Hy Vọng Vào Ân Sủng
Chúng ta sẽ tiếp tục loạt bài giảng Sống Như Đấng Đã Gọi dựa theo 1 P. 1:13-19. Bài giảng hôm nay về hy vọng vào ân sủng, hay ân điển ĐCT dựa theo 1 P. 1:13. Tôi xin được đọc 1P1:13-16
13Vậy, anh chị em hãy chuẩn bị tâm trí, bình tĩnh, đặt sự hy vọng hoàn toàn vào ân sủng sẽ được ban cho anh chị em [lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình - BTT] trong ngày Chúa Cứu Thế Giê-su hiện ra. 14Như con cái hay vâng lời, đừng làm theo những dục vọng lúc trước, khi anh chị em còn sống trong dốt nát. 15Nhưng như Đấng kêu gọi anh chị em là thánh, anh chị em phải nên thánh trong mọi cách sống mình. 16Vì Kinh Thánh chép rằng: “Các ngươi phải thánh, vì ta là thánh.” (1P 1:13-16 – BDM)
Sau khi giải thích ân phước lớn lao về sự cứu rỗi mà ĐCT đã ban cho con dân Ngài trong câu 1-12, P. dạy tín đồ phải sống thế nào để có thể giống như Đấng đã cứu họ. Trong câu 14, P. ví người tín đồ và ĐCT với quan hệ của cha con như con cái hay vâng lời. Con cái thì phải giống cha mẹ. Cũng vậy hễ là con cái của ĐCT, chúng ta phải giống Ngài. Một phẩm tính P. kêu gọi con dân Chúa phải giống Ngài là trong sự ăn ở thánh khiết.
Câu 13 nối liền đoạn KT từ 1-12 và 14-19. Câu 13 bắt đầu với từ vậy hay bởi vì lý do này. P. nói với người đọc thư rằng chính vì ơn phước lớn lao của sự cứu rỗi (câu 3-12 là một câu dài trong tiếng Hy-lạp), nên tín đồ cần sống như Đấng đã gọi họ, như Cha trên trời. Câu 13 theo bản dịch cũ: Vậy, anh em hãy bền chí như thể thắt lưng, hãy tiết độ, lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.
Bền chí như thể thắt lưng là gì? Thời đó trang phục nam nữ đều có áo dài bên ngoài. Nên khi cần làm việc gì cần dụng sức hay cần chạy, thì đầu tiên người ta phải vén vạc áo dài và buộc vào dây lưng để khỏi vướn tay chân. Vậy bền chí như thể thắt lưng là hãy vén tâm trí, không để vướn bận như khi người ta vén áo dài trước khi làm việc hay chạy. Tất cả các bản dịch mới đều dịch là hãy chuẩn bị tâm trí.
Vậy điều đầu tiên để có thể sống thánh khiết là phải chuẩn bị tâm trí. Bởi vì hành động, thái độ là kết quả, là phản ứng của suy nghĩ. Như một lời trích qv đã nghe qua: gieo một ý nghĩ, gặt một hành động; gieo một hành động, gặt một thói quen; gieo một thói quen, gặt một tính hạnh; gieo một tính hạnh, gặt một định mệnh.
Và một điều quan trọng P. dạy trong việc chuẩn bị tâm trí là người tin Chúa phải đặt trọn hy vọng vào ân điển của ĐCT. Hy vọng vào Chúa, chứ không phải hy vọng vào đời này. Hy vọng bài giảng sáng nay sẽ giúp qv nhớ và hiểu rõ hơn về lời P. dạy khi viết về sự quan trọng của việc Chúa sống lại: Nếu hy vọng của chúng ta trong Chúa Cứu Thế chỉ về đời này mà thôi thì chúng ta là những kẻ đáng thương hại hơn hết trong tất cả mọi người. (1 Cô-rinh-tô 15:19 – BDM).
