chúa Trời. Như đã chép trong sách tiên tri Ê-sai rằng: Nầy, ta sai sứ ta đến trước mặt ngươi, Người sẽ dọn đường cho ngươi. Có tiếng kêu trong đồng vắng rằng: Hãy dọn đường Chúa, Ban bằng các nẻo Ngài (1:103). Không hề có gia phổ, nguồn cội, cũng không có câu chuyện về giáng sinh, hay về thời niên thiếu của ĐCJC. Hình ảnh bắt đầu của Mác là một Jêsus Christ bắt đầu hành đạo, giảng lời Chúa. Và từ đó trở đi Mác ghi lại từ hành động này của Chúa đến hành động khác.
Trong một bộ chuyện thiếu nhi nổi tiếng của CS Lewis là Chronicle of Narnia (gồm 7 quyển), có một con sư tử tên Aslan, là một vai duy nhất xuất hiện trong suốt cả 7 quyển sách. Aslan là hình ảnh của ĐCJC. CS Lewis viết về Aslan: he rushes on and on, never missing his footing, never hesitating.
Có lẽ CS Lewis tái tạo nhân vật Aslan theo hình ảnh ĐCJC trong Mác. Chỉ trong đoạn 1 chúng ta xem bao nhiêu hành động của Chúa: Chúa chịu báp-tem (1:9-11); cám dỗ trong đồng vắng (1:12-13); tuyên bố về nước trời (14-15); kêu gọi các môn đồ đầu tiên (16-20); giảng dạy và chửa bệnh cho người bị tà ma ám trong nhà hội (21-28); chửa bệnh cho bà nhạc của Phierơ (29-31); chửa bệnh cho nhiều người bị quỉ ám (32-34); giảng tại các làng và nhà hội vùng Galilee (35-39); chửa lành người phun cùi (40-45) .
Mác cũng viết về mục vụ của ĐCJC trong nhiều vùng khác nhau: Ca-bê-na-um vùng biển Galilê (1:21), Galilê (1:39); xứ Đê-ca-bô-lơ (5:20); Na-xa-rét (6:1); xứ Ghê-nê-xa-rết (6:53); thành Ty-rơ và thành Si-đôn (7:24); xứ Đa-ma-nu-tha (8:10); làng Bết-sai-đa (8:22); thành Sê-sa-rê Phi-líp (8:27); xứ Giu-đê và thành Jêrusalem (10:1, 32).
Ước tính có 40 cảnh khác nhau từ núi đến xa mạc, từ ruộng lúa đến đồng cỏ, từ sông đến biển, từ thuyền đến nhà hội, từ trong nhà đến ngoài trời. Cả thời gian và không gian đều thay đổi nhanh chóng theo hành động của ĐCJC trong Mác.
Một điều quan trọng trong Mác là xung đột. Một câu chuyện hấp dẫn đều có xung đột giữa nhân vật trong chuyện. Xung đột trong Mác xảy ra giữa ĐCJC và ma quỉ, ĐCJC và các thầy thông giáo, những người chức sắc, có thẩm quyền, và cũng cả với thiên nhiên (khi Ngài bảo im trên biển).
Một từ lập đi lập lại bao nhiêu lần trong sách Mác là ngay lập tức, tức thì hay vừa khi. Chỉ trong đoạn 1 có ít nhất 11 lần Mác dùng từ này (10, 12, 18, 20, 21, 23, 28, 29, 30, 42, 43). Ít nhất từ này được dùng trên 40 lần trong sách Mác! Một đặc điểm khác là Mác dùng động từ theo thì hiện tại khi kể lại một câu chuyện thay vì thì quá khứ. Ít nhất 151 lần Mác dùng thì hiện tại trong các câu chuyện!
Mục đích của từ vừa khi, lập tức và việc dùng thì hiện tại để tả hành động là để nói về sự khẩn trương, quan trọng, rằng thời gian của ĐCJC trên đất vô cùng ngắn ngủi. Vì vậy chúng ta cũng cần khẩn trương mà lắng nghe, nhìn hiểu, học lấy những điều Ngài thực hiện, những lời Ngài dạy dỗ, kẻo không sẽ qua đi.
CÁC NGƯƠI NÓI TA LÀ AI?
