Hy Vọng Vinh Hiển Trong Chúa
KT dạy chúng ta nhiều phẩm tính biểu lộ của ĐCT: Ngài là Đấng toàn năng, toàn tri, toàn thiện, toàn mỹ, ĐCT của tình yêu thương, giàu lòng nhân từ, chậm nóng giận, mau làm ơn, hay thương xót, nhưng còn là ĐCT của hy vọng. Như PL viết trong thư Rô-ma: Vậy xin Đức Chúa Trời của sự trông cậy, làm cho anh em đầy dẫy mọi điều vui vẻ và mọi điều bình an trong đức tin, hầu cho anh em nhờ quyền phép Đức Thánh Linh được dư dật sự trông cậy! (Rô-ma 15:13). Từ trông cậy trong BTT cũng được dịch trong tất cả các bản hiện đại là hy vọng.
Hy vọng là một yếu tố vô cùng quan trọng cho đời sống đạo của người Cơ Đốc và cho cả mọi người trên đất này. Có người nói: một người có thể sống 1 vài tuần không thức ăn; 1 vài ngày không nước uống; nhưng không ai có thể sống 1 phút mà không có hy vọng.
Bài giảng về hy vọng trong Chúa trong vài tuần tới sẽ dựa vào đoạn KT chúng ta đã nghe đọc từ thư Ê-phê-sô 1. Ba phần: 1) Tại sao hy vọng trong Chúa của người Cơ Đốc quan trọng; 2) Hy vọng vinh hiển trong Chúa là gì? 3) Hy vọng vinh hiển trong Chúa thay đổi đời sống tín đồ
TẠI SAO HY VỌNG TRONG CHÚA QUAN TRỌNG
Trước hết câu 1 của thư có từ các thánh đồ. Từ thánh đồ có một ý nghĩa khác với ý phổ thông nhiều người thường nghĩ, đặc biệt theo HTCGLM. Trong HTCGLM, thánh đồ là một người hoàn toàn thánh khiết vượt trội trên mọi người so về phẩm hạnh, đạo đức, phục vụ, và được HTCG phong chức thánh. Nhưng trong KTTU, từ thánh đồ có nghĩa là người được biệt riêng, không phải do công đức nhưng bởi ân điển khi được Chúa cứu.
Đây là ý của lời ĐCJC dạy các môn đồ trong đêm cuối: Con vì họ tự làm nên thánh, hầu cho họ cũng nhờ lẽ thật mà được nên thánh vậy. (Giăng 17:19). ĐCJC không cần trở nên thánh khiết hơn vì Ngài đã hoàn toàn thánh khiết. Chúa muốn dạy rằng Chúa biệt riêng chính Ngài cho việc cứu tội trên thập giá để những người được cứu cũng sẽ được biệt riêng ra cho ĐCT.
Vậy mỗi người thật sự tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa đời sống là thánh đồ, và mỗi thánh đồ là người tin Chúa. Bởi vì người tin Chúa dù ở trong thế gian, nhưng không còn thuộc về thế giới nhưng thuộc về ĐCT.
12để chúng ta, những người đầu tiên đặt hi vọng trong Đấng Christ, ca ngợi vinh quang của Ngài. Câu KT này dạy rằng người Cơ Đốc là người đặt hy vọng trong Đấng Christ. Một người trở nên người trong Chúa khi họ đặt hy vọng vào Chúa. Hy vọng nơi Chúa là bắt đầu của một đời sống mới, của sự tái sanh. Chúng ta không phải là người tin Chúa nếu không đặt hy vọng nơi Chúa.
