Hy Vọng Nơi Thập Giá – Tha Thứ Cho Đến Cuối Cùng
Bài giảng hai tuần trước đây về Hy Vọng Nơi Thập Giá nhằm trả lời câu hỏi Tại Sao Thập Giá? Nếu ĐCT là Đấng yêu thương, tại sao Ngài lại không thể bỏ qua tất cả tội lỗi A-đam, E-va, tội lỗi muôn người? Tại sao Ngôi Hai ĐCT là ĐCJC phải hạ thế làm người, chịu thương khó rồi chịu đóng đinh cho đến chết trên thập giá, đổ huyết để cứu tội cho con người?
Bài giảng sáng nay về câu hỏi: chúng ta có hy vọng gì nơi thập giá? Ba hy vọng vô cùng to lớn mà không một điều gì trong thế gian này, không một triết lý, tôn giáo nào có thể ban cho như ĐCJC đã ban cho những ai tin nhận Ngài qua thập giá: 1) Sự tha thứ; 2) Sự cứu chuộc; 3) Sự sống lại. Bài giảng sáng nay về hy vọng vào sự tha thứ của ĐCT cho đến cuối cùng. Ba phần: 1) Lời cảnh cáo của Chúa cùng các môn đồ (cũng là lời cảnh cáo cho tôi & qv); 2) Quan hệ như Giu-đa Ít hay như Ma-ri; 3) Chúa tha thứ cho đến cuối cùng
LỜI CẢNH CÁO CỦA ĐCJC CÙNG MÔN ĐỒ
Đoạn KT vừa đọc ghi lại câu chuyện về bửa ăn cuối của ĐCJC cùng 12 môn đồ trên phòng cao. Chỉ vài tiếng sau đó Giu-đa Ít sẽ phản bội và bán thầy mình cho các thầy tế lễ cả và dẫn quân lính La-mã đến bắt Chúa tại vườn Ghết-sê-ma-nê.
Mác ghi lại lời của ĐCJC rằng sẽ có 1 người trong số 12 sứ đồ phản Ngài và tất cả các sứ đồ đều lìa bỏ Chúa: Đang dùng bữa, Đức Chúa Jêsus phán: “Thật, Ta bảo các con, một người trong các con đang ngồi ăn với Ta đây sẽ phản Ta.” 19 Các môn đồ buồn rầu lắm, lần lượt hỏi Ngài: “Có phải con không?” 20 Ngài đáp: “Ấy là một trong mười hai người, là người đang chấm bánh chung đĩa với Ta. 21 Vì Con Người đi như lời đã chép về Ngài, nhưng khốn thay cho kẻ phản bội Con Người! Thà nó đừng sinh ra còn hơn.”(Mác 14:18-21 – BHĐ)
26 Khi đã hát thơ thánh rồi, Chúa và môn đồ đi ra đặng lên núi Ô-li-ve. 27 Đức Chúa Jêsus phán cùng môn đồ rằng: Hết thảy các ngươi sẽ gặp dịp vấp phạm; vì có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì bầy chiên sẽ tan lạc. (Mác 14:26-27 – BHĐ)
Cả 4 sách PA cũng ghi lại lời của Chúa về một người sẽ phản bội Ngài: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong vòng các ngươi có một kẻ ngồi ăn cùng ta, sẽ phản ta. (Mác 14:18) “Thật, Ta bảo các con, một người trong các con sẽ phản Ta.”(Ma-thi-ơ 26:21) “Thật, Ta bảo thật các con, một người trong các con sẽ phản Ta.” (Giăng 13:21) Nầy, bàn tay kẻ phản bội Ta đang để trên bàn với Ta. (Lu-ca 22:21)
Và tất cả sẽ lìa bỏ Ngài: “Tất cả các ngươi sẽ lìa bỏ Ta (Mác 14:27 - BDM) Đêm nay tất cả các con sẽ vấp ngã vì cớ Ta (Ma-thi-ơ 26:31)
Từ quả thật trong câu này là amen, nói lên một chắc chắn. Chúa biết chắc chắn rằng một môn đồ sẽ phản bội Ngài. Tôi hỏi qv: Chúa có biết ai hay không? Chắc chắn Chúa biết rõ ai sẽ phản Ngài. Vậy tại sao Chúa lại nói trong vòng các ngươi có kẻ ngồi ăn cùng ta, sẽ phản ta?