Ba câu hỏi chủ yếu để biết rõ hơn về Đấng chúng ta tin. Thứ nhất chúng ta cần phải biết Jêsus là ai. Thứ hai Chúa đến thế gian để làm gì. Và thứ ba Chúa muốn tôi và quí vị làm gì. Mác 8:27-38 giúp trả lời 3 câu hỏi này.
Hai đoạn KT trước đó trong Mác 8, ĐCJC hỏi các môn đồ: Đức Chúa Jêsus đi khỏi đó[làng Bết-sai-đa, nơi Chúa chửa người mù được sáng mắt] với môn đồ mình, đến trong các làng gần thành Sê-sa-rê Phi-líp. Dọc đường, Ngài hỏi môn đồ rằng: Người ta nói ta là ai? Thưa rằng: Kẻ thì nói là Giăng Báp-tít; người thì nói là Ê-li; kẻ khác thì nói là một trong các đấng tiên tri. Ngài hỏi: Nhưng các ngươi thì nói ta là ai? Phi-e-rơ thưa rằng: Thầy là Đấng Christ. (8:27-29)
Chúa hỏi họ nhưng các ngươi nói ta là ai? Người ta nói về Chúa thế này, thế nọ nhưng chính tôi và quí vị nói Ngài là ai? Đây là một câu hỏi hết sức quan trọng bởi vì niềm tin vào Chúa không phải là niềm tin từ cha mẹ, anh chị em, hay niềm tin theo truyền thống, gia đình, nhưng là niềm tin cá nhân. Quan trọng hơn nữa bởi vì sự hiểu biết của mỗi chúng ta về ĐCJC là ai sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hai câu hỏi kế tiếp: Chúa đến để làm gì và Chúa muốn tôi làm gì?
Một số đông trong dân chúng thời bấy giờ mong mỏi một đấng cứu tinh đến để giải thoát họ ra khỏi sự thống trị của đế quốc La-mã. Họ mong đợi một đấng cứu tinh về kinh tế, chính trị, xã hội. Tâm linh là điều cuối cùng họ nghĩ đến trong hoàn cảnh nghèo khó, tủi nhục đó. Cũng như biết bao nhiều người khác họ tin rằng có thực mới vực được đạo!
Khi nhìn thấy các phép lạ Chúa thực hiện, gồm cả phép lạ hóa bánh và cá cho trên 5000 người ăn, khi nghe lời giảng sâu sắc, dân chúng muốn Chúa Jesus là người sẽ cứu họ ra khỏi sự thống trị của đế quốc La-mã. Giăng 6:15 cho biết Những người đó thấy phép lạ Đức Chúa Jêsus đã làm [bánh, cá cho 5000], thì nói rằng: Người nầy thật là Đấng tiên tri phải đến thế gian. Bấy giờ Đức Chúa Jêsus biết chúng có ý đến ép Ngài để tôn làm vua, bèn lui ở một mình trên núi. (Giăng 6:14-15)
Mỗi dân tộc, giống người, mỗi gia đình, cá nhân đều có những nhu cầu và mơ ước. Và thường con người muốn Đấng chúng ta tin tưởng, tôn thờ phù hợp với nhu cầu và mơ ước của mình. Khi có chiến tranh, chúng ta muốn ĐCT là Đấng bên phía mình, giúp mình thắng cuộc. Khi có nan đề kinh tế, chúng ta muốn ĐCT là Đấng phù hộ, ban phước cho cá nhân, gia đình… Dân chúng thời bấy giờ cũng có những nhu cầu, mơ ước và họ muốn một ĐCT, một thượng đế cứu họ, giúp họ thoát khỏi sự đô hộ, cai trị của đế quốc La-mã.
Mỗi thế hệ, thời đại có khuynh hướng diễn tả, phóng đại hình ảnh ĐCT theo nhu cầu và ước muốn cụ thể. Thời đại 1960, 70 là thời đại của phong trào hippie, những thanh niên, thiếu nữ để tóc dài, sống phóng khoáng, tự do về tình dục, dùng các loại thuốc kích thích như LSD, cần sa, ma túy, thời gian của những đại nhạc hội gồm hàng trăm ngàn thanh niên thiếu nữ đến dự, sống cuồng loạn, không giới hạn. Cũng trong thời gian đó một số thanh niên thiếu nữ hippie tin Chúa. Và hình ảnh của ĐCJC cũng mang dáng vẻ như những người hippie: tóc dài, với dấu hiệu phản chiến, yêu người nghèo, chống kẻ giàu.
