Hy Vọng Trong Nghịch Cảnh
Bài giảng sáng nay có tựa đề là Hy Vọng Trong Nghịch Cảnh dựa theo 1 Phi-e-rơ1:3-8: 3 Ca ngợi Đức Chúa Trời là Cha Chúa Cứu Thế Giê-su, Chúa chúng ta! Vì lòng thương xót lớn lao, Ngài đã cho chúng ta được tái sinh với đầy hy vọng sống nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su sống lại từ kẻ chết, 4 để thừa hưởng gia tài không thể bị phá hủy, không hư hoại hay phai tàn đã dành cho anh chị em trên trời, 5 là những người nhờ đức tin được quyền năng của Đức Chúa Trời gìn giữ cho sự cứu rỗi, là điều sẵn sàng để được bày tỏ trong thời cuối cùng. 6 Hãy vui mừng về việc này, mặc dù hiện nay anh chị em phải đau buồn vì bị thử thách nhiều bề trong ít lâu. 7 Mục đích là để chứng tỏ đức tin anh chị em quý hơn vàng, là vật có thể bị hủy diệt được thử trong lửa, để nhờ đó anh chị em được ngợi khen, vinh quang và tôn trọng khi Chúa Cứu Thế Giê-su hiện đến. 8 Anh chị em yêu kính Ngài, mặc dù không thấy Ngài, anh chị em tin Ngài dù hiện tại không thấy Ngài, nên anh chị em được tràn đầy niềm vui khôn tả và vinh quang rực rỡ, 9 vì anh chị em nhận được mục đích đức tin là sự cứu rỗi linh hồn anh chị em. (BDM)
Nghịch cảnh trong đời sống gồm hàng ngàn màu sắc, dáng vẽ, mức độ khác nhau. Nhẹ là những khó khăn tạm thời nhưng rồi có thể giải quyết được, như xe xẹp bánh phải thay bánh mới. Nặng hơn chút như bị mất cái bóp với drive license, và tất cả thẻ tín dụng. Nặng hơn là bị lấy mất tiền bạc, đồ đạc trong nhà. Nặng hơn nữa là được báo về một căn bệnh nan y hết sức khó chửa hay những hoạn nạn mất mát trong công ăn việc làm. Nặng hơn nữa là mất một người thân yêu trong gia đình.
Nghịch cảnh không chỉ là một khó khăn hay thất bại, nhưng có thể là những biến cố khiến qv không đạt được mục tiêu của bản thân và tìm thấy hạnh phúc. Điều này có thể bao gồm bất công xã hội và khó khăn của riêng bạn, như ốm đau hay mất mát. Những điều này có thể dẫn tới cảm giác tuyệt vọng và trầm cảm. Cuộc đời ai cũng đều sẽ phải đôi lần đối mặt với nghịch cảnh của chính mình.
Trong đoạn KT chúng ta đã đọc trong 1 Phi-e-rơ 1:3-9 không chỉ nói về những nghịch cảnh nhẹ, tạm thời nhưng thật sự là hoạn nạn. Thư 1P viết gởi cho tín đồ sinh sống tại nhiều nơi khác nhau trong vùng Tiểu Á mà P. gọi là những người kiều ngụ rải rác trong xứ Bông, Ga-la-ti, Cáp-ba-đốc, A-si và Bi-thi-ni. Một số học giả KT giải thích rằng thư được P. viết vào thời điểm mà đại đế La-mã Nê-rô bắt đầu cuộc khủng bố, bắt bớ người tin Chúa, như trong câu 4:12: Hỡi kẻ rất yêu dấu, khi anh em bị trong lò lửa thử thách, chớ lấy làm lạ như mình gặp một việc khác thường. Sứ đồ P. gọi những hoạn nạn, khó khăn, bắt bớ, thử thách trong đời sống tín đồ theo 4:12 là lò lửa thử thách. Ít nhất 15 lần trong thư, P. đề cập đến hoạn nạn, thử thách. Trong thư P. dùng 8 từ khác nhau khi viết về những hoạn nạn, thử thách.