Một học giả giải thích về đoạn KT này như sau: Khi viết về buổi ăn cuối cùng với chi tiết về sự phản bội và bỏ chạy của các môn đồ, Mác chủ ý nói lên một cách rõ ràng rằng tội phạm khiến Chúa phải chịu chết trên thập giá không phải là tội của người nào đó bên ngoài, không phải là tội của bạo chúa Caligula hay Nero hay những bạo chúa tàn ác khác từ xưa đến nay, nhưng do tội của chính các môn đồ, của Phi-e-rơ và Giăng, của bạn và tôi. Mỗi khi tiệc thánh cử hành, chúng ta được nhắc về tội ác của con người gồm chính cả tội ác của chính tôi.
Một tác giả khác viết rất chính xác về tội lỗi như sau: Lằn ranh giữa thiện và ác đi ngang qua giữa con tim của mỗi người. (Alexander Solzhenitsyn). Không phải qua giữa quốc gia này hay quốc gia khác, dân này với dân khác, tôn giáo này với tôn giáo khác, nhưng qua giữa con tim của tôi, của mỗi qv đây.
Tại sao lời phán về kẻ phản bội của Chúa lại mơ hồ như vậy? Tại sao ĐCJC không chỉ rõ Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là kẻ sẽ phản Ngài? Lời tuyên bố rất mơ hồ của ĐCJC về việc 1 người trong số 12 môn đồ sẽ phản Ngài giúp các môn đồ hiện diện và cho cả chúng ta xem xét lại động cơ và mục đích của tấm lòng, con tim. Kẻo không e rằng chúng ta cứ nghĩ mình thật chân thành, thánh khiết, trong sạch! Chúa muốn mỗi môn đồ đều nhìn sâu vào tấm lòng, con tim mình.
Khi Chúa nói: một trong số các ngươi sẽ phản ta, Ngài dùng một từ nói về việc giao cho hay bán đi. Lý do gì khiến một người phản bội? Thù ghét, có lợi cho họ. Lý do gì Giu-đa Ít phản ĐCJC? Không phải thù ghét mà là 30 miếng bạc, tức tiền, lợi. Vậy tội phản bội là tội của động cơ. Tội phản bội có thể giải thích như sau: Một trong các ngươi tin ta, theo ta, phục vụ ta khi nào còn có lợi cho ngươi. Nhưng người sẽ bán ta ngay lúc niềm tin vào Ta tốn kém cho ngươi.
Khi hai người làm mọi điều Chúa dạy, bên ngoài cả hai đều như nhau. Cả hai được xem là người tin Chúa gương mẫu, ngay lành. Một người làm mọi điều Chúa với mục đích để được Chúa ban phước, để được MS, mọi người khen tặng, tán dương; một người làm mọi điều Chúa dạy vì lòng biết ơn về sự tha thứ tội, ơn cứu chuộc, vì muốn làm Chúa vui lòng, bên ngoài đều hoàn toàn giống nhau, nhưng hai động cơ hoàn toàn khác nhau. Và làm thế nào để có thể biết? Chỉ khi hoàn cảnh thay đổi: theo Chúa không còn lợi ích, không còn được phước như xưa.
Với các môn đồ, hoàn cảnh bắt đầu thay đổi ngày càng xấu hơn: Chúa sẽ bị bắt, bị xử, bị tra tấn, rồi bị đóng đinh cách nhục nhả trên thập giá cho đến chết. Sáng Chúa nhật trước đó khi Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem, họ nghĩ thầm: cơ hội, thời điểm chúng ta đã đến. 3 năm theo Chúa thật đáng công khó nhọc. Khi Chúa vào nước Ngài, chúng ta cũng sẽ được ngồi nơi địa vị cao trọng, vinh hiển. Vài ngày sau đó, họ bắt đầu thấy rằng các nhà lãnh đạo tôn giáo, người Pha-ri-si chống đối và lập mưu để giết Chúa. Chỉ ít hơn một tuần trước đó, thời tiết còn tốt đẹp: nắng ấm, trời xanh trong, gió mát, nhưng đến buổi tối này thời tiết hoàn toàn thay đổi: cơn giông lớn sắp ụp tới!