Nhưng chỉ vài câu sau đó, PL lại cầu nguyện cho các thánh đồ: Tôi cũng xin Ngài soi sáng con mắt của lòng anh em, để anh em biết niềm hi vọng mà Chúa đã gọi anh em đến là gì, sự phong phú của cơ nghiệp vinh quang Ngài trong các thánh đồ là thể nào (1:18) được Chúa soi sáng con mắt của lòng để biết niềm hy vọng mà Chúa đã gọi. Câu 12 PL giải thích một người không thể là người tin Chúa, tái sanh nếu không đặt niềm hy vọng vào ĐCJC. Tại sao PL lại cầu nguyện cho họ như trong câu 18?
Khi PL dùng từ con mắt của lòng ông muốn nói rằng cũng như mắt của thân phải được mở ra để có thể thấy ánh sáng thì mắt của lòng cũng cần được mở ra để có thể nhận biết cách trọn vẹn về hy vọng to lớn trong Chúa. Nhưng ai có thể mở mắt của lòng chúng ta? Chỉ có ĐTL của ĐCT. PL muốn nói với chúng ta: tôi muốn anh chị em được ĐTL mở lòng dạ, tâm linh để nhận được ánh sáng chói chan, sáng láng hơn cả ánh sáng của mặt trời về hy vọng trong ĐCJC; tôi không chỉ muốn anh chị em nghe, biết, hiểu nhưng thật sự cảm nhận cách sâu sa nhất trong tận đáy lòng về niềm hy vọng vô cùng quí báu, to lớn, đặc biệt này trong Chúa chúng ta.
Tại sao chúng ta cần ĐTL mở mắt của lòng để thật sự hiểu rõ về niềm hy vọng vinh hiển, vô cùng quí báu trong Chúa? Có 2 lý do: 1) Một lý do là vì định nghĩa của từ hy vọng; 2) Tất cả hy vọng của đời này rồi cùng phai tàn và cuối cùng tan biến mất.
Thứ nhất về định nghĩa của từ hy vọng. Khi chúng ta nói tôi hy vọng, chúng ta hàm ý mong mỏi một sự kiện trong tương lai có thể xảy ra. Không biết chắc: có thể có, có thể không. Tôi hy vọng sẽ tìm được việc làm tốt hơn. Tôi hy vọng sẽ gặp người bạn trai, bạn gái tâm đầu ý hợp. Tôi hy vọng hè này sẽ về VN chơi vài tuần. Tất cả những lời này nói về một điều trong tương lai có thể xảy ra hay có thể không xảy ra dù ý muốn chúng ta là điều đó sẽ xảy ra. Không chắc chắn.
Tuy nhiên đây không phải là ý nghĩa của hy vọng trong KT, trong thư viết của PL. Trước hết hy vọng trong Chúa gắn liền với đức tin: Đức tin là sự xác quyết về những điều mình đang hi vọng, là bằng chứng của những điều mình chẳng xem thấy. (Hê-bơ-rơ 11:1) Nói cách khác hy vọng trong Chúa là sự chắc chắn về tương lai ảnh hưởng đến đời sống hiện tại. Bởi vì chúng ta biết chắc chắn về tương lai vinh hiển trong Chúa nên chúng ta sống hôm nay với lòng vững tin, bình an.
Thứ hai bởi vì chúng ta nghĩ lầm hy vọng trong Chúa cũng như hy vọng trong đời này. Tất cả hy vọng trong đời này rồi chắc chắn sẽ phai tàn và cuối cùng tan biến mất. Khi còn nhỏ, ta mơ có một chiếc xe đạp mới. Mơ ước đó, hy vọng đó giúp trẻ em rán học điểm tốt, phụ làm việc nhà, rán sức làm việc để dành tiền. Ngày vui rạn rỡ khi được nhận chiếc xe đẹp mới toan, còn ngưởi được mùa sơn. Vài ba tuần sau đó, em nhỏ sống như trong mơ. Nhưng rồi theo thời gian, 6 tháng, 1 năm chiếc xe đạp ngày nào nâng niu như báu vật quí nhất đời nằm vất va, vất vưởng nơi góc nhà, thỉnh thoảng mới đụng đến khi cần đi đây đi đó. Qv nào có xe mới đắt tiền chắc cũng có thể liên hệ được điều này.