Ba điều trong bài giảng này: 1) Hy vọng là gì? Tại sao hy vọng liên hệ đến việc chuẩn bị tâm trí để có thể sống theo, làm theo Đấng đã gọi, Cha trên trời của chúng ta? 2) Các quan điểm khác nhau của người đời về hy vọng. 3) Hy vọng vào ân sủng, hay hy vọng theo lời KT dạy.
HY VỌNG LÀ GÌ?
Một số định nghĩa của hy vọng như sau. Hy vọng là mong muốn điều gì tốt đẹp trong tương lai. Hy vọng là một sự trông chờ, ấp ủ niềm tin những điều mình mong muốn sẽ xảy ra trong tương lai, những điều này thường không nằm trong giới hạn khả năng của bản thân mà phụ thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh. Hy vọng diễn tả sự chờ đợi, sự mong mỏi, mong muốn điều gì đó theo ý của mình cho dù điều có thể xảy ra hay viễn vong.
Vậy theo tất cả các định nghĩa thì hy vọng liên hệ đến những điều người ta mong mỏi, mơ ước, chờ đợi trong tương lai. Liên hệ đến niềm tin của một người. Nếu không tin thì làm sao có hy vọng? Nên ngay cả người vô thần, không tin trời đất thì vẫn có một niềm tin tưởng, hoặc vào khả năng của họ, hoặc vào hoàn cảnh, môi trường, bè bạn.
Hy vọng có thể là những điều chúng ta tin rằng chắc sẽ xảy ra, thành tựu; hay có thể đó chỉ là những mơ ước vượt quá khả năng, giới hạn của mình. Đây là sự khác biệt giữa khi một người nói tôi hy vọng mọi người trong hội thánh sẽ chủng ngừa covid trong tháng 5 này và tôi hy vọng sáng mai thức dậy bệnh covid sẽ không còn. Câu đầu tiên nói lên một mong muốn có thể sẽ thành sự thật, nhưng lời thứ hai chỉ là thể hiện của một mơ ước tốt đẹp nhưng chắc sẽ không xảy ra.
Đây cũng là sự khác biệt giữa khi một người nói: tôi hy vọng sẽ nghĩ mát ở Hawaii năm tới và tôi hy vọng sẽ trúng số độc đắc. Việc đi Hawaii nằm trong khả năng, trong sự chuẩn bị, sắp xếp, dự tính nhưng việc trúng số độc đắc hoàn toàn ngoài dự tính, ngoài sự kiểm soát của tôi sau khi tôi mua vé số.
Không ai có thể sống nếu không có hy vọng. Khi một người tuyệt vọng, cuộc đời hoàn toàn mất đi ý nghĩa và mục đích cho dù có đầy đủ, thậm chí dư giả vật chất. Hy vọng ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai. Sống với hy vọng, ngày mai là ngày mà người mà mong mỏi sẽ đến nhanh chóng. Sống trong tuyệt vọng, ngày mai là ngày vô nghĩa như hôm qua và hôm nay.
Hy vọng không chỉ thể hiện những điều có thể xảy ra hay không thể xảy ra, nhưng hy vọng còn liên hệ trực tiếp đến thái độ trong thì hiện tại. 2 người cùng làm một công việc nhàm chán. Một người được hứa sau 1 năm sẽ được trả 10K. Người kia được trả 1triệu. Chắc chắn người được hứa trả 1M sẽ chấp nhận sự nhàm chán mỗi ngày khi nghĩ đến số tiền lớn cuối năm sẽ nhận. Nhưng người kia thì ngày mai, tháng tới cũng chỉ là mệt mỏi, chán chường. Cùng một hoàn cảnh, nhưng hai hy vọng, hai mong mỏi, hai mơ ước hoàn toàn thay đổi thái độ hiện tại hôm nay và ngày mai.