Trong đêm nay khi dự buổi ăn lễ Vượt Qua, chính tai họ nghe từ Chúa: một trong các ngươi sẽ phản ta. 4 sách PA đều ghi lại lời của các môn đồ tự hỏi về ai là người sẽ phản Chúa: Các môn đồ bèn buồn rầu lắm, cứ lần lượt mà thưa cùng Ngài rằng: Có phải tôi chăng? (Mác 14:20) Các môn đồ rất buồn rầu và lần lượt hỏi: “Thưa Chúa, có phải con không?”(Ma-thi-ơ 26:22) Các môn đồ bắt đầu hỏi xem ai trong số họ là người sẽ làm điều đó. (Lu-ca 22:23).
Họ không phủ nhận lời Chúa nhưng cũng không thú nhận. Họ tự hỏi Chúa, hỏi nhau và tự hỏi chính mình: Có phải tôi chăng; thưa Chúa, có phải con không? Ai trong số chúng ta là người sẽ làm điều đó?
Đây là một trả lời, một câu hỏi hết sức mập mờ, lưỡng lự, không biết chắc thế nào: có thể có, có thể không! Không phải tôi. Hay tôi? Không, không thể là tôi! Đây cũng chính là câu hỏi cho tôi và mỗi qv sáng nay! Đây là 12 người đã được chính Chúa chọn để theo Ngài trong 3 năm trời. Trong thời gian 3 năm Chúa hành đạo, họ là những người gần gũi nhất với Chúa. Họ được đặc ân nghe tận tai những lời dạy của Chúa, thấy tận mắt những phép lạ Chúa thực hiện từ việc chửa lành cho người câm điếc, đui mù, tật nguyền, phung cùi, hay hóa bánh và cá cho 5000 ngàn người ăn no nê, hay phán với biển động, gió to hãy im lại. Khi Chúa lên núi hóa hình, Phi-e-rơ là một trong 3 người môn đồ chứng kiến tận mắt về sự hóa hình kỳ diệu của ĐCJC. Những kinh nghiệm sống với Chúa, kiến thức tích lũy từ lời Chúa dạy trực tiếp vẫn không ngăn được tội phạm cùng Chúa. Tất cả 12 sứ đồ đều phạm tội cùng ĐCJC.
Bài học cho chúng ta là ngay cả các sứ đồ, những người được chính ĐCJC gọi và chọn, theo Ngài 3 năm vẫn không chắc chắn mình có phản Chúa không, thì tôi & qv là ai mà quá tự hào về sức mạnh của chính mình. Đây chính là ý nghĩa của lời PL dạy: Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã. (1 Cô-rinh-tô 10:12). Khi cậy vào chính sức mình, chắc chắn chúng ta sẽ ngã. Nhưng cần cậy vào ĐTL và sự giúp đở của anh chị em trong Chúa.
Chúa nhắc Phi-e-rơ: “Hỡi Si-môn, Si-môn, nầy, Sa-tan đòi sàng sảy các con như lúa mì. 32 Nhưng Ta đã cầu nguyện cho con để con không thiếu đức tin. Vậy, khi con quay trở lại, hãy làm cho anh em con mạnh mẽ.” (Lu-ca 22:31). Vì Chúa cầu nguyện cho Phi-e-rơ nên ông đứng vững cho đến cuối. Tôi & qv cũng cần sự trợ giúp của ĐTL và lời cầu nguyện của ĐCJC để đứng vững.
ĐCJC muốn các môn đồ trong đêm đó và mỗi chúng ta sáng nay thấy rằng mặc dù họ và chúng ta có thể không phải hoàn toàn như Giu-đa nhưng trong mỗi chúng ta và họ đều có một Giu-đa, mang một bản tính như Giu-đa. Tôi giải thích cho qv. Qv chắc nhớ câu chuyện của ông Gióp trong KTCU. Gióp là người tin kính Chúa, trung tín với Chúa. Một ngày Sa-tan đến trước ĐCT sau khi đi nơi này nơi nọ trên đất (có lẽ xem ai có thể cám dỗ cho sa ngã hay có thể cáo tội cùng ĐCT!)