Vào tháng 7, 64 thành La-mã bị thiêu hủy trong một vụ hỏa hoạn lớn. Theo các sử gia thì chính vua Nê-rô đã đốt thành. Nhưng vua lại đổ lỗi cho người tin Chúa và bắt đầu một cuộc thanh trừng vô cùng tàn khốc. Theo sử gia La-mã Tacitus, Nê-rô bắt người tin Chúa, tẩm dầu hắc cả người họ, rồi treo lên thập giá dọc 2 bên đường vào cung điện. Khi vua quan có yến tiệc vào buổi tối, thì họ đốt những cây đuốc người đó để làm sáng đường đi.
Vua Nê-rô cũng bắt người tin Chúa bỏ vào các đấu trường để họ bị giết bởi thú dữ. Tín đồ bị tù đày, bị treo cổ, ném đá, đốt, đánh đập, tra tấn đến chết. Nhiều người bị chiếm đoạt tài sản. Người thân trong gia đình họ bị bắt bớ, hạch hỏi, thậm chí tù đày, tra tấn. Sự bắt bớ, khủng bố bắt đầu từ thành La-mã rồi lan ra cả đế quốc. Đến cả các xứ ở vùng Tiểu Á. Tất cả chỉ vì họ tin Chúa.
Tín đồ thời đó trả giá đắt cho đức tin của họ vào ĐCJC. Và khi đối diện với thử thách, hoạn nạn, họ phải quyết định. Hoặc để cho đức tin họ bị lò lửa thử thách thiêu hủy, làm cho cháy rụi thành tro bụi. Hoặc lò lửa thử thách sẽ tôi luyện đức tin họ trở nên quí báu như vàng.
Mục đích của thư 1P này giúp cho người tin Chúa có thể giữ vững hy vọng, giữ vững đức tin trước lò lửa thử thách, dù khi lửa mới nhén lên hay đang bừng cháy dữ dội.
Nhiều người hỏi, gồm cả tín đồ, rằng tại sao ĐCT lại để cho nghịch cảnh, hoạn nạn, khổ đau, mất mát tiếp tục xảy ra trong thế gian này và cuộc đời người tin Chúa. Sự đau khổ trong đời sống là lý do khiến nhiều người phủ nhận sự hiện hữu của ĐCT và không tin Chúa. Tuy nhiên một sự thật trong đời sống là bao nhiêu nghịch cảnh, đau khổ, mất mát, hoạn nạn xảy ra bởi chính do một nguyên nhân, một nguyên nhân duy nhất: do chính chúng ta gây ra, do chính tội lỗi của chính chúng ta.
Khi đau khổ, chúng ta không chỉ có những câu hỏi muốn được trả lời hợp lý, nhưng hơn hết con tim chúng ta đau nhức, mong muốn được yên ủi. Câu hỏi về sự đau khổ trong đời, không chỉ cần một người thầy với phấn và bản, nhưng còn cần một bờ vai để có thể tựa đầu vào khóc, để được yêu thương, yên ủi. Vậy câu trả lời về đau khổ trong đời sống có ích lợi gì nếu chỉ gồm những lý lẽ khô khan. Lời sứ đồ Phi-e-rơ trong câu 11 xác nhận một điều quan trọng: làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Christ và về sự vinh hiển sẽ theo sau rằng sự vinh hiển gắn liền với hoạn nạn, đau đớn như trong chính cuộc đời ĐCJC.
Trong bài giảng hôm nay, tôi muốn dùng lời Chúa để xác nhận rằng trong Chúa chúng ta luôn có hy vọng dù trải qua những nghịch cảnh, hoạn nạn to lớn nhất. Hy vọng đó đem đến yên ủi cho con tim của người đang trong nghịch cảnh, đang trải qua những đau buồn. Hy vọng đó đến từ 3 điều: 1) Thập giá Chúa mang; 2) Thần Yên Ủi hay ĐTL Chúa ban cho con dân Ngài; 3) Hy vọng nước Trời qua sự Chúa sống lại.