Mơ ước lớn nhất đời của thanh niên thiếu nữ là gặp được người mình yêu, người yêu mình. Ngày làm lễ hôn nhân tưởng như là ngày vui lớn nhất trong đời. Có lần tôi nhớ nói với một cậu thanh niên vừa lập gia đình: hôm nay em đó là người hạnh phúc nhất thế giới! Tuần trăng mật kéo dài vài ba tuần, dài lắm là một hai tháng rồi thực tế của đời sống ụp đến. Năm mười năm sau có khi nhìn thấy người mình mơ ước đó mà thầm nghĩ không biết tại sao ngày xưa mình lại dại khờ đến như vậy!
Siêu minh tinh Marilyn Monroe nhận xét về Hollywood, thành phố điện ảnh hàng đầu thế giới như sau: “Hollywood là nơi người ta sẽ trả cho bạn một nghìn đô-la cho một nụ hôn và năm mươi xu cho tâm hồn bạn. Tôi biết, bởi vì tôi đã từ chối lời đề nghị đầu tiên rất thường xuyên để giữ lại năm mươi xu”. Chính cuộc đời của bà cũng là một thảm kịch sau ba lần ly dị và kết thúc với sự tự kết liễu đời mình.
Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tài ba, thành công, tiếng tăm lừng lẫy, được hàng trăm ngàn người ngưỡng mộ, được bao nhiêu cô gái sẵn lòng kết bạn, giao lưu. Nhưng cuối cùng vẫn sống trong và với tuyệt vọng. Ông viết trong lời tự sự: Có những ngày tuyệt vọng cùng cực. Tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúm. Tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy Tuyệt Vọng đẹp như một bông hoa. Một bài hát quen thuộc Tôi Ơi Đừng Tuyệt Vọng có lời: Đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng. Lá mùa thu rơi rụng giữa mùa đông. Đừng tuyệt vọng, em ơi đừng tuyệt vọng. Em là tôi và tôi cũng là em.
Không có một hy vọng nào trong đời này tồn tại. Tất cả rồi sẽ phai tàn và cuối cùng tan biết mất. Sự chết chấm dứt tất cả hy vọng của đời này. Hễ tuổi càng cao chúng ta càng ý thức, kinh nghiệm rõ hơn sự thật đau lòng này. Khi tuổi càng cao, sức khỏe yếu kém, thân thể bệnh hoạn, con người càng hiểu rõ hơn về sự tạm bợ của hy vọng đời này. Vì vậy chúng ta cũng nhầm nghĩ hy vọng trong Chúa cũng như vậy.
Cảm tạ Chúa hy vọng trong Ngài không tạm bợ, phai tàn rồi mất đi. Trái lại theo thời gian, khi tuổi càng cao, khi càng kinh nghiệm nhiều thất bại, đau sót trong đời thì một người thật sự biết Chúa, được ĐTL mở mắt của lòng ngày càng quí báu hơn hy vọng trong Chúa. Trái với hy vọng đời này, hy vọng trong Chúa ngày qua ngày càng trở nên thật hơn, quí báu hơn, ngọt ngào hơn, to lớn hơn, giá trị hơn; và hy vọng đó là một điều chắc chắn, bảo đảm và sẽ không làm cho thất vọng.
Hy vọng trong Chúa ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày vì biết chắc điều gì sẽ nằm trong tương lai. Một ví dụ này giúp qv hiểu rõ ý quan trọng này về hy vọng trong Chúa. Có 2 người cùng làm một công việc hoàn toàn giống như nhau trong cùng một căn phòng, dưới cùng một ánh đèn, cùng một nhiệt độ. Công việc đó là gắn hai phần rời nhau với một con ốc. Ngày này qua ngày nọ 10 tiếng mỗi ngày cả 2 người đều làm công việc nhàm chán này. Nhưng một người làm hăng hái, phấn khởi, vui vẻ; người kia mệt mỏi, buồn chán. Lý do? Người làm việc hăng hái, vui vẻ là người được hứa sẽ nhận 10 triệu sau một năm làm công việc; người mệt mỏi, buồn chán được trả $15/giờ. Thật rõ điều gì xảy ra trong tương lai trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ, hành động.