ĐCT bảo Sa-tan: “Ngươi có để ý đến Gióp, đầy tớ của Ta không? Trên thế gian nầy chẳng có ai được như Gióp; một người trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời và tránh xa điều ác.” 9Sa-tan thưa với Đức Giê-hô-va: “Lẽ nào Gióp kính sợ Đức Chúa Trời vô cớ sao? 10Chẳng phải chính Ngài đã dựng hàng rào bảo vệ quanh ông ta và gia đình cùng mọi sản vật của ông ta đó sao? Ngài đã ban phước trên công việc của tay ông ta và làm cho của cải ông ta lan tràn khắp đất. 11Nhưng bây giờ Chúa thử giơ tay đánh vào tất cả những gì thuộc về ông ta, xem ông ta có phỉ báng Chúa ra mặt không!” (Gióp 1:8-11)
Sa-tan nói gì về Gióp với ĐCT? Hắn nói: Bên ngoài Gióp như trọn vẹn, ngay thẳng, phục vụ ĐCT nhưng tôi chắc rằng ông cũng chỉ dùng ĐCT mà thôi! Gióp thờ phượng, phục vụ ĐCT chỉ để Ngài ban phước cho ông, để được những gì ông muốn. Không phải vì yêu kính, biết ơn Ngài nhưng chỉ để nhận được ơn phước, của cải, con cái từ Ngài. Tôi sẽ chứng minh cho Chúa rằng nếu Ngài lấy đi những điều Gióp có, hắn sẽ phản bội Ngài. Hắn sẽ bỏ Ngài, bán Ngài như một vật không còn giá trị gì!
Câu hỏi chính yếu của sách Gióp là câu hỏi của Sa-tan về Gióp cùng ĐCT: Lẽ nào Gióp kính sợ Đức Chúa Trời vô cớ sao? Cũng chính là câu hỏi cho tôi và qv: Trong quan hệ với Chúa, chúng ta tìm kiếm, thờ phượng, phục vụ Chúa để Chúa ban phước hay phục vụ Chúa chỉ vì Ngài là Chúa, vì lòng biết ơn, lòng yêu mến Chúa.
Không ai có thể biết rõ động cơ gì khiến một người tin, theo, thờ phượng, phục vụ Chúa cho đến khi hoàn cảnh thay đổi, đến khi hoạn nạn, mất mát xảy đến. Khi những việc “xấu” xảy đến, khi theo Chúa không còn lợi nữa, mỗi chúng ta có lúc cũng đều hỏi: tại sao tôi tin Chúa mà những sự việc này lại xảy ra? Niềm tin vào Chúa có ích lợi gì? Đây chính là một phần của Giu-đa Ít trong tôi & qv! Đây cũng chính là sự khác biệt giữa tôn giáo và Tin Lành.
Tôn giáo dạy: Tôi vâng phục nên tôi được ĐCT, Thượng Đế chấp nhận và giờ ĐCT phải ban phước cho sự vâng phục, phục vụ, vì công đức tôi làm! Tin Lành dạy: Tôi được Chúa tha thứ, cứu chuộc duy bởi sự hy sinh trên thập giá, duy bởi ân điển. Vì lòng biết ơn, tôi vâng phục và tôi nợ Chúa cả cuộc đời tôi. Đây là hai quan điểm hoàn toàn khác biệt. Tôn giáo: tôi vâng phục, làm công đức nên tôi được cứu và được phước. Tin Lành: tôi được tha thứ, cứu chuộc duy bởi ân điển. Vì lòng biết ơn, tôi vâng phục và nợ Chúa cả cuộc đời tôi.
Giu-đa trong mỗi chúng là phần của con tim vẫn bị chế ngự bởi ý nghĩ rằng tôi tìm kiếm, tin nhận, phục vụ Chúa để tôi được phước. Nói cách khác tôi “dùng”, lợi dụng ĐCT để được lợi cho chính mình. Và khi quan hệ đó không còn đem lại lợi ích tôi sẽ bỏ Chúa!
Lời ĐCJC cùng các môn đồ: trong số các người sẽ có kẻ phản ta, nhắc cho tôi và qv về nguy hiểm của động cơ dấu kín, che đậu sâu tận đáy lòng nơi không ai thấy được, biết được. Động cơ đó chỉ được phơi bày khi nghịch cảnh, hoạn nạn, mất mát, tật bệnh, khó khăn xảy đến. Chỉ khi đó giữa hai người tin Chúa, chúng ta mới biết đá biết vàng!
QUAN HỆ NHƯ GIU-ĐA ÍT-CA-RI-ỐT HAY NHƯ MA-RI?