THẬP GIÁ CHÚA MANG
KT dạy khổ đau là điều tất nhiên trong đời sống. Hễ còn sống là còn khổ. Vì hoạn nạn chẳng ra từ cát bụi, Và khổ nhọc cũng không nẩy mầm từ đất đai. 7 Nhưng con người sanh ra để đau khổ Như chớp lửa luôn bay xẹt lên cao. (Gióp 5:6-7 – BDM). Có người nói khỏi nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn em bé mới sinh ra đời bắt đầu bằng tiếng khóc. Qv có thấy em bé nào vừa sinh cười tủm tỉm?
Một cách chúng ta có thể nhận biết mình từ trẻ con thành người lớn là một ngày khi chúng ta đọc tờ dán sau xe (sticker): Cuộc đời đầy khó khăn rồi mình sẽ chết! (Life is hard; then you die) thì ý thức rằng: Đây không phải là lời bi quan, nhưng là thực tế đời sống. Chúng ta thay đổi từ suy nghĩ của trẻ con sang nhận thức người lớn khi bắt đầu hiểu rằng đời sống dưới trời này chắc sẽ có mất mát, hoạn nạn, đau khổ và khi chúng ta bỏ đi ý nghĩ dại khờ là đau khổ chỉ xảy đến cho người khác chứ không cho mình.
KT cho biết tội lỗi là nguyên nhân chính đưa đến đau khổ trong đời sống. KT dạy rõ rằng sau khi A-đam, E-va phạm tội cùng ĐCT, tội lỗi xâm chiếm lòng dạ, tư tưởng con người. Tội lỗi như cỏ dại mọc đầy trong tư tưởng, tình cảm. Rễ tội lỗi chằn chịt trong tâm linh như rễ cỏ dại.
Tội lỗi khiến cho Ca-in sinh lòng ghen tức với em mình là A-bên khi ĐCT nhận của lễ dâng của em, nhưng từ chối của lễ dâng của Ca-in. Rồi Ca-in nhẫn tâm giết chết chính em ruột mình A-bên. Tội lỗi nẩy sinh ra lòng tham lam, ghen tị, thù ghét, oán hận trong quan hệ. Vì ghen tị mà vua Sau-lơ tìm mọi cách để bắt giết Đa-vít trong suốt 10 năm dài. Bao nhiêu ngày đêm Đa-vít phải khổ đau chỉ vì lòng ghen tị vô cớ này của vua Sau-lơ. Tội lỗi đem đến thù hận, chiến tranh, người giết hại người, dân tộc này tiêu diệt dân tộc khác. Ai có thể kể hết bao triệu người đã mất mạng, gia đình tan nát, nhà cửa, làng xóm hủy diệt vì chiến tranh nảy sinh từ lòng thù hận, tham lam giữa dân này và dân khác.
Thật đúng như Gia-cơ giải thích: Bởi đâu có sự xung đột và bởi đâu có sự tranh chấp giữa anh chị em? Chẳng phải là do những dục vọng đang đánh nhau trong các chi thể của anh chị em sao? 2Anh chị em thèm muốn nhưng không có được. Anh chị em giết người và tham muốn nhưng không thể đạt được. Anh chị em tranh chấp và xung đột với nhau. (Gia-cơ 4:1-2 – BD2011)
Tội lỗi không chỉ xâm chiếm lòng dạ, tư tưởng con người như cỏ dại, gây bất hòa, thù oán giữa người. Tội lỗi cũng khiến cho thiên nhiên trở nên nghịch với loài người. Ánh nắng mặt trời ấm áp là nguồn sống cho muôn loài vật trên đất. Nhưng ánh nắng mặt trời cũng có thể thiêu đốt, tàn phá sự sống. Mưa gió đem lại nước mát, sự sống cho cây cối, các loài động vật trên đất. Nhưng mưa bão, lũ lụt gây vô số thiệt hại, khó khăn cho cuộc sống. Trong tuần qua hàng triệu người sinh sống trên xứ này cũng kinh nghiệm được nỗi khổ vì cơn lạnh tàn khốc làm cho mất điện, mất nước.