Cũng vậy tại các xứ Nam Mỹ, hình ảnh của Jêsus là một anh hùng dân tộc, giải thoát họ ra khỏi sự bóc lột của các cường quốc mạnh hơn, đem lại sự tự do, thịnh vượng kinh tế, thay đổi xã hội nghèo khó hiện đang sống. Hình ảnh họ thường dùng là hình ảnh ĐCJC vào đền thờ, lật đổ bàn của những người buôn bán trong đền thờ để nói lên cách mạng, giải phóng. Hay màu đỏ của cách mạng khi vẽ về Jêsus. Thậm chí mô tả Ngài là một chiến sĩ cách mạng!
Ngay trong cả chính trị tại HK cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa cũng muốn dùng Jesus để biện hộ cho chính sách, đường lối mình. Một hình phổ biến trên Facebook có tính cách mỉa mai với về những người tin Chúa theo đảng Cộng Hòa. Hình về một gia đình vợ chồng, hai con trai và gái, giàu có, ăn mặc rất lịch sự, sang trọng, tề chỉnh đến nhà thờ và dòng chữ viết là: Church: where Republicans go to worship a long-haired socialist hippie who condemmed the rich and told people to pay taxes. Đồng thời có biết bao nhiêu tín đồ theo đảng Cộng Hòa tin chắc rằng ĐCJC không thể nào có thể ủng hộ chính sách, đường lối của đảng Dân Chủ vì họ đả phá tôn giáo, chủ trương phá thai, đồng ý với hôn nhân đồng tính…
Đây là điều hết sức nguy hiểm. ĐCJC không thuộc đảng nào, theo chính sách nào của loài người hay là biểu tượng của một thời đại, thế hệ với những nhu cầu, ao ước, khát vọng cụ thể. Bởi vì hình ảnh, hiểu biết về ĐCJC là ai bị chi phối, lệch lạc bởi nhu cầu và ước muốn của con người. Mọi người muốn hình ảnh Chúa thích hợp với hình ảnh mình đang theo đuổi, ước nguyện!
Tuy nhiên Chúa đến không phải để giải quyết mọi nan đề về kinh tế, chính trị, xã hội, nhưng về tâm linh. Đây là điều khiến cho nhiều người trong chúng ta thất vọng, nản lòng và không tin Chúa.
Chúng ta mong tìm đến ĐCT để được phước. Phước trước hết cho cuộc đời vật chất trước mắt, hiện tại này. Cho những nhu cầu vật chất của thể xác, của gia đình. Tâm linh là điều trừu tượng, xa xôi quá. Ai cần đến những điều đó khi bụng đói, khi đau yếu, khi bị hà hiếp, bắt bớ!
Chính vì lý do này mà sau khi Phierơ trả lời Thầy là Đấng Christ, Chúa dặn các môn đồ: Đức Chúa Jêsus bèn cấm ngặt môn đồ chớ nói sự mình cùng ai hết. Để dân chúng khỏi hiểu lầm rằng Đấng Christ này sẽ đem đến rượu và bánh, đem đến tự do khỏi La-mã cho họ.
NGÀI ĐẾN ĐỂ LÀM GÌ?
Hai đoạn KT trong Mác, 8:30-33 và 10:45 giúp trả lời cho câu hỏi quan trọng này.
Và ngay sau đó Ngài khởi sự dạy môn đồ rằng Con người phải chịu khổ nhiều, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo loại ra, phải chịu giết, sau ba ngày phải sống lại. (8:30)
Rồi ĐCJC giải thích cho họ mục đích chính Chúa đến thế gian: Bấy giờ, Ngài khởi sự dạy môn đồ rằng Con người phải chịu khổ nhiều, phải bị các trưởng lão, các thầy tế lễ cả, và các thầy thông giáo loại ra, phải chịu giết, sau ba ngày phải sống lại. (8:31)
Những lời này nghịch lý lẽ với sự nhận xét của cả đoàn dân, và cả các sứ đồ (những người thật sự biết rõ về ĐCJC). Chúa đang được rất nhiều người mến chuộc vì phép lạ Ngài thực hiện, vì những lời dạy như người có uy quyền. Tại sao Chúa lại nói Ngài phải chịu khổ nhiều (không phải chỉ một chút rồi qua đi nhưng nhiều), bị những người có uy thế, quyền lực, chức sắc loại ra sau đó bị giết! Lời Chúa chắc chắn khiến cho các môn đồ hết sức ngạc nhiên, sửng sốt và khó tin.