Theo các nhà nhân chủng học (tức những người nghiên cứu tìm hiểu về con người và xã hội họ sinh sống) thì tất cả các thế hệ từ trước nay đều tin rằng cuộc sống này không phải là duy nhất, nhưng sau cuộc đời này sẽ còn một cuộc đời nữa đằng sau sự chết. Có nghĩa là chết không phải là hết. Sau thời kỳ Khai Minh (Enlightment) và đặc biệt trong những xã hội theo chủ nghĩa duy vật, con người bắt đầu tin rằng vật chất là tất cả, không linh hồn, không thượng đế, thiên đàng hay địa ngục và hoàn toàn bác bỏ niềm tin vào ĐCT. Con người trong xã hội ngày nay, đặc biệt các nước Âu Châu và theo chủ nghĩa duy vật, cộng sản, thì tin rằng cuộc đời này là duy nhất, không có gì đằng sau sự chết. Niềm tin, suy nghĩ này ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống một người.
Nếu tôi không tin có đời sau, có sự phán xét trong đời sau thì tôi sợ gì ngoài sợ xã hội, con người đời này. Khi tôi làm sai tôi chỉ sợ người đời này biết, lên án, xử tội. Vậy tôi sẽ tìm đủ mọi cách để khỏi bị bắt trong đời này và nếu thoát thì tôi sẽ sống phè phởn, thoải mái, chẳng lo gì đến việc trời xử. Nhưng nếu tôi tin có sự phán xét của ĐCT trong ngày sau rốt, thì tôi sẽ không làm nhiều việc không phải chỉ vì sợ bị bắt đời này, nhưng còn sợ sẽ bị xử trong đời sau.
Đây là lý do mà KT qua lời P. dạy để sống như Đấng đã gọi, đầu tiên chúng ta phải biết, phải tin Đấng đó và sau đó phải cẩn thận chuẩn bị tâm trí để không tin vào điều sai lầm. Hy vọng hay những gì chúng ta mong mỏi, mơ ước trong tương lai, ảnh hưởng trực tiếp đến niềm vui, niềm tin, vào cách sống, vào giá trị chúng ta đặt trong đời sống.
Hy vọng vào vật chất, cuộc đời này là tất cả. Khi mất đi những gì chúng ta tạo dựng trong đời này, chúng ta mất tất cả. Chẳng có hy vọng gì sau khi trút hơi thở cuối cùng, khi thân xác này trở về với bụi đất. Sự chết phân rẽ chúng ta với những người mình yêu mến vì chẳng bao giờ gặp lại họ.
Hy vọng vào Chúa, khi mất vật chất, chúng ta vẫn còn hy vọng. Sự chết là một bắt đầu mới cho cuộc sống đời đời trên thiên đàng. Sự chết chỉ tạm thời chia cắt chúng ta với những người thương mến. Chúng ta sẽ gặp lại nhau nơi phước hạnh.
Qv có thấy sự khác biệt quan trọng giữa hai niềm hy vọng hay không?
CÁC QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP KHÁC NHAU VỀ HY VỌNG
Tôi xin nêu ra 5 quan điểm khác nhau về hy vọng. Sau khi tôi giải thích về các quan điểm khác nhau này về hy vọng, tôi tin qv sẽ hiểu rõ hơn về lời dạy của P. rằng chúng ta cần đặt hy vọng vào ân sủng ĐCT thay vì vào những điều trong thế gian, và đặc biệt thấm thía hơn về lời dạy của PL trong 1 Cor 15:19 Nếu hy vọng của chúng ta trong Chúa Cứu Thế chỉ về đời này mà thôi thì chúng ta là những kẻ đáng thương hại hơn hết trong tất cả mọi người.
Quan điểm thứ nhất theo một nhà thơ La-mã tên Horace: Không ai sống thỏa lòng. Có nghĩa là hy vọng như nước biển mặn; càng uống vào càng khát. Tất cả những điều chúng ta mơ ước, mong mỏi dù trở nên sự thật, cuối cùng cũng không thỏa mãn. Qv có đồng ý với quan điểm này không?