Nếu đọc Mác 14:3-9 trước khi viết về ý đồ của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt có ý bán ĐCJC là câu chuyện của một phụ nữ tại nhà Si-môn. Ma-thi-ơ 26 và Giăng 12 cũng ghi lại câu chuyện Ma-ri, chị La-xa-rơ làm cùng việc này như người phụ nữ tại nhà Si-môn trong Mác 14. Tại sao 3 sách PA lại ghi lại câu chuyện của Ma-ri, và người phụ nữ tội lỗi tại nhà Si-môn xức dầu cho Chúa trước khi viết về sự phản bội của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt? Để tương phản giữa hai động cơ của hai người tin Chúa, theo Chúa, thờ phượng, phục vụ Chúa.
Cả hai câu chuyện về hai người phụ nữ này đều có cùng một chi tiết: họ dùng một chai thuốc thơm thật đắt giá (trên một năm tiền công làm việc) để xức lên ĐCJC. Ma-ri còn lấy tóc lau chân cho Chúa. Tôi hỏi qv: việc làm của hai người phụ nữ này có lợi gì cho họ hay không? Trái lại như một mục sư trong một bài giảng nhận xét, việc làm này thật xa xỉ, phí phạm. Tại sao lại phải dùng một bình dầu thơm đáng giá hơn một năm tiền công thay vì có thể dùng một bình dầu thơm chỉ tốn một phần của một ngày tiền công? Và trong trường hợp của Ma-ri: bà đã nhận được phép lạ từ Chúa khiến cho La-xa-rơ sống lại.
Vậy việc làm này chỉ để bày tỏ tình yêu thương, lòng yêu quí, cảm tạ. Giu-đa thấy Chúa Giê-xu hữu ích, nhưng Ma-ri thấy Chúa Giê-xu rất đẹp. Giu-đa theo Chúa, phục vụ để được lợi cho mình và khi không còn lợi, hắn bán Chúa. Ma-ri và người phụ nữ tại nhà Si-môn theo Chúa, yêu mến Ngài bởi vì Ngài đã yêu thương, tha thứ cho họ nên vì lòng biết ơn, trong sự vui mừng họ tự nguyện dâng của le quí báu nhất họ có cho Chúa.
Nếu mỗi chúng ta đều có một phần Giu-đa Ít: theo Chúa, phục vụ Chúa vì lợi ích, thì tôi tin rằng chúng ta cũng có một phần Ma-ri: theo Chúa, phục vụ Chúa vì chính Ngài, vì biết ơn Ngài.
Tôi chắc trong số qv đây có nhiều người đi nghĩ mát mỗi năm. Nhiều người đi thăm gia đình, con cháu, bè bạn; những người khác đi đến những thành phố lớn cho biết; nhiều người đi thăm những danh lam thắng cảnh như đảo Phú Quốc, vịnh Hạ Long. Tại sao chúng ta bỏ hàng ngàn đồng, chịu khó ngồi máy bay 1-2 ngày chỉ để xem núi đồi, biển cả, rừng cây hay vườn tược? Bởi vì chúng ta yêu thích những cảnh vật này! Khi lòng thật sự yêu thích điều gì đó, chúng ta không ngại tốn kém tiền bạc, thời gian, công sức. Như Ma-ri và người phụ nữ tại nhà Si-môn đối với ĐCJC.
Quan hệ như Giu-đa Ít và Ma-ri cũng có thể được ví như quan hệ của một trẻ con và một người con trưởng thành. Khi còn trẻ thơ, con làm điều này điều nọ để được kẹo bánh, đồ chơi từ cha mẹ. Khi trưởng thành, con chăm sóc cho cha mẹ già yếu dù có tốn kém thời gian, công sức, tiền bạc. Trong quan hệ với Chúa, qv là Giu-đa Ít hay Ma-ri, là con trẻ hay trưởng thành?
Khi hiểu rằng trong mỗi chúng ta đều có một phần Giu-đa Ít và một phần Ma-ri và hai phần này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh. Có tín đồ Giu-đa Ít ngày càng mạnh hơn rồi cuối cùng quyết định bỏ Chúa. Có tín đồ Ma-ri ngày càng mạnh hơn và tiếp tục trung tín phục vụ dù hoàn cảnh thay đổi, dù khi giông bão ụp đến đời sống.