Khi đau khổ, phản ứng tự nhiên của con người là trách trời, trách người hay trách mình. Trách rồi sinh ra buồn giận, rồi quyết định không tin, bỏ Chúa. Đây là điều đầu tiên P. dạy, KT dạy chúng ta không nên làm. Không phải khi gặp đau khổ, chúng ta bỏ niềm tin vào ĐCT. Trái lại P. dạy người tin Chúa sẽ gặp thử thách, đau buồn trăm bề hầu cho đức tin càng nên mạnh mẽ, vững chắc, để có thể nhận được sự ngợi khen, vinh quang và tôn trọng trong ngày cuối khi gặp ĐCJC.
P. và nhiều nơi trong KT dạy hoạn nạn, thử thách không phải là cớ để chúng ta lui đi trong đức tin, để chúng ta hờn trách Chúa, hờn trách người. Trái lại thử thách là cớ để chúng ta càng nương cậy, tin tưởng hơn vào Chúa, vào gia đình, vào anh chị em trong hội thánh. Đau khổ có thể là cớ để đức tin thay đổi, càng mạnh mẽ, vững chắc hơn thay vì yếu đi hay mất đi. Hoạn nạn thử thách có thể giúp thay đổi tính hạnh, giúp chúng ta mềm mại, kiên nhẫn, nhân từ hơn thay vì phá hủy đức tin làm cho chúng ta trở nên cay đắng, chua chát, nghiệt ngã.
Nhiều tín đồ không oán trách Chúa, không bỏ Chúa khi gặp đau khổ. Nhưng hỏi Chúa nào nỡ vậy? Nếu Chúa yêu thương sao để những sự này xảy ra cho con, cho gia đình con, cho hội thánh con. Đây cũng chính là câu hỏi của P. khi ĐCJC nói với ông và các môn đồ rằng Ngài phải đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu nhiều đau khổ trong tay người DT, rồi cuối cùng chịu chết trên thập giá.
KT viết về phản ứng của P. khi nghe những lời này: Từ đó, Đức Chúa Jêsus mới tỏ cho môn đồ biết rằng mình phải đi đến thành Giê-ru-sa-lem, phải chịu tại đó nhiều sự khốn khổ bởi những người trưởng lão, thầy tế lễ cả, cùng thầy thông giáo, và phải bị giết, đến ngày thứ ba phải sống lại. Phi-e-rơ bèn đem Ngài riêng ra, mà can rằng: Hỡi Chúa, Đức Chúa Trời nào nỡ vậy! Sự đó sẽ không xảy đến cho Chúa đâu! (Ma-thi-ơ 16:22). ĐCT nào nỡ để Jesus phải chịu những khổ nhục như vầy!
Hơn 30 năm đã qua từ khi P. nói với ĐCJC rằng ĐCT nào nỡ vậy cho đến khi P. viết thư cho 1 P. gửi các tín đồ đang trải qua bao nhiêu thử thách, hoạn nạn, mất mát. Trong thời gian đó chính P. đã trải qua bao nhiêu thử thách, hoạn nạn, đau buồn vì tin Chúa, vì giảng Tin Lành, vì hầu việc Chúa. P. hiểu rằng những thử thách, hoạn nạn như lò lửa thử thách, rèn luyện đức tin. P. hiểu rõ hơn về ý nghĩa và giá trị của thử thách, của khổ đau trong cuộc đời người tin Chúa.
Khi P. dùng hình ảnh của lò lửa thử thách, tôi tin ông muốn nhắc các tín đồ về một câu chuyện quen thuộc trong sách Đa-ni-ên. Sau khi Đ. và hai bạn từ chối quì lạy tượng do vua Nê-bu-cát-nết-xa dựng, vua ra lệnh bỏ họ vào lò lửa hừng. Khi nhìn vào lò lửa hừng đang cháy đỏ, vua và quan không chỉ thấy 3 người, nhưng lại thấy thêm một người thứ 4 mà họ tả là hình dáng của người thứ tư giống như Con của Ðức Chúa Trời. (Đa-niên 3:25 – BDM). Chính ĐCJC cùng ở trong lò lửa thử thách với con dân Ngài.