Quan điểm thứ hai theo một nhà văn hiện đại Wallace Stevens: Trong mọi sự thỏa lòng, tôi vẫn luôn ước ao một niềm vui, hạnh phúc nào đó không thể mất được. Nghĩa là hy vọng thật sự đem đến niềm vui, động lực để sống. Tuy nhiên niềm vui này không trọn vẹn, và rồi cũng sẽ mất đi hay vụt bay theo gió! Tôi nghĩ rằng tôi vui thỏa khi hy vọng thành tựu nhưng thật sự niềm vui đó cũng chỉ là tạm bợ, nhất thời. Không có gì trong đời này là trọn vẹn, trường cửu cả. Vì vậy không hy vọng nào thật sự đem lại sự vui thỏa trọn vẹn, trường cửu.
Quan điểm thứ ba theo một nhà soạn kịch người Na-uy (Norwegian) tên Henrik Ibsen: Khi lấy đi điều dối trá của đời (life lie), người ta sẽ mất hết mọi hạnh phúc. Điều dối trá của đời có nghĩa là những vật chất, món đồ chơi, những gì trong đời này làm cho người ta vui vẻ, thỏa lòng. Theo quan điểm này thì hạnh phúc trong đời hoàn toàn dựa vào những gì chúng ta mong ước được thành. Khi mất hết những điều đó, hạnh phúc cũng chấp cánh bay theo. Trong đời này, có gì vĩnh viễn, trường cửu? Vì vậy hạnh phúc trong đời, hy vọng về hạnh phúc trong đời cũng đều là tạm bợ, nhất thời, rồi sẽ mất đi.
Quan điểm thứ tư theo một nhà báo tên Cynthia Heimel viết cho tờ Village Voice, NY. Bà viết về một vào tài tử nổi tiếng bà biết trước và sau khi họ nổi tiếng. Trước đó đây là những người làm những nghề tạm bợ với hy vọng đủ sống qua ngày cho đến khi họ được khám phá và trở nên một người thành công, nổi tiếng. Đây là những người trước khi thành công phải làm một nghề tạm bợ như phải giữ cửa cho một phòng trà, hay bán mỹ phẩm trong mall. Sau này họ trở nên những ngôi sao điện ảnh sáng chói. Đây là những người bắt đầu thấp, hy vọng sẽ được khám phá, sẽ strike rich, strike famous, và cuối cùng đạt được những điều họ mơ ước, đạt được thành công, giàu có, nổi tiếng.
Bà viết: Điều khổng lồ mà họ cố đạt được, danh tiếng họ mơ ước để cuộc đời họ ý nghĩa, thỏa mãn, và hạnh phúc cuối cùng họ cũng đã đạt được. Và họ cũng không thay đổi gì. Họ vẫn là họ. Sự vỡ mộng khiến họ kêu gào và không chịu nổi đời sống… Khi Thượng Đế muốn chơi một trò đùa thực sự thối nát với bạn, Ngài ban cho bạn điều ước sâu sắc nhất và sau đó cười khúc khích khi bạn đột nhiên nhận ra rằng bạn muốn tự sát. (When God wants to play a really rotten practical joke on you he grants you your deepest wish and then giggles when you suddenly realize you want to kill yourself.)
Bà nói gì? Có nghĩa là sau khi hy vọng trở nên sự thật, sau khi đã thành công, nổi tiếng, những người này ý thức rằng cuộc đời của họ vẫn vô vị, vô lý, vô nghĩa như khi chưa thành công, chưa nổi tiếng, khi vẫn còn mơ ước, hy vọng. Trái lại chính hy vọng chưa đạt được là động cơ thúc đẩy họ cố gắng, là động cơ đem lại mục đích, ý nghĩa cho đời nhưng sau khi thành công, động cơ đó, mục đích đó cũng tan biến.
