Jêsus Christ – Ngôi Lời Ở Cùng Chúng Ta
Đối tượng, đọc giả của PA Giăng chủ yếu là người Giu-đa mới tin Chúa hay người đang tìm hiểu về Jesus Christ. Khác với 3 PA Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca có nội dung trùng hợp nhiều với nhau, Giăng có rất nhiều nội dung hoàn toàn khác biệt. Theo một học giả thì trong số 661 câu KT trong sách Mác, khoảng 90% nội dung đó cũng có trong sách Ma-thi-ơ, và khoảng gần 50% có trong sách Lu-ca. Tuy nhiên nội dung của sách Giăng chỉ có độ 10% giống với 3 sách PA kia. Nói cách khác 90% nội dung PA Giăng độc lập với 3 PA. [Giả thuyết về thứ tự và nguồn gốc của 4 sách Phúc Âm]
PA Giăng được yêu thích bởi cả tín đồ và người ngoại vì Giăng 3:16 và những câu chuyện và chỉ có trong sách Giăng như người đàn bà Sa-ma-ri tại giếng nước, Chúa tha thứ cho người phụ nữ bắt tội tà dâm, Chúa gọi Laxarơ sống lại.
Thử tưởng tượng một thế giới không tiếng nói, không ngôn ngữ, không âm nhạc. Một thế giới mà mọi người chỉ liên lạc với nhau bằng cử chỉ như nét mặt, cái gật đầu, diễn tả tình cảm, ý nghĩ bằng tay chân. Dĩ nhiên không ai muốn sống trong thế giới đó cả. Bởi vì ngôn ngữ, lời nói, các âm thanh, giai điệu trong âm nhạc phong phú và ý nghĩa ngàn lần hơn so với sự bày tỏ qua điệu bộ.
ĐCT chọn cách Ngài bày tỏ ý chỉ, dự tính cho loài người không phải chỉ qua thiên nhiên, vũ trụ dù có to lớn, vĩ đại, huyền bí đến mấy. Vì thiên nhiên không bày tỏ bằng ngôn ngữ loài người mà có thể qua toán học, vật lý, hoá học. Chúa cũng không chọn cách Ngài bày tỏ ý chỉ, dự tính cho loài người chỉ qua hằng triệu loài sinh động vật trên đất này, dù có bao nhiêu loài to lớn hơn, mạnh mẽ hơn, nhanh nhẹn hơn con người. Bên cạnh thiên nhiên vĩ đại nhưng im lặng, bên cạnh triệu loài sinh động vật đa dạng, đa hình, ĐCT chọn hai phương tiện thích hợp nhất với loài người để bày tỏ ý chỉ, dự tính, bày tỏ tình yêu thương và chương trình cứu rỗi: KT và ĐCJC.
Cũng chính vì vậy Phúc Âm theo sứ đồ Giăng gọi ĐCJC là Ngôi Lời. Bởi vì qua sự giáng sinh, cuộc đời và sự chết của ĐCJC, ĐCT bày tỏ, diễn đạt cách rõ nhất mục đích, ý chỉ, dự tính của Ngài cho loài người, bày tỏ sứ điệp về sự cứu rỗi. Qua ĐCJC, ĐCT nói với tất cả chúng ta Ta yêu thương con.
Khác với Ma-thi-ơ bắt đầu sách với gia phổ đến tận Áp-ra-ham, rồi về hài nhi Jêsus được các bác sĩ đến thăm viếng; Mác bắt đầu với hình ảnh của ĐCJC đã trưởng thành, lúc khoảng tuổi 30, bắt đầu hành đạo; Lu-ca bắt đầu với câu chuyện giáng sinh, Giăng bắt đầu với hình ảnh ĐCJC từ trước vô cùng, trước khi trời đất được dựng nên, trước khi thời gian hiện tại bắt đầu.
Giăng viết: Ban đầu có Ngôi Lời [Thiên Ngôn], Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi đã làm nên mà không bởi Ngài.(1:1-3) Từ ban đầu đây không phải nói về một thời gian trong dòng lịch sử loài người. Cũng không nói về thời gian từ khi trời đất vũ trụ được tạo dựng ra mà từ trước vô cùng. Giăng xác nhận sự hiện hữu của ĐCJC từ trước vô cùng. ĐCJC ở cùng với ĐCT từ trước vô cùng bởi vì Ngài là cũng là ĐCT: - có Ngôi Lời – xác nhận sự hiện hữu của ĐCJC từ trước vô cùng
- ở cùng ĐCT – xác nhận sự độc lập, một ngôi thể khác với ĐCT
- là ĐCT – xác nhận ĐCJC và ĐCC cùng ĐTL là một.