Chính vì vậy mà ngay sau khi nghe những lời giải thích từ ĐCJC rằng Ngài đến để chịu chết, Phi-e-rơ gọi ĐCJC ra riêng mà can gián Chúa: Phi-e-rơ đem Ngài riêng ra, mà can gián Ngài. Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại ngó môn đồ, và quở Phi-e-rơ rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta. (8:31-33)
Phản ứng của Chúa với lời Phi-e-rơ hết sức mạnh mẽ. Ngài quở trách ông với lời làm rất ngạc nhiên: Nhưng Đức Chúa Jêsus xây lại ngó môn đồ, và quở Phi-e-rơ rằng: Hỡi quỉ Sa-tan, hãy lui ra đằng sau ta; vì ngươi chẳng nghĩ đến việc Đức Chúa Trời, song nghĩ đến việc người ta. (8:33)
Chính vì lý do này mà chúng ta gọi ĐCJC là Đấng chịu thương khó. Và Mác nhấn mạnh với người nghe, người đọc về sự thương khó này. Nếu không có sự thương khó thì sẽ không có sự cứu chuộc.
Nếu chúng ta có thể hiểu lầm, hiểu sai về ĐCJC là ai, thì chúng ta chắc cũng có thể hiểu lầm về lý do Ngài đến. Phi-e-rơ đã hiểu lầm mục đích Chúa đến thế gian. Ông tưởng ông yêu quí Chúa nên cản Ngài đừng để bị bắt, chịu thương khó, chịu chết trên thập tự giá.
[Câu chuyện về sự thương khó và chịu chết trên thập tự giá của ĐCJC được Mác ghi lại 1/3 sách.]
Theo những lời dạy Chúa đến để chịu chết trên thập giá cho tội lỗi loài người. Một điều thật trái với suy nghĩ phổ thông: ĐCJC đang nổi tiếng, ngày càng được nhiều người biết đến, mến mộ, kính trọng vì chửa người bệnh được lành, hoá bánh cho ngàn người ăn, giảng những lời hết sức ý nghĩa, chưa bao giờ nghe được vậy; tại sao lại nói đến việc chịu chết trên thập giá. Chẳng phải thập giá là hình phạt chỉ dành cho những tử tội phạm tội ác tầy trời như giết người, nổi loạn hay sao? Chúa làm gì mà phải chịu chết trên thập giá? Chính vì vậy mà Phierơ can gián Chúa!
Hai đoạn KT trong Mác giúp chúng ta hiểu mục đích của ĐCJC đến thế gian: Mác 8:31-33 và Mác 10:45: Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người.
Trong câu 8:30 và 10:45 ĐCJC dùng 3 cụm từ đáng để chúng ta dừng lại suy nghiệm:
1. Con người. Đây là một danh xưng đặc biệt trong KT CU từ Đa-niên 7: Ta lại nhìn xem trong những sự hiện thấy ban đêm, nầy, có một người giống như con người đến với những đám mây trên trời; người tới đến Đấng Thượng Cổ và bị dẫn đến trước mặt Ngài. Người được ban cho quyền thế, vinh hiển, và nước; hầu cho hết thảy các dân, các nước, các thứ tiếng đều hầu việc người. Quyền thế người là quyền thế đời đời chẳng qua đi, và nước người không bao giờ phải hủy phá. (7:13-14) Theo Đa-ni-ên, hình ảnh con người tượng trưng cho một nhân vật được quyền thế, phép lực từ chính ĐCT để cai trị mọi dân. Đây là một danh xưng của một nhân vật được tôn quý, một lãnh đạo. Nhưng ĐCJC lại dùng chính danh xưng này, không phải để nói về sự cai trị, nhưng về sự chịu thương khó như trong Ê-sai 53.