Quan điểm thứ năm theo một giáo sư đại học người Anh tên CS Lewis. Ông giải thích rằng hầu hết mọi người, nếu họ thật sự học nhìn sâu vào con tim mình thì sẽ biết rằng những điều mình mong mỏi, hy vọng, thật sự mong mỏi, hy vọng là những điều không có trong đời này.
Những khao khát nảy sinh trong chúng ta khi chúng ta lần đầu tiên yêu hoặc lần đầu tiên nghĩ đến một đất nước xa lạ nào đó hoặc lần đầu tiên tham gia một môn học nào đó khiến chúng ta phấn khích là những khao khát mà không hôn nhân, không du lịch, không học tập có thể thực sự thỏa mãn. Tôi không nói về những gì thông thường sẽ được gọi là những cuộc hôn nhân không thành công hay những chuyến đi, v.v. Tôi đang nói về những cái tốt nhất có thể. Luôn có một cái gì đó mà chúng ta nắm bắt được trong khoảnh khắc khao khát đầu tiên mà chỉ biến mất trong thực tế.
Người phối ngẫu có thể là một người phối ngẫu tốt. Phong cảnh tuyệt vời. Công việc tốt. Nhưng những điều đó đều rồi như trốn mất. Như bạn chưa bao giờ có nó. Tất cả những thứ đã từng chiếm hữu sâu sắc tâm hồn bạn đều chỉ là những gợi ý về một điều gì đó, những cái nhìn thoáng qua, những lời hứa không bao giờ hoàn thành, những tiếng vọng vụt tắt ngay khi chúng lọt vào tai bạn. Nhưng nếu nó thực sự trở nên hiển hiện, nếu có một tiếng vang nào đó không biến mất mà còn bùng lên thành âm thanh, bạn sẽ nói, "Cuối cùng thì đây là thứ tôi được tạo ra.
Ông muốn nói rằng với dù cho tất cả những mơ ước tốt đẹp nhất trở thành sự thật, thì chúng ta vẫn còn thấy thiếu xót, mong mỏi một điều gì đó khó mà diễn tả. Đó là chổ trống trong tâm linh, là một quê hương thật mà tác giả thư Hê-bơ-rơ viết: Nếu còn nhớ đến quê cũ là nơi họ đã ra đi, tất họ cũng có cơ hội trở về. 16 Trái lại, họ mong ước một quê hương tốt hơn, là quê hương ở trên trời, nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn khi được gọi là Đức Chúa Trời của họ vì Ngài đã chuẩn bị cho họ một thành phố (Hê-bơ-rơ 11:15-16 – BDM)
Có bao giờ qv hỏi: tại sao mọi người lại yêu thích chuyện thần thoại với kết luận là công chúa và hoàng tử sẽ sống với nhau hạnh phúc cho đến đời đời? Bởi vì đây là mơ ước sâu kín nhất trong tâm hồn, tấm lòng, con tim của mọi người có trái tim vẫn còn đang đập, lòng ngực vẫn còn đang thở. Bởi vì chúng ta ý thức, dù rõ ràng hay mơ hồ, rằng mọi hy vọng trên đất này, trong cuộc sống dưới trời này rồi cũng sẽ chấm dứt, hư hại, tan mất.
5 quan điểm khác nhau trên về hy vọng đến từ thực tế trong đời. Khi các tác giả nhận xét, quan sát, nghiên cứu những người phản ứng khác nhau khi hy vọng không có, hay không còn nữa.
Hầu hết những người trẻ tuổi tin rằng cuộc đời và những gánh nặng của cuộc đời đã làm cho những lớn tuổi, cho thế hệ trước đó trở nên bi quan, tách rời với thật tế đời sống. Họ khác, thế hệ của họ khác. Họ vẫn tin có một thiên đàng trên đất, nơi hy vọng của lòng họ sẽ được thành đạt. Và khi đó, họ sẽ luôn vui thỏa, hạnh phúc. Vẫn có một việc làm, vẫn có một tình yêu, một hôn nhân lý tưởng mà họ sẽ đạt được, cho dù người quan họ có bảo là không. Lý tưởng của tuổi trẻ là đây!