Điều gì khiến qv cố gắng làm việc dù có mệt mỏi, chán nản trong ngày? Tôi sẽ xong việc làm rồi sẽ về nhà với chồng vợ, với các con, với bè bạn. Hy vọng vào tương lai quyết định thái độ, suy nghĩ, hành động trong thì hiện tại. Tuy nhiên hy vọng vào tương lai trong Chúa không phải chỉ cho cuộc đời này mà thôi, nhưng thật sự là cho một tương lai sau khi từ giả cuộc đời. Bởi vì sự chết là kẻ thù cuối cùng của tất cả mọi người không phân biệt sẽ cướp đi tất cả hy vọng trong đời sống dưới mặt trời này.
Tại sao hy vọng trong Chúa quan trọng? Bởi vì như lời PL giải thích: Nếu hy vọng của chúng ta trong Chúa Cứu Thế chỉ về đời này mà thôi thì chúng ta là những kẻ đáng thương hại hơn hết trong tất cả mọi người. (1 Cô-rinh-tô 15:19 – BM) Bởi vì mọi hy vọng trong đời này rồi sẽ phai tàn, cuối cùng tan biến. Bởi vì sự chết, kẻ thù cuối cùng sẽ cướp lấy tất cả mọi hy vọng trong cuộc sống dưới trời này.
HY VỌNG VINH HIỂN TRONG CHÚA LÀ GÌ
Ba điều chính yếu phân biệt hy vọng đời này và hy vọng trong Chúa: 1) Hy vọng trong Chúa không phải là sự mong mỏi, mơ ước nhưng là một thực tế chắc chắn; 2) HVTC không chỉ cho đời này nhưng cho đời sau trường cửu, vĩnh viễn; 3) Vì chính ĐCT hứa với con dân Ngài và bảo chứng bởi ĐTL.
1) Hy vọng trong Chúa không phải là sự mong mỏi, mơ ước nhưng là một thực tế chắc chắn
Khi chúng ta nói tôi hy vọng, chúng ta hàm ý mong mỏi một sự kiện trong tương lai có thể xảy ra. Không biết chắc: có thể có, có thể không. Hy vọng trong Chúa là sự chắc chắn về tương lai nên ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hiện tại. Bởi vì chúng ta biết chắc chắn về tương lai vinh hiển trong Chúa nên chúng ta sống hôm nay với hy vọng trong Chúa, với lòng vững tin, bình an. Tôi đã giải thích điều đầu tiên nên không lập lại.
2) Hy vọng trong Chúa không chỉ cho đời này nhưng cho đời sau trường cửu, vĩnh viễn
Nhiều người, cả tín đồ nghĩ rằng nếu tôi sống một đời sống đạo đức, cố hết sức để dâng hiến, phục vụ Chúa, lợi tức tôi sẽ được tăng, gia đình được phước, sức khỏe dồi dào, mọi điều xấu sẽ không xảy ra. Đây có phải là hy vọng trong Chúa hay không? Không, không, không. Hy vọng đó là hy vọng cho đời này, không phải hy vọng trong Chúa. Hy vọng trong Chúa không phải về những điều ngắn ngủi, tạm bợ trong đời sống trên đất này chấm dứt bởi sự chết. Trái lại, là hy vọng vinh hiển đời đời nơi thiên đàng.
