Hướng Mắt Về Ngôi Chúa
Hầu hết qv đây cũng như tôi sinh ra và lớn lên tại VN, 1 xứ nhiệt đới. Dân cư miền Nam không hề thấy được mùa thu cây lá đổi màu hay mùa đông với tuyết trắng xóa đường phố. Những cảnh tượng của mùa thu và tuyết trắng của mùa đông đều là từ kiến thức đọc trong sách báo hay xem qua phim ảnh. Nhưng khi đã định cư tại xứ này thì mọi người không chỉ thấy được mà còn cảm giác được sự khác biệt giữa 4 mùa. Tuyết trắng vào mùa đông không còn là điều chỉ đọc trong sách vở hay xem trong phim ảnh, nhưng còn có thể sờ và nếm. Có người còn chọi tuyết, trượt tuyết hay nếm tuyết!
Ví dụ này cho thấy mọi người trong chúng ta đều có những giới hạn về sự hiểu biết, kinh nghiệm tùy theo nơi mình sinh sống. Và vì mọi người đều sinh sống trên quả địa cầu này nên hiểu biết và kinh nghiệm của chúng ta về thế giới ngoài trái đất này cũng giới hạn. Cơ quan hàng không NASA của HK đã gởi được phi thuyền đến hỏa tinh (Mars). Tuy nhiên sự hiểu biết và kinh nghiệm của những khoa học gia về Hỏa Tinh cũng chỉ giới hạn bởi những hình ảnh và dữ liệu gởi về từ phi thuyền về trái đất.
Cũng vậy sự hiểu biết và kinh nghiệm của chúng ta về nước Trời, về thiên đàng, về nơi ĐCT ngự cũng rất giới hạn dựa theo những gì đã được ghi lại trong KT. Trong cuộc gặp gở với Ni-cô-đem ĐCJC nói: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, chúng ta nói điều mình biết, làm chứng điều mình đã thấy; còn các ngươi chẳng hề nhận lấy lời chứng của chúng ta. 12 Ví bằng ta nói với các ngươi những việc thuộc về đất, các ngươi còn chẳng tin thay; huống chi ta nói những việc thuộc về trời, thì các ngươi tin sao được? 13 Chưa hề có ai lên trời, trừ ra Đấng từ trời xuống, ấy là Con người vốn ở trên trời (Giăng 3:11-13).
Lời này cho thấy 2 điều: 1) Rất khó cho chúng ta tin vào những điều thuộc về trời; 2) ĐCJC tự nhận Ngài là Đấng từ trời xuống nên có thẩm quyền để nói về nước Trời. Khó tin vào những điều thuộc về trời bởi vì chúng ta chỉ biết những điều thuộc về trái đất, về cuộc đời trên đất này. Tuy nhiên dù có tin vào những điều thuộc về trời thì sự hiểu biết đó cũng rất giới hạn bởi vì những lời giải thích cũng chỉ qua ngôn ngữ, hình ảnh quen thuộc.
Khó tin cũng bởi vì tất cả những điều chúng ta học hỏi từ trường học, đọc xem trên báo chí, phim ảnh đều hoàn toàn tập trung vào đời sống trên đất, dưới ánh mặt trời. Đầu óc, suy nghĩ, mơ tưởng, dự tính đều hoàn toàn vào những điều thuộc thế gian này. Chúng ta cũng như những người tị nạn đến một nơi tạm trú thay vì chuẩn bị cho cuộc sống thật nơi sẽ đến định cư nhưng lại chỉ nghĩ về nơi tạm trú, dồn tất cả cố gắng, nổ lực để có một đời sống tiện nghi nơi tạm trú!
KH 2-3 gồm 7 thư viết gởi 7 HT. Tập trung của đoạn 2-3 là HT Chúa trên đất. KH 3 trong thư cho HT L. kết thúc với lời Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài. Ngôi Cha là trọng tâm của KH 4. Trong KH 4-5, Giăng không viết về những việc trên thế gian này mà là về nước Trời, thiên đàng, những gì ở trên thiên đàng. KH 4 chủ yếu mô tả về một phần của những cảnh tượng về nước Trời, về thiên đàng, chủ yếu tập trung vào ngôi của ĐCT và chung quanh ngôi Đấng Chí Cao.