2. Con người phải chịu khổ. Tại sao phải? Để tiên tri được ứng nghiệm. Để tội lỗi chúng ta được cứu. Chúng ta thường làm những điều mình thích, mình muốn, điều người ta khen tặng. Nhưng ĐCJC làm điều phải làm cho mục đích Ngài đến thế gian.
3. Phó sự sống mình làm giá chuộc. Và trong Mác 10:45, Chúa lại nói về sự hầu việc và phó sự sống mình để làm giá chuộc cho nhiều người. Từ này nói về sự mua lại, chuộc lại như khi một người đi cầm một vật giá trị nào đó phải được mua lại, chuộc lại bằng một giá trả. Điều này cũng nói lên một ý vô cùng quan trọng: Tội lỗi chúng ta không thể tự trả hết nhưng phải được chuộc trả qua chính sự chết và huyết đổ của ĐCJC trên thập tự giá. Vậy hình ảnh thập tự giá, với Chúa là một trừng phạt khủng khiếp mà Ngài tự nguyện mang lấy. Nhưng với chúng ta mang một ý nghĩa khác: thập tự giá đem đến sự cứu chuộc tội lỗi.
Hình ảnh chủ yếu và quan trọng nhất theo PA Mác là hình ảnh ĐCJC như người đầy tớ chịu thương khó. Hai hình ảnh quan trọng giúp cho chúng ta nhớ về ĐCJC theo Mác là hình ảnh Chúa rửa chân cho các môn đồ và hình ảnh thập tự. Hai hình ảnh này tóm gọn trong Mác 10:45 Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người.
Với trên 50 danh xưng, có thể nào ĐCJC, Đấng chúng ta tin tưởng, tôn thờ lại có thể được nghĩ như một người đầy tớ chịu thương khó? Nhưng chính Tin Lành theo Mác ghi lại hình ảnh này về ĐCJC. Hai điều chính yếu và quan trọng nhất theo chính lời Chúa trong câu KT trên là hầu việc người ta và phó sự sống làm giá chuộc.
Lý do ĐCJC nhắc dạy những lời này cùng các môn đồ vì có hai người trong họ hỏi xin ngồi bên hữu và tả của Chúa (giữ chức vị quan trọng nhất bên cạnh Chúa) khiến cho 10 sứ đồ khác nổi giận. Chúa không trách móc họ hay nổi giận với họ nhưng dạy họ rằng họ không hiểu mục đích Chúa đến thế gian để làm gì: để hầu việc con người và để phó sự sống làm giá chuộc tội!
CHÚA MUỐN CHÚNG TA LÀM GÌ?
Câu hỏi thứ ba là ĐCJC muốn những người theo Ngài làm gì? Câu trả lời cũng rất khó để nghe, huống chi đến chấp nhận và làm theo. Theo Mác 8:34-37: Đoạn [sau khi quở trách Phierơ], Ngài kêu dân chúng và môn đồ, mà phán rằng: Nếu ai muốn theo ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo ta. Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta và đạo Tin Lành mà mất sự sống, thì sẽ cứu. Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Hay là có người nào lấy chi mà đổi linh hồn mình ư?
Khi Chúa dạy những lời này, thập tự giá không phải là hình ảnh, tượng trưng cho sự nhân từ, bác ái như hội chữ thập đỏ (red cross) hay như đồ trang sức trên cổ. Không, thập tự giá là biểu tượng cho sự trừng phạt kinh khủng nhất, tàn nhẫn nhất dành cho những người phạm tội tày trời. Vậy tại sao Chúa dạy phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo. Ma-thi-ơ 16:24, Lu-ca 9:23, 14:27 nhấn mạnh việc vác thập giá mỗi ngày!
Lời dạy này có nghĩa là để tìm sự sống chúng ta phải chịu chết trong Chúa. PL giải thích thế này: Nhưng Đức Chúa Trời đã chọn những sự dại ở thế gian để làm hổ thẹn những sự mạnh; Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, để chẳng ai khoe mình trước một Đức Chúa Trời. Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta; hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa. (1 Cô-rinh-tô 1:27-31)
Thập giá vác theo Chúa thể hiện trong hai phương diện: quan hệ với Chúa, quan hệ với người chung quanh để đem họ đến với Ngài (đại mạng lệnh)