- muôn vật bởi Ngài làm nên – xác nhận quyền sáng tạo muôn loài của ĐCJC
PL xác nhận rõ những điều Giăng viết về Ngôi Lời trong thư gởi cho hội thánh Cô-lô-se: Ấy chính Ngài là hình ảnh của Đức Chúa Trời không thấy được, là Đấng sanh ra đầu hết thảy mọi vật dựng nên. Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả. Ngài có trước muôn vật, và muôn vật đứng vững trong Ngài. (Cô-lô-se 1:15-17)
Danh hiệu Ngôi Lời còn cho biết một điều khác quan trọng. Tất cả những lời dạy của ĐCJC là lời của ĐCT cũng như KT là lời của ĐCT. Và cả hai không có sự mâu thuẫn. Chúng ta có thể nói biết ĐCJC là biết ĐCT với hai ý:
1) biết phẩm hạnh, tính chất, thể hiện của ĐCT. Đây chính là ý nghĩa của 1:14 khi Giăng viết: Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật như vinh hiển của Con một đến từ nơi Cha.
2) biết ý muốn, dự tính, mong ước của ĐCT. Làm sao con người có thể biết, huống chi hiểu được ý nghĩ ĐCT? Nếu không nhờ Ngôi Lời. Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giải bày Cha cho chúng ta biết.
Bên cạnh danh xưng Ngôi Lời, một danh xưng quan trọng khác trong Giăng là Con Đức Chúa Trời (Son of God). 15 lần danh xưng này được dùng trong Ma-thi-ơ, 8 lần trong Mác, 10 trong Lu-ca, nhưng Giăng đến 25 lần. ĐCT trong Giăng được gọi là Cha gần 100 lần!
Giăng nêu ra những tương phản rõ rệt giữa ánh sáng, bóng tối; sự thật, dối trá; sự sống, sự chết, yêu thương, thù ghét; tin tưởng, không tin. Những từ ngữ sau đây được lập đi lập lại trong sách: tình yêu thương, sự thật, sự sáng, bóng tối, thế gian, thấy, nhìn, biết, tin tưởng, tin nhận, sai đi, giờ điểm, vinh hiển, cha, con.
Nếu Ma-thi-ơ dụng ý bố cục sách PA với 5 bài giảng của ĐCJC xen giữa với 5 phần chuyện kể về công việc Chúa để tượng trưng cho 5 sách đầu KT, thì Giăng có thể cũng đã chủ ý chọn 7 phép lạ trong phần đầu của sách. Vì số 7 trong KT cũng là một con số đặc biệt mà người Do Thái đều hiểu. Số 7 nói lên sự trọn vẹn, sự hoàn tất như ĐCT sáng tạo trời đất, các loài vật trong 7 ngày (6 ngày và 1 ngày nghĩ), ngày thứ 7 là ngày nghĩ, ngày thánh. 7 phép lạ, 7 lời giảng, 7 lần nói Ta Là.
NGÔI LỜI LÀ ĐỨC CHÚA TRỜI
Giăng chủ yếu ghi lại 7 lời tự xưng vô cùng đặc biệt của ĐCJC: Ta là để khẳng định cùng người nghe, người đọc rằng Jesus Christ chính là ĐCT. Chính Ngài đã có từ trước vô cùng cùng ĐCT.
Theo KT CU, khi ĐCT hiện ra cùng Mô-se trong đồng vắng để gọi ông trở lại xứ Ai-cập lãnh đạo, Mô-se hỏi Chúa: Nầy, tôi sẽ đi đến dân Y-sơ-ra-ên, nói cùng họ rằng: Đức Chúa Trời của tổ phụ các ngươi sai ta đến cùng các ngươi; nhưng nếu họ hỏi: Tên Ngài là chi? thì tôi nói với họ làm sao? Đức Chúa Trời phán rằng: Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu (XEDTK 3:13-14)
Danh xưng Ta Là này nhằm mục đích cho người Giu-đa nghe Ngài hiểu rõ rằng chính Ngài là ĐCT. Điều này được Giăng viết rõ trong cuộc đối thoại giữa ĐCJC và những người Giu-đa: Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ. Người Giu-đa nói rằng: Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Áp-ra-ham! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta. Bấy giờ chúng lấy đá đặng quăng vào Ngài; nhưng Đức Chúa Jêsus đi lén trong chúng, ra khỏi đền thờ. (8:56-59)
7 lần trong sách Giăng ghi lại lời tuyên xưng của ĐCJC:
Ta là bánh của sự sống – 6:35 - Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát.
Ta là ánh sáng của thế gian – 8: 12 - Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.
Ta là cửa dẫn đến sự cứu rỗi – 10:9 - Ta là cái cửa: nếu ai bởi ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi; họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ.
Ta là người chăn chiên hiền lành – 10:11- Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình.