Để chuẩn bị cho bài giảng về KH 4 tôi đã đọc hơn 10 sách giải kinh khác nhau. Dù tác giả các là những giáo sư thần học tài giỏi, những nhà giải nghĩa KT đáng tin cậy nhưng vẫn có rất nhiều khác biệt khi giải thích đoạn KT này. Điều này cũng dễ hiểu. Bởi vì dùng ngôn ngữ để mô tả về những điều trong thế gian này, những người mắt thấy tai nghe còn là một việc khó khăn, có thể gây ra sự hiểu lầm cho người nghe, người đọc. Huống chi dùng ngôn ngữ để mô tả những điều trên trời, nơi mà tất cả chúng ta đều chưa bao giờ thấy hay biết được còn khó khăn đến 1000 lần hơn. Vì lý do này nên tôi sẽ đưa ra những cách thức giải thích khác nhau về một số chi tiết trong KH 4.
Trong bài giảng đầu tiên về KH tôi có nêu ra có 4 quan điểm chính yếu giải thích sách. Cách thứ nhất là quan điểm quá khứ (preterist), rất phổ thông vào giữa thế kỷ 20. Cách này cho rằng những tiên tri trong KH đã hoàn toàn ứng nghiệm trong thế kỷ đầu tiên. Vậy KH cũng như các sách khác trong TU chỉ viết về những điều đã xảy ra thay vì sẽ xảy ra trong tương lai, ngoại trừ các đoạn cuối về trời mới, đất mới.
Cách thứ hai là quan điểm lịch sử (historical) giải thích rằng 7 HT tượng trưng 7 giai đoạn trong lịch sử HT từ HT đầu tiên cho đến tận thế. Ví dụ như theo Tim LaHaye thì HT Ê-phê-sô tượng trưng HT đầu tiên từ năm 30-100; HT Si-mẹc-na tượng trưng cho giai đoạn HT bị bắt bớ từ năm 100-312; HT Pergamum tượng trưng cho HT xa đọa từ 312-606; HT Thyatira tượng trưng cho HT tà đạo trong thời kỳ đen tối (Dark Ages) tại Âu Châu; HT Philadelphia tượng trưng cho HT Chúa yêu từ sau phong trào cải cách tôn giáo (Reformation); HT Ladicia tượng trưng cho HT bội đạo từ 1900 cho đến thời kỳ đại nạn. Những diễn tiến từ đoạn 6-10 về 7 ấn, 7 kèn thổi, 7 chén thịnh nộ tượng trưng cho những sự kiện lịch sử đã, đang và sẽ xảy ra. Vấn đề là cách giải thích này chỉ hoàn toàn chú trọng vào lịch sử và HT phương Tây mà không hề biết đến lịch sử và HT trên các lục địa khác của thế giới. Một vấn đề khác là tìm cách để ghép những sự kiện lịch sử mình chọn để giải thích cho những biểu tượng trong sách.
Cách thứ ba là quan điểm tương lai (futurist). Nếu quan điểm giải thích theo quá khứ cho rằng mọi tiên tri trong KH đã được ứng nghiệm hoàn toàn vào thế kỷ đầu tiên, thì cách giải thích theo tương lai cho rằng tất cả những tiên tri trong KH đều về tương lai khi ĐCJC trở lại lúc tận thế. Nếu vậy thì những tiên tri trong KH không liên hệ trực tiếp đến các HT đầu tiên và mãi đến nay vì chúng ta vẫn còn đang chờ đợi sự ứng nghiệm của những tiên tri đó. Đây là cách giải thích phức tạp nhất mà chúng ta sẽ tìm hiểu thêm trong các bài giảng tới. Có thể nói hầu hết các HT Báp-tít Nam Phương (Southern Baptist) và HTTLVN đều tin vào cách giải thích này.