CHÚA THA THỨ CHO ĐẾN CUỐI – THA THỨ & ĂN NĂN
[Tương phản giữa lời buộc tội của tiên tri Na-than cùng vua Đa-vít: vua chính là người ấy! với lời của ĐCJC: trong số các ngươi, một người sẽ phản ta!]
Khi Chúa nói lời đó, chắc chắn Chúa cũng nói với Giu-đa Ít: ta thấy, ta biết dự tính, việc làm của ngươi. Không chỉ vậy Chúa còn có một cảnh cáo vô cùng nghiêm trọng: Vì Con người đi, y như lời đã chép về Ngài; song khốn cho kẻ phản Con người! Thà nó chẳng sanh ra thì hơn. (Mác 14:21) Chúa nhắc Giu-đa Ít về hậu quả kinh khiếp của việc hắn sẽ làm. Chúa cảnh cáo, nhắc nhở. Chúa ban cho cơ hội. Ngay trong vườn Ghết-sê-ma-nê khi Giu-đa Ít nhận diện Chúa bằng cái hôn, Chúa vẫn gọi hắn là bạn! Giu-đa liền đến gần Đức Chúa Jêsus và nói rằng: “Chào thầy!” Rồi hôn Ngài. 50Nhưng Đức Chúa Jêsus nói với nó rằng: “Nầy bạn, bạn định làm gì thì cứ làm đi!”(Ma-thi-ơ 26:49-50)
Nhưng ĐCJC cũng không chỉ điểm tận mặt Giu-đa Ít: chính ngươi là kẻ phản ta, bán ta! Tại sao? Bởi vì Chúa yêu Giu-đa Ít cho đến cuối, Chúa tha thứ cho đến phút cuối cùng. Câu chuyện của Giu-đa Ít không chỉ là câu chuyện về sự phản bội hay khuynh hướng phản bội của mỗi chúng ta khi tin Chúa không còn lợi ích, nhưng còn lại câu chuyện về tình yêu thương, sự tha thứ ban cho cơ hội ngay cho kẻ gây ra cái chết cho Ngài cho đến phút cuối cùng.
Tôi muốn nói qv điều này: nếu qv từ chối tình yêu thương, sự tha thứ, cứu chuộc của ĐCJC nơi thập giá, đó hoàn toàn là quyết định của qv như chính Giu-đa Ít đã quyết định không tiếp nhận sự tha thứ. Phi-e-rơ và các môn đồ đều phạm trọng tội nhưng họ nhận sự tha thứ và được hồi phục. Giu-đa Ít từ chối sự tha thứ và hư mất đời đời!
Học giả KT Don Carson nhận xét về lời của ĐCJC cùng Giu-đa Ít : Đây là hành động cuối cùng về lòng nhân từ và tình yêu thương ĐCJC dành cho Giu-đa Ít. Tại sao? Vì Chúa muốn Giu-đa ăn năn. Chúa không muốn ông hư mất. Nếu Chúa nói: trong các ngươi, Giu-đa Ít là người sẽ phản ta, ông sẽ không bao giờ có cơ hội để được nhận tha thứ và hồi phục.
Trong câu chuyện này chúng ta nhìn thấy ĐCJC hoàn toàn quân bình giữ công bình và nhân từ, giữa ân điển và chính trực, giữ sự cảm thông và cứng rắn. Chúa yêu nên Ngài cảnh cáo, nhắc nhở. Nếu im lặng, có nghĩa là làm ngơ trước tội lỗi. Nhưng ĐCJC cũng không mắn nhiếc, làm nhục, vạch trần, phơi bày điều xấu xa của Giu-đa Ít trước các môn đồ. Không phải đây là bài học về sự tha thứ cho tôi và qv hay sao?
ĐCT tha thứ cho tội nhân qua sự chết của ĐCJC trên thập giá. Nhưng không có nghĩa là mọi người đều được cứu. Tại sao? Bởi vì sự cứu chuộc tùy thuộc vào sự ăn năn, xưng tội để quan hệ có thể hồi phục. [Ví dụ tha thứ cho người làm lỗi nhưng quan hệ vẫn không hồi phục cho đến khi người làm lỗi ăn năn, mong hồi phục quan hệ]
Đây chính là sự khác biệt quan trọng giữa Giu-đa Ít và các môn đồ.