Jonathan Edwards giải thích về hy vọng trong Chúa như sau: 1) Những điều xấu xảy ra cho người tin Chúa vẫn cuối cùng hiệp lại làm lợi ích; 2) Những điều tốt đẹp không thể mất như sự cứu chuộc, tình yêu thương của ĐTL, sự ban cho ĐTL… 3) Những điều tốt nhất vẫn chưa xảy ra. Sẽ xảy ra khi chúng ta về với Chúa nơi thiên đàng.
Hy vọng trong Chúa không phủ nhận những điều xấu xảy đến cho đời sống con dân Chúa. Có ai hoàn toàn thánh khiết, hoàn toàn vâng phục ĐCT như ĐCJC? Nhưng chính Ngài lại chịu nhận bao nhiêu mất mát, khổ đau. Trò không hơn thầy. Chính Chúa đã xác nhận với các môn đồ trong đêm cuối đời: Trong thế gian các người sẽ có hoạn nạn. Nhưng Chúa giải thích về hy vọng trong Ngài: nhưng hãy cứ vững lòng vì Ta đã thắng thế gian. (Giăng 15:33)
Vậy người tin Chúa không có ảo tưởng sẽ có một đời sống hoàn toàn hanh thông, thuận lợi. Trái lại, giữa những hoạn nạn, chúng ta mới tìm thấy giá trị và ý nghĩa của sự hy vọng vinh hiển trong Chúa. Hy vọng trong Chúa là hy vọng về một tương lai bảo đảm, chắc chắn hoàn toàn phước hạnh. Không còn có khóc than, đau đớn, tật bệnh vì mọi sự thứ nhất đã qua đi.
3) Vì chính ĐCT hứa với con dân Ngài và bảo chứng bởi ĐTL.
11Trong Chúa Cứu Thế, chúng ta cũng được chọn thừa hưởng cơ nghiệp, được tiền định theo chương trình của Đức Chúa Trời, Đấng thực hiện mọi sự theo mục đích Ngài muốn, 12để chúng ta, những người đầu tiên đặt hy vọng nơi Chúa Cứu Thế, ca ngợi vinh quang Ngài.
13Anh chị em được kết hiệp trong Chúa Cứu Thế khi nghe đạo chân lý tức là Phúc Âm đã cứu rỗi anh chị em và cũng ở trong Ngài sau khi tin, anh chị em được Đức Chúa Trời niêm ấn bằng Thánh Linh như đã hứa. 14Đức Thánh Linh là Đấng bảo chứng cho cơ nghiệp của chúng ta cho đến khi chúng ta nhận trọn sự cứu chuộc và ca ngợi vinh quang Ngài. (Ê-phê-sô 1:11-14 – BDM)
HY VỌNG VINH HIỂN TRONG CHÚA THAY ĐỔI ĐỜI SỐNG
Tôi xin đọc câu 14 theo bản dịch 2011: Ðức Thánh Linh là bảo chứng cho cơ nghiệp của chúng ta, trong khi chờ đợi những người thuộc về Ngài được cứu chuộc, để ca ngợi vinh hiển Ngài.
Trong 4 câu KT này có hai từ quan trọng giải thích về hy vọng vinh hiển trong Chúa: cơ nghiệp, bảo chứng.
Cơ nghiệp là gì? Tài sản lớn lao của một người tích lũy cả đời để tạo dựng. Cơ nghiệp còn có một ý nghĩa thứ hai là những điều quí giá nhất đối với một người. Hầu hết mọi người xem cơ nghiệp là tài sản, nhà cửa, đất đai, công xưởng, tiền bạc, vàng bạc, kim cương tích, chứng khoán, trương mục ngân hàng hay những bức tranh trị giá hàng trăm ngàn, triệu bạc. Tuy nhiên cũng có người xem cơ nghiệp của họ là con cái, chồng vợ, là cha mẹ, gia đình, những người thân yêu nhất trong đời. Chúng ta sẽ thấy đoạn KT từ câu 11-14 dùng hai từ cơ nghiệp theo cả 2 ý này.