Bây giờ, hỡi Gia-cốp! Đức Giê-hô-va là Đấng đã dựng nên ngươi, hỡi Y-sơ-ra-ên! Ngài là Đấng đã tạo thành ngươi, phán như vầy: Đừng sợ, vì ta đã chuộc ngươi. Ta đã lấy tên ngươi gọi ngươi; ngươi thuộc về ta. 2 Khi ngươi vượt qua các dòng nước, ta sẽ ở cùng; khi ngươi lội qua sông, sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn lửa chẳng đốt ngươi. (Ê-sai 43:1-2)
Trong thời ĐCJC, thập giá là biểu tượng của sự trừng phạt kinh khủng nhất của đế quốc La-mã cho những kẻ vi phạm tội trọng. Nhưng sau sự chết của ĐCJC, thập giá hôm nay trở nên biểu tượng của tình yêu thương, sự tha thứ, lòng nhân từ của ĐCT cho con người.
Thập giá Đấng Christ không trả lời mọi câu hỏi triết lý về sự đau khổ trong đời. Nhưng thập giá trả lời rất rõ cho thế gian này một điều chắc chắn: Sự đau khổ không phải vì ĐCT không yêu thương thế gian. Trái lại ĐCT gánh chịu nỗi khổ đau, tủi nhục cho tội lỗi con người. Đây là lý do tôi tin Chúa, tôi tin tin lành qua thập tự giá ĐCJC chịu chết.
Thập giá bày tỏ tình yêu thương của Chúa cho loài người ngay trong đau khổ. Người tin Chúa có thể cả quyết cách chắc chắn rằng khi họ đi trong trũng khóc than, trũng bóng chết, thì biết chắc rằng Chúa luôn ở cùng họ vì chính ĐCJC đã đi qua trũng khóc than, bóng chết để họ được cứu, được sống. Sự đau khổ là câu hỏi khó và lớn. Nhưng thập giá Đấng Christ là bằng chứng cụ thể, là câu trả lời cho những người hoài nghi về tình yêu thương của ĐCT cho loài người.
Không phải vì ghét bỏ con dân Ngài mà Chúa để chúng ta qua lò lửa thử thách. Nhưng trái lại vì tình yêu thương Chúa biết chúng ta cần được tôi luyện, thay đổi. Có những thay đổi chỉ có thể xảy ra trong thử thách. Đức tin trong lửa mới là đức tin thật sự và đáng quí trọng.
THẦN YÊN ỦI CHÚA BAN CHO CON DÂN NGÀI
Thập giá Chúa mang là bằng chứng cụ thể, là câu trả lời cho câu hỏi lớn và khó về sự đau khổ trong đời sống rằng ĐCT yêu thương con người, hy sinh cho con người. ĐCJC hiểu và cảm thông cho những người chịu thử thách, hoạn nạn, đau buồn vì chính Ngài đã trải qua những điều đó.
Câu trả lời thứ hai là qua chính sự ban cho của Ngôi Ba ĐCT tức ĐTL hay Thần Yên Ủi cho những ai tin nhận Ngài. Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta. 16 Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, 17 tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. (Giăng 14:15-17)
Trong đêm cuối đời, ĐCJC hứa cùng các môn đồ không để họ mồ côi. Khi Chúa đi, Ngài sẽ nài xin Cha ban cho họ một Đấng Yên Ủi, paraklētos. ĐTL ban cho chúng ta không chỉ để dạy dỗ chúng ta lẽ thật từ lời Chúa trong KT, để bẻ trách, sửa trị, nhưng cũng để khích lệ, yên ủi. Đặc biệt trong những lúc đau buồn, khi trải qua hoạn nạn, mất mát.