Ta là sự sống lại và sự sống – 11:25 - Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi.
Ta là đường đi, là lẽ thật, là sự sống – 14:6 - Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.
Ta là gốc nho thật – 15:1 - Ta là gốc nho thật, Cha ta là người trồng nho.
NGÔI LỜI, CÁC DẤU VÀ THƯƠNG KHÓ
PA Giăng được gọi là sách của các dấu, sách của thương khó (book of signs, book of passion/glory). Tại sao gọi vậy? Vì Giăng có thể chia là hai phần rõ rệt: 1-12 về các dấu và ý nghĩa các dấu; 13-21 về sự thương khó: bị phản, chịu bắt, tra tấn, đóng đinh trên thập giá và sự sống lại. Passion vì nói lên sự thương khó; glory vì kết thúc với sự Chúa sống lại.
Trong 12 đoạn KT đầu tiên Giăng chủ ý viết về phép lạ để cho độc giả (chủ yếu người Giu-đa) hiểu rằng Ngôi Lời chính thật là ĐCT. Mỗi phép lạ đều mang một ý nghĩa cụ thể và sâu sắc.
Nhiều người nghĩ rằng khoa học ngày nay giải thích được mọi hiện tượng thiên nhiên. Phép lạ, theo họ, chỉ là sự thiếu hiểu biết hay chưa biết được lý do của vấn đề. Tổng thống thứ 3 của HK là Thomas Jefferson lấy tất cả những đoạn KT trong TU về những phép lạ của ĐCJC, về sự sống lại và ngay cả những đoạn KT nói về Jesus như Trời. Ông gọi sách đó là Cuộc đời và đạo đức của Jesus Naraxơ.
Ai cũng mong thấy phép lạ. Tuần qua có một câu chuyện thật về một người đàn ông tên Walter Williams 78 tuổi. Gia đình tin rằng ông đã chết vì không có dấu tim đập hay hơi thở nên gọi nhà quàn đến lấy xác. Khi người ta chuẩn bị làm phẩu thuật để liệm xác thì thấy cơ thể nhúc nhít! Ông Williams đá vào bao đựng xác cho biết ông vẫn còn sống. Người giảo xác giờ tin rằng có thể pacmaker của ông đã ngừng làm việc rồi bỗng nhiên làm việc trở lại! Một phép lạ hay một chuyện hy hữu!
Dấu (Phép lạ) 1 (2:1-11): Chúa hóa nước thành rượu. Ý nghĩa của phép lạ này để nói lên một bắt đầu mới. Ngài biến nước là điều bình thường nhưng quan trọng cho đời sống trở nên một điều mới hơn, là cớ để chúng ta có thể ăn mừng như trong ngày vui hôn nhân, trong ngày lễ hội. Ngôi Lời đem đến bắt đầu mới của nước Trời, là cớ để mọi dân cùng chung vui. Tân Ước, lời giao ước mới, đem đến một khởi đầu mới, niềm vui mới.
Phép lạ 2 & 3 (4:43-54; 5:1-15): Chúa chửa lành bệnh cho con một người quan thị vệ được sống và cho người bại liệt đã 38 năm được đi. Ý nghĩa của hai phép lạ này nói lên quyền năng hồi phục, tái tạo đời sống đang hư hoại để đem lại đời sống mới: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, giờ đến, và đã đến rồi, khi những kẻ chết sẽ nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời, và những kẻ nghe sẽ được sống. Vì như Cha có sự sống trong mình, thì Cha cũng đã ban cho Con có sự sống trong mình vậy. (5:24-26)
Phép lạ 4 (6:1-13): Chúa hóa bánh cho 5000 người với 5 mẫu bánh và hai miếng cá. Sau khi nhìn biết phép lạ và nhận lấy bánh ăn, đoàn dân muốn ép Chúa làm vua của họ nhưng biết ý đó nên Bấy giờ Đức Chúa Jêsus biết chúng có ý đến ép Ngài để tôn làm vua, bèn lui ở một mình trên núi. (5:15). Sau đó với các môn đồ, Chúa giải thích cho họ về phép lạ này: Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi tìm ta chẳng phải vì đã thấy mấy phép lạ, nhưng vì các ngươi đã ăn bánh và được no… Bởi chưng bánh Đức Chúa Trời là bánh từ trên trời giáng xuống, ban sự sống cho thế gian. Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin ban bánh đó cho chúng tôi luôn luôn! Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta là bánh của sự sống; ai đến cùng ta chẳng hề đói, và ai tin ta chẳng hề khát. (6:26, 33-35).