Trong 4 câu KT này có 2 từ cơ nghiệp. Câu 11: 11Trong Chúa Cứu Thế, chúng ta cũng được chọn thừa hưởng cơ nghiệp, được tiền định theo chương trình của Đức Chúa Trời, Đấng thực hiện mọi sự theo mục đích Ngài muốn. Cơ nghiệp trong câu 11 là cơ nghiệp của ĐCT hứa ban cho con dân Ngài. Con dân Chúa không chỉ được tha thứ tội, được cứu chuộc, được nhận làm con trai con gái ĐCT nhưng còn được thừa hưởng cơ nghiệp vô cùng tận của ĐCT, Đấng Sáng Tạo muôn loài.
Từ cơ nghiệp thứ hai trong câu 14 theo BD2011: Ðức Thánh Linh là bảo chứng cho cơ nghiệp của chúng ta, trong khi chờ đợi những người thuộc về Ngài được cứu chuộc, để ca ngợi vinh hiển Ngài. Câu những người thuộc về Ngài thật ra là những người là cơ nghiệp của ĐCT.
Khi mới đọc qua hầu hết đều khó hiểu đoạn KT này. Thật đoạn KT này rất phức tạp và có ý nghĩa vô cùng sâu nhiệm. Nhưng tôi dùng một ví dụ đơn giản để giúp qv hiểu được ý nghĩa của đoạn.
Có lần tôi nói chuyện với một tín đồ rất thành công trong công việc làm ăn nhưng nói với tôi rằng cơ nghiệp, sự sản quí báu nhất đối với anh là các con. Vì vậy anh không hề tiếc tiền của cho các con mình. Dùng cơ nghiệp (tài sản đang có) để cho cơ nghiệp (các con anh thương mến nhất). Đây cũng chính là ý PL muốn nói với chúng ta: PL xác nhận trong câu 14, con dân Chúa là gia tài, sự sản, là sản nghiệp quí báu của ĐCT, là cơ nghiệp của Ngài. Và chính vì con dân Chúa là sự sản quí báu của Ngài nên Chúa sẽ ban cho họ tất cả cơ nghiệp, tức mọi điều Ngài có, mọi điều thuộc về Ngài. Chính bởi hai điều này mà hy vọng trong Chúa là một hy vọng vô cùng vinh hiển, to lớn, quí báu, giá trị hơn tất cả mọi hy vọng trong đời này. [Ví dụ nữ hoàng Anh Quốc hay tỉ phú Bill Gates nhận một trẻ mồ côi, tật bệnh là con nuôi, xem con ấy quí báu như con máu mủ và quyết định sẽ để lại cơ nghiệp lớn như cho đứa con yêu dấu nhất.]
Trong nhà qv có nhiều tài vật. Có những vật không đáng gì như cây kim, con ốc; có những vật đáng giá hơn nhiều như cái bàn, cái tủ; vàng vòng, nữ trang, của quí báu. Qv còn có gia đình, chồng vợ, con cái, cha mẹ, anh chị em. Giữa đồ vật và thân quyến, điều gì là cơ nghiệp của qv? Điều gì quí báu hơn hết đối với qv? Qv có thà chịu tốn kém trăm ngàn đồng để chửa bệnh cho người thân hay không? Hay như nhiều người có tiền nhưng không muốn tốn cho ai cả bởi vì họ xem trọng tiền của, tài sản hơn người thân?