Nhưng những người lớn tuổi như tôi bắt đầu hiểu rằng: 1) Mọi hy vọng đều sẽ không thành đạt. Chắc chắn sẽ có thất bại; 2) Không một hy vọng nào trong đời này thỏa mãn hoàn toàn, tồn tại lâu dài; tất cả chỉ tạm bợ. Chúng ta sẽ không bao giờ có thể có một việc làm lý tưởng như mình thường nghĩ, không bao giờ có một hôn nhân lý tưởng tuyệt vời.
Khi ý thức được điều này, một số chấp nhận những thất vọng trong đời họ để sống qua ngày. Một số khác tiếp tục phấn đấu, đi tìm một hy vọng mới lý tưởng, trọn vẹn hơn. Một số khác trở nên cay đắng, phẩn nộ. Họ ghét mình, ghét người, ghét đời và ghét cả ĐCT. Đây là những người nghĩ rằng họ là nạn nhân khi không có được những điều họ mong mỏi, ước ao, hy vọng. Nạn nhân của cha mẹ, vợ chồng, anh chị em trong gia đình; nạn nhân của hoàn cảnh, xã hội. Tôi không hạnh phúc là bởi vì chồng tôi, vợ tôi, gia đình tôi, bởi HT, vì hoàn cảnh, xã hội, vì kỳ thị chủng tộc. Khi tôi mất đi hy vọng, không còn hạnh phục, đó là lỗi của ai đó. Hoặc giả là lỗi ĐCT!
Trước 5 quan điểm khác nhau trên về hy vọng, phương cách giải quyết là gì? Sau khi thất vọng về cuộc nghĩ mát, một công việc không như ý mình, chúng ta làm gì? Cách giải quyết đơn giản và phổ thông nhất là đi tìm một hy vọng mới: thay đổi địa điểm nghĩ mát, thay đổi công việc, thay đổi hôn nhân. Đây là lý do chính của các luật pháp ngày nay: đáp ứng nhu cầu, hạnh phúc cá nhân.
Hay như Phật giáo: mọi nan đề trong đời sống từ lòng ham muốn. Diệt ham muốn, diệt mọi sự đau khổ. Đâu phải mơ ước, ham muốn nào cũng sai quấy, tội lỗi? Cha mẹ mơ ước cho hạnh phúc con mình có gì là sai quấy, tội lỗi. Ai lại không mơ ước được sống trong một xã hội thịnh vượng, ấm no, hòa bình. Diệt hết đi mọi mơ ước, hy vọng thì còn gì ý nghĩa sống?
"Hễ yêu thì sẽ bị tổn thương. Yêu thương bất cứ điều gì, con tim của bạn chắc chắn sẽ bị vò xé và có thể tan vỡ. Nếu muốn giữ con tim mình hoàn toàn nguyên vẹn, bạn không nên trao nó cho bất cứ ai, ngay cả cho loài thú vật. Hãy gói tim mình một cách cẩn thận với vài thú vui, một chút xa hoa, hãy tránh tất cả những vướng víu tình cảm, rồi khóa nó an toàn trong quan tài của vị kỷ cá nhân. Trong quan tài ấy – an toàn, tối tăm, không động tĩnh, thiếu dưỡng khí, con tim bạn sẽ thay đổi. Nó sẽ không bao giờ tan vỡ, không bao giờ đau khổ, không bao giờ bị xâm nhập và cũng sẽ không bao giờ được cứu chuộc... Nơi duy nhất ngoài Thiên Đàng mà bạn có thể tuyệt đối an toàn bởi mọi nguy hiểm và sóng gió của tình cảm là Địa ngục".