Thư 1P. viết gởi những tín đồ đang phải chịu đau buồn vì bị thử thách nhiều bề trong ít lâu. Theo BTT thì đây là những thử thách trăm bề, hay muôn vàn thử thách, từ trăm phía khác nhau. Thử thách xảy ra quá nhiều không đếm hết nỗi, quá đột ngột, mau chóng đến không kip thở! P. không hề vẽ một bức tranh màu hồng về cuộc đời người theo Chúa. P. xác nhận rằng những thử thách này đem lại nhiều đau buồn. Vậy KT không hề dạy khi chúng ta gặp hoạn nạn, mất mát chúng ta phải bình thản, dững dưng như một chuyện không đáng, hay phải can trường không bày tỏ cảm xúc sầu khổ, đau buồn. Trái lại KT dạy Hãy vui với kẻ vui, khóc với kẻ khóc. (Rô-ma 12:15).
Một ân tứ lớn lao và quan trọng trong HT Chúa là ân tứ khích lệ (khuyên bảo theo bản cũ). Ai gánh việc khuyên bảo, hãy khuyên bảo [parakaleō] (Rô-ma 12:8) Từ khích lệ là parakaleō, có nghĩa là gọi đến bên cạnh một người. Chúng ta muốn ai đến bên cạnh mình? Người chúng ta yêu thương, tín cẩn, người cảm thông, yên ủi chúng ta.
ĐTL là Đấng Yên Ủi, paraklētos. Đấng đến bên cạnh chúng ta để yên ủi, khích lệ, nâng đở khi đau buồn, khi than khóc. Nếu Ngôi Hai ĐCT bày tỏ tình yêu thương qua thập tự giá, Ngôi Ba ĐCT bày tỏ tình yêu thương qua sự hiện diện trong đời sống của người tin Chúa.
Một tín đồ người Nhật Bản tên Toyohiko Kagawa không lâu sau đệ nhị thế chiến khi Nhật phải đầu hàng vô điều kiện, được Nhật hoàng mời vào hoàn cung để giải thích về ý nghĩa của thập tự giá. Cuộc đời của Kagawa là bằng chứng về thay đổi qua thập tự giá.
Cha ông là một người có quyền thế và giàu có, bộ trưởng và cố vấn cho nhật hoàng nhưng mẹ ông là một gái hát geisha. Cha mẹ ông chết khi ông chỉ mới 4 tuổi và phải ở với mẹ ghẻ.
Khi đi học ông được một giáo sĩ HK hệ phái Trưởng Lão TS Harry Myers dạy về đạo Chúa. Sau khi nhận lễ Báp-tem tuổi 15, ông bị gia đình, họ hàng từ bỏ. Từ đó ông sống cuộc đời nghèo khó trong những khu vực bẩn thiểu nhất, giúp đở cho những người bần hàn nhất trong xã hội. Theo ông thì thập tự giá là biểu tượng cụ thể nhất của tình yêu thương, thập tự giá là trung tâm của niềm tin Cơ đốc.
Ông viết: Tôi biết ơn đạo Shinto, đạo Phật, và đạo Khổng. Tôi nợ 3 đạo giáo này rất nhiều… Tuy nhiên 3 đạo giáo này đã hoàn toàn không thể đáp ứng ước nguyện sâu kín nhất của tâm hồn, con tim tôi. Tôi là người hành hương trên cuộc đời dài lê thê, đăng đẳng mà không nơi quay đầu lại. Tôi đã hết sức mệt mỏi, kiệt sức, chân đau đớn. Tôi đi trong thế giới tối tăm, đau thương nơi những thảm cảnh dầy đặc. Nước mắt đã là thức ăn ngày và đêm… Phật giáo dạy về lòng nhân từ… Nhưng từ xưa đến nay có ai dạy như Jêsus: Vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đã đổ ra cho nhiều người được tha tội. (Matt 26:28).
HY VỌNG VỀ NƯỚC TRỜI QUA SỰ CHÚA SỐNG LẠI
Hãy vui mừng về việc này, mặc dù hiện nay anh chị em phải đau buồn vì bị thử thách nhiều bề trong ít lâu. 7 Mục đích là để chứng tỏ đức tin anh chị em quý hơn vàng, là vật có thể bị hủy diệt được thử trong lửa, để nhờ đó anh chị em được ngợi khen, vinh quang và tôn trọng khi Chúa Cứu Thế Giê-su hiện đến.