ĐCT là Đấng Sáng Tạo muôn loài. Chúa là chủ của hàng tỉ tỉ tỉ tỉ thiên thể trong vũ trụ. Bạc là của Chúa, vàng là của Chúa. Chúa là chủ của ngàn đồi núi, chủ của đại dương bao la mênh mông với tỉ loài cá biển, chủ của không gian với vô số chim trời. Có tỉ tỉ tỉ phú gia nào trên thế giới này từ xưa đến nay giàu hơn Chúa chúng ta? Không ai cả. Vậy đó mà đối với Chúa, muôn vàn tinh tú, hàng triệu viên kim cương dưới lòng đất, hàng tỉ tỉ tấn dầu hỏa dưới lòng địa cầu không sánh bằng giá trị của con dân Ngài, là tôi và qv. ĐCT gọi chúng ta là cơ nghiệp quí báu của Ngài. Và chính vì Ngài yêu thương, quí mến chúng ta như báu vật lớn nên Chúa vui lòng ban cho chúng ta tất cả cơ nghiệp, sự sản, tất cả mọi điều Chúa có. Thật là một lời dạy diệu kỳ và cảm động.
Đức Giê-hô-va tỏ lòng yêu mến và chọn lựa anh em không phải vì anh em đông hơn mọi dân khác, thật ra anh em là dân tộc ít nhất trong các dân tộc. 8Nhưng vì yêu thương anh em và để giữ lời thề hứa với tổ phụ anh em mà Đức Giê-hô-va đã dùng tay quyền uy đưa anh em ra, cứu chuộc anh em khỏi nhà nô lệ và khỏi tay Pha-ra-ôn, vua Ai Cập. (PTLLK 7:7-8 – BHĐ)
ĐCT không chỉ nói với chúng ta rằng Ngài xem chúng ta là cơ nghiệp của Ngài. Chúa thể hiện điều đó qua hai hành động: Ngôi Hai ĐCJC hạ thế làm người, chịu chết để chuộc tội cho chúng ta + Ngôi Ba ĐTL là bảo chứng (đây là từ quan trọng thứ hai) Ðức Thánh Linh là bảo chứng cho cơ nghiệp của chúng ta, trong khi chờ đợi những người thuộc về Ngài được cứu chuộc, để ca ngợi vinh hiển Ngài.
Bảo chứng là gì? Những từ khác là thế chưng, tiền cọc, tiền bảo đảm. Khi qv mua một chiếc xe, một căn nhà, hay một món đồ đắt giá, qv phải chứng minh với người mua qv thật sự có lòng muốn mua vật đó qua tiền thế chưng. Thật khó cho chúng ta có thể tưởng tượng ĐCT yêu thương, quí báu con dân Ngài, những kẻ được chuộc bởi huyết ĐCJC đến nỗi dùng ĐTL là bảo chứng cho lời hứa rằng: Cả cơ nghiệp của Ta sẽ thuộc về con. Chính Ngôi Ba ĐCT là Đấng đảm bảo về lời hứa, về hy vọng kỳ diệu vô cùng này.
Hy vọng vinh hiển trong Chúa thay đổi cuộc đời người tin Chúa. Vì ĐCT xác nhận, cả quyết với những kẻ Chúa cứu chuộc, họ là cơ nghiệp, sự sản quí báu, là con ngươi của mắt Ngài. Ngôi Hai ĐCT xuống thế gian chịu chết cứu tội nhân. Không chỉ cứu tội nhưng còn ban cho Ngôi Ba ĐTL ngự với họ trong cuộc đời để dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, thay đổi. Chính sự ban cho của ĐTL là bảo chứng rằng tôi và qv là con dân rất yêu dấu của ĐCCha, là cơ nghiệp của ĐCT. Và vì chúng ta là con cái yêu dấu, là cơ nghiệp nên ĐCT vui lòng ban cho chúng ta tất cả cơ nghiệp vĩ đại, không tưởng hết được của Ngài nơi nước Trời vinh hiển. Tôi mong ĐTL cảm động lòng dạ, tâm tưởng qv để lời dạy này k làm cho lòng qv rung động, cảm xúc. Nếu hy vọng vinh hiển này không đem lại sự tin tưởng vào Chúa trong mọi cảnh ngộ đời sống, dù hoạn nạn, mất mát, thì có gì trong đời này có thể làm cảm động lòng qv để đến với Chúa buổi sáng hôm nay.