Nếu mọi điều trong đời sống này chỉ là phù du, ảo ảnh, nếu hy vọng không lâu bền, không đem lại hạnh phúc, niềm vui thì một thái độ chọn lựa cuối cùng là tuyệt vọng. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết những lời sau đây về tuyệt vọng: Có những ngày tuyệt vọng cùng cực. Tôi và cuộc đời đã tha thứ cho nhau. Từ buổi con người sống quá rẻ rúm. Tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối trá. Tôi không còn gì để chiêm bái ngoài nỗi tuyệt vọng và lòng bao dung. Hãy đi đến tận cùng của tuyệt vọng để thấy Tuyệt Vọng đẹp như một bông hoa. (Lời tự sự Trịnh Công Sơn)
HY VỌNG VÀO ÂN SỦNG
Vậy, anh chị em hãy chuẩn bị tâm trí, bình tĩnh, đặt sự hy vọng hoàn toàn vào ân sủng sẽ được ban cho anh chị em trong ngày Chúa Cứu Thế Giê-su hiện ra. (1 Phi-e-rơ 1:13 – BDM)
Trước hết hy vọng vào ân sủng là hy vọng vào ĐCJC, sự chết, sống lại và lời hứa của Ngài. Hy vọng vào ân sủng dựa vào đức tin vào Chúa. Hy vọng này khác với hy vọng người đời vì dù dưới mắt người đời có thể dại khờ hay ảo tưởng, nhưng nếu lời Chúa đã dạy trong KT thì chúng ta tin và hy vọng.
Trước mặt Đức Chúa Trời, Đấng người đã tin, Đấng làm cho kẻ chết sống lại và định những điều chưa có như có rồi. 18Người vẫn tin trong hy vọng dù không còn gì để hy vọng, nên người trở thành cha của nhiều dân tộc như lời đã phán (Rô-ma 4:17-18)
Người tin lời KT dạy biết rằng thiên đàng trên đất chỉ là một mơ ước, mộng ảo không có thật vì không một hy vọng nào trong đời này thỏa mãn hoàn toàn, tồn tại lâu dài. Người tin Chúa thỏa lòng về những gì Chúa ban cho cuộc sống trên đất này, nhưng đặt hoàn toàn hy vọng của họ vào ân điển cứu rỗi và cuộc sống đời sau.
Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng, ấy là một lợi lớn. 7 Vì chúng ta ra đời chẳng hề đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được. 8 Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng; 9 còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. (1 Ti-mô-thê 6:6-9)
Không phải là tôi muốn nói đến sự cần dùng của tôi; vì tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy. 12 Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. (Phi-líp 4:11-12)
Vì tôi xác nhận rằng những sự đau đớn trong hiện tại không đáng so với sự vinh quang trong tương lai sẽ được bày tỏ cho chúng ta… 24 Trong niềm hy vọng đó chúng ta đã được cứu; nhưng hy vọng mà đã thấy rồi thì không còn là hy vọng nữa; vì điều gì người ta thấy thì còn hy vọng gì nữa? 25 Nhưng nếu chúng ta không thấy điều chúng ta hy vọng thì chúng ta tha thiết trông chờ trong kiên trì. (Rô-ma 8:18, 24-25 – BDM)
Hy vọng vào ân sủng là hy vọng rằng sau khi qua đời vì đã đặt trọn niềm tin vào sự cứu rỗi của ĐCJC, chúng ta sẽ ở đời đời nơi thiên đàng phước hạnh với Ngài. Là nơi mà KT viết: sẽ không còn có khóc than, bệnh tật, chiến tranh, cướp bóc, thù hận, đau khổ vì những sự thứ nhất trong đời này đã qua rồi. Đây là hy vọng của mỗi con tim, mỗi tấm lòng con người trước những thất vọng, khổ đau trong cuộc sống này.