Phép lạ 5 (6:16-21): Chúa đi trên nước lúc sóng gió nổi lên, biển sao động mạnh mẽ. Rồi Chúa nắm tay Phi-e-rơ giúp ông đi trên mặt nước hồ đang dao động vì sóng và gió. Giăng muốn cho độc giả biết rằng Ngôi Lời có toàn quyền trên thiên nhiên vì chính Ngài là Đấng đã tạo dựng thiên nhiên. Sau khi Chúa vào thuyền cùng Phi-e-rơ thì sóng gió êm lặng. Ma-thi-ơ 14:33 phụ chú về kết quả của phép lạ này: Các người trong thuyền bèn đến quì lạy Ngài mà nói rằng: Thầy thật là Con Đức Chúa Trời!
Phép lạ 6 (9:1-41): Chúa khiến người mù từ khi sinh ra được sáng mắt. Ý nghĩa của phép lạ là chỉ có Ngài mới có thể mở con mắt tâm linh trước kia mù lòa để chúng ta được nhìn thấy ánh sáng của sự cứu rỗi. Chúa giải thích cho các môn đồ: Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống. (8:12) Đức Chúa Jêsus bèn phán rằng: Ta đã đến thế gian đặng làm sự phán xét nầy: Hễ ai chẳng thấy, thì thấy; còn ai thấy, lại hóa mù. (9:39)
Phép lạ 7 (11:1-44): Chúa khiến La-xa-rơ sống lại sau 4 ngày trong mộ. Ý nghĩa của phép lạ này là chính Ngôi Lời là sự sống và sự sống lại. Ngôi Lời chính là Đấng Tạo dựng sự sống như Giăng đã viết trong lời mở đầu sách nhưng Ngài cũng là Đấng sẽ khiến cho người tin Ngài sống lại dù đã chết. Đây chính là niềm hy vọng lớn lao cho người tin Chúa. Nếu không có sự sống lại thì niềm tin của chúng ta vào Chúa cũng vô nghĩa như PL viết cho hội thánh Cô-rinh-tô. Nếu không có sự sống lại thì làm sao có sự phán xét trong ngày cuối khi những kẻ gian ác phải ứng hầu trước Chúa và người công bình sẽ được yên hưởng phước đời đời. Ngôi Lời phán: Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng? (11:25-26)
Dù có quyền năng khiến người chết sống lại câu chuyện cũng cho chúng ta thấy về ý nghĩa Ngôi Lời ở giữa chúng ta. Ngài là người với xương thịt, cảm xúc, với sự phẩn nộ khi thấy điều bất công, yêu thương với người Ngài gần gũi và cảm động khi mất người mình yêu mến.
7 phép lạ, nhưng tại sao gọi là các dấu? Bởi vì những phép lạ này thật sự là dấu để chỉ cho người thấy, người nhận về Ngôi Lời, để hiểu về Ngài là Đấng đem đến một bắt đầu mới với giao ước mới đem đến niềm vui mới. Là Đấng có quyền năng đem lại đời sống mới cho người đau bệnh trong tội lỗi. Là Đấng có quyền trên thiên nhiên vũ trụ. Là Bánh Hằng Sống, Nước Đời Đời, Sự Sống và Sự Sống Lại.
Phép lạ thứ 7 qua việc Chúa khiến Laxarơ sống lại được lập lại qua chính sự sống lại của Đấng Christ sau khi chịu chết trong mồ tối 3 ngày. Ứng nghiệm chính lời phán của Ngài. Chính sự sống lại đó đem đến cho các môn đồ rượu mới, niềm vui mới.
Tuy nhiên ĐCT không chọn phép lạ để cứu rỗi nhân loại. Dù phần đầu của Giăng viết về 7 phép lạ với ý nghĩa cụ thể về Ngôi Lời, sự cứu rỗi chỉ đến qua sự thương khó, chịu chết trên thập giá của ĐCJC. Đây là một sứ điệp vô cùng quan trọng. Hai câu KT vô cùng quan trọng trong Giăng cho biết ý này.
Vả, dẫu Ngài đã làm bấy nhiêu phép lạ trước mặt chúng, họ cũng không tin Ngài, (12:37)
Đức Chúa Jêsus đã làm trước mặt môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách nầy. Nhưng các việc nầy đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống. (20:30-31)
Nhiều người không tin Chúa cho dù cho thấy bao nhiêu phép lạ trước mặt họ!
Hai mục đích của phép lạ, đặc biệt những phép lạ đã được Giăng ghi lại: 1) để tin rằng ĐCJC là Con ĐCT, Ngôi Lời là ĐCT, 2) nhờ danh đó mà được sự sống. Hai điều này liên hệ trực tiếp. Không tin Chúa thì không thể cậy danh Ngài. Không tin Chúa thì không có sự sống đời đời!
Lời chứng đưa đến đức tin. Đức tin đưa đến sự sống. 3 giai đoạn: biết, tin, sống.