Tuy nhiên giá trị và ý nghĩa của hy vọng về sự tha thứ chỉ tương xứng với ý thức về mức độ của sự vi phạm. Nếu một người nghĩ tôi không phạm lỗi, không có tội gì thì sự tha thứ hoàn toàn không có giá trị gì? Không lỗi, không tội, không cần tha thứ. Tha thứ hoàn toàn không ý nghĩa, giá trị gì.
Một người cảm bệnh, sổ mủi, nhức đầu khi khỏe lại thấy mừng. Nhưng sự vui mừng đó làm thế nào có thể sánh với một người bị ung thư được chửa lành. Căn bệnh càng trầm trọng, việc trị liệu càng khó khăn thì sự hồi phục càng có một giá trị, ý nghĩa to lớn hơn. Trong đời tôi cũng như qv đây có nhiều lần bệnh. Nhưng có một vài lần bệnh sau khi được chửa lành, tôi vô cùng biết ơn và cảm tạ ĐCT và các bác sĩ vì tưởng như đã mất mạng rồi.
Sự vui mừng của người thật sự hiểu được giá trị của sự tha thứ nơi thập giá tùy thuộc vào ý thức về mức độ của tội phạm cùng ĐCT.
Qv nhớ câu chuyện của người phụ nữ tội lỗi trong Lu-ca 7. ĐCJC được một người Pha-ri-si tên Si-môn mời đến nhà ăn tối. Dù được mời như một người khách, nhưng khi Chúa đến, Si-môn - người chủ nhà - không hề đón Ngài bằng cái hôn hay sai đầy tớ rửa chân cho Chúa. Đang khi ăn, một người phụ nữ tội lỗi đến đứng đằng sau nơi chân Chúa. Bà đem theo một bình dầu thơm. Rồi lấy dầu thơm đắc tiền đó đổ lên chân Chúa, lấy tóc lau chân với chính nước mắt bà. Lu-ca không hề ghi lại một lời, dù một lời từ người phụ nữ này. Bà bày tỏ lòng yêu quí với Chúa và mong mỏi đón nhận sự tha thứ từ Ngài qua hành động. Lời ĐCJC nói cùng người Pha-ri-si về người phụ nữ này như sau: “Ngươi thấy người đàn bà nầy không? Ta vào nhà của ngươi, ngươi không cho nước rửa chân; nhưng chị ấy đã lấy nước mắt thấm ướt chân Ta, rồi lấy tóc mình mà lau. 45 Ngươi không hôn Ta, nhưng từ khi Ta vào nhà của ngươi, chị ấy luôn hôn chân Ta. 46 Ngươi không xức dầu cho đầu Ta, nhưng chị ấy lấy dầu thơm xức chân Ta. 47 Vì thế, Ta bảo ngươi, tội lỗi của người đàn bà nầy nhiều lắm, nhưng đã được tha hết, nên chị ấy yêu mến nhiều; còn người được tha ít thì yêu mến ít.” (Lu-ca 7:44-47 – BHĐ)
Chính vì tội của người phụ nữ này nhiều nên sự tha thứ mới có ý nghĩa, giá trị to lớn. Vì vậy bà yêu mến Chúa nhiều hơn. Cũng chính vì ý thức được tội lớn đã phạm trong đêm cuối cùng ĐCJC và được Ngài tha thứ nên cả đời họ nhớ ơn lớn này. Tôi tin chính điều này giúp các sứ đồ trung tín cho đến cuối dù sự cuối của tất cả, ngoại trừ sứ đồ Giăng chết lão, đều tử đạo.
Thử nghĩ xem nếu Chúa không tha thứ cho Phi-e-rơ về tội chối Chúa, các môn đồ vì bỏ chạy khi ĐCJC bị bắt thì làm sao họ nhận được ĐCT nơi phòng cao, được gọi làm chứng, được dùng để lập HT đầu tiên. Nếu ĐCT không tha thứ cho Phao-lô về tội giết những người theo Chúa thì làm sao PL được trở nên một sứ đồ của Đấng Christ, viết 13 thư/sách trong số 27 thư/sách TU.
Tình yêu thương bao la của ĐCJC bày tỏ qua sự tha thứ thay đổi hoàn toàn cuộc đời của PL cách mầu nhiệm. Đến nỗi ông viết chính vì tình yêu thương đó mà ông sống và chết: Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, 15 lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình. (2 Cor 5:14-15)