P. kêu gọi tín đồ hãy vui mừng. Qv đừng hiểu lầm rằng P. khuyên chúng ta hãy vui mừng vì hoạn nạn, thử thách. Không ông khuyên chúng ta dù trong thử thách vẫn có thể vui mừng vì 3 lý do nêu ra từ câu 3-5: Vì lòng thương xót lớn lao, Ngài đã cho chúng ta được tái sinh với đầy hy vọng sống nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su sống lại từ kẻ chết, 4 để thừa hưởng gia tài không thể bị phá hủy, không hư hoại hay phai tàn đã dành cho anh chị em trên trời, 5 là những người nhờ đức tin được quyền năng của Đức Chúa Trời gìn giữ cho sự cứu rỗi, là điều sẵn sàng để được bày tỏ trong thời cuối cùng. 6 Hãy vui mừng về việc này, mặc dù hiện nay anh chị em phải đau buồn vì bị thử thách nhiều bề trong ít lâu.
1) Vì chúng ta được tái sinh trong hy vọng sống; 2) Vì chúng ta sẽ thừa hưởng gia tài không thể bị phá hủy, không hư hoại hay phai tàn đã dành cho anh chị em trên trời; 3) Vì chính quyền năng của ĐCT gìn giữ cho sự cứu rỗi và bảo đảm cho gia tài trên thiên đàng.
Trong nền văn hóa, triết lý của Nhật Bản có một nghệ thuật tên là Kintsugi (Kin-su-ghi). Nghệ thuật này lấy những chén, bình vỡ để sửa lại, hàn gắn lại và nơi những vết nứt thì mạ bằng vàng. Giá trị của những chén, bình vỡ được sửa lại có giá trị bội lần so với những chén, bình khi còn nguyên vẹn. Ý nghĩa là trong đời sống này chắc chắn sẽ có rạn nứt, đổ vỡ nhưng chúng ta cần chấp nhận những điều đó. Hơn thế nữa chúng ta không chỉ chấp nhận nhưng còn biến cho những vết nứt thành những gì đẹp đẽ, quí giá. Chính những đau buồn, khó khăn, thử thách tạm thời khiến cho niềm vui rạn rỡ hơn, hạnh phúc trọn vẹn trong ngày chúng ta gặp Chúa.
Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. 17 Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên, 18 bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:16-18)
KT hứa về một trời mới, đất mới nơi sẽ không còn than khóc, đau khổ, bệnh tật, chết chóc. Nơi mọi giọt nước mắt sẽ được chính tay ĐCT lau ráo, mọi khổ đau sẽ đổi sang hạnh phúc. Chính hy vọng này giúp chúng ta biết chắc rằng sự than khóc chỉ ở trọ trong đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng (TT 30:5)
Những điều quí báu nhất trong cuộc đời thường là kết quả của nỗi khổ, niềm đau, từ những khó khăn, gian nan, thử thách. Nếu ĐCJC không chịu thương khó, không chịu chết trên thập giá, thì làm sao chúng ta được cứu tội? Nếu người mẹ không chịu khó, chịu khổ cưu mang con 9 tháng 10 ngày, rồi phải chịu đau đớn, banh da xé thịt sanh con ra, làm sao con có sự sống trên đời này? Nếu cha mẹ không đổ mồ hôi, nước mắt làm việc khó nhọc, làm sao con có miếng ăn, manh áo, nhà ở ấm áp, đời sống tiện nghi?
Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, 52 trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa. 53 Vả, thể hay hư nát nầy phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết nầy phải mặc lấy sự không hay chết. 54 Khi nào thể hay hư nát nầy mặc lấy sự không hay hư nát, thể hay chết nầy mặc lấy sự không hay chết, thì được ứng nghiệm lời Kinh thánh rằng: Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng (1 Cô-rinh-tô 15:51-54)