Cách thứ tư là quan điểm tổng hợp (eclectic). Gọi là tổng hợp vì quan điểm này áp dụng cả 3 cách giải thích trên tùy theo các đoạn khác nhau trong sách KH. Đây là quan điểm tôi sẽ dùng khi giảng KH.
Theo quan điểm tương lai thì thứ tự của sách KH dựa theo 1:19 Vậy hãy chép lấy những sự ngươi đã thấy, những việc nay hiện có và những việc sau sẽ đến. Những sự đã thấy là khải thị về ĐCJC trong đoạn 1. Những việc nay hiện có là khải thị về 7 thư cho 7 HT Tiểu Á trong đoạn 2-3. Và những việc sau sẽ đến là những khải thị thuộc về tương lai chưa xảy đến ghi lại từ đoạn 4-22
Cũng theo quan điểm tương lai này thì thứ tự thời gian của lịch sử nhân loại trong KH như sau:
Kế đó, tôi nhìn xem, nầy, một cái cửa mở ra trên trời; và tiếng thứ nhất mà tôi đã nghe nói với tôi, vang rầm như tiếng loa, phán cùng tôi rằng: Hãy lên đây, ta sẽ cho ngươi thấy điều sau nầy phải xảy đến. 2 Tức thì tôi bị Thánh Linh cảm hóa; thấy một ngôi đặt tại trên trời, trên ngôi có một Đấng đang ngồi đó.
Từ kế đó không phải là thứ tự thời gian nhưng là thứ tự của khải tượng, có nghĩa là khải tượng về ngôi ĐCT trong đoạn 4-5 xảy ra sau khải tượng về 7 thư cho các HT Tiểu Á. Theo quan điểm tương lai thì kế đó là chuyển tiếp từ khải tượng về 7 thư cho 7 HT Tiểu Á sang khải tượng hoàn toàn về tương lai chỉ xảy ra sau khi Chúa trở lại lần đầu để cất những người tin Chúa dù đã chết hay vẫn còn đang sống như viết trong 1 Tê-sa 4:13-18. Cái cửa này khác với cửa cứu rỗi và cửa cơ hội Chúa hứa mở cho HT P. hay cửa Chúa gõ để vào ăn tối như trong HT L. Đây là cửa của một khải tượng từ thế gian lên thiên đàng. Bên kia cánh cửa này là những điều mà ngôn ngữ loài người rất giới hạn vì là những điều nếu không có sự khải thị từ trời thì không ai có thể biết được. Và tiếng thứ nhất mà tôi đã nghe tức là tiếng ĐCJC.
Theo KT thì trời chủ yếu có ba tầng. Tầng trời thứ nhất là bầu khí quyển của trái đất này, nơi có mây, nơi chim bay lượn. Tầng trời thứ hai là vũ trụ bao la ngoài bầu khí quyển trái đất gồm có mặt trăng, mặt trời, các hành tinh trong thái dương hệ, hàng tỉ tỉ dãy ngân hà và vô số ngôi sao. Tầng trời thứ ba là từ dùng trong 4:1; nơi chúng ta gọi là thiên đàng, là nơi ĐCT ngự, nơi mà sau khi qua đời người tin Chúa sẽ về đó để sống đời đời.
Vậy khi Giăng trong khải tượng được Chúa cất lên trời thì không phải là ông đến một hành tinh xa xôi nào đó nhưng đến nơi Đấng Chí Cao hiện diện. Đây cũng chính là tầng trời mà sứ đồ PL viết: Tôi biết một người trong Đấng Christ, cách mười bốn năm trước, đã được đem lên đến từng trời thứ ba (hoặc trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người, tôi chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết). 3 Tôi biết người đó (hoặc trong thân thể người, hoặc ngoài thân thể người, tôi cũng chẳng biết, có Đức Chúa Trời biết) 4 được đem lên đến chốn Ba-ra-đi, ở đó, nghe những lời không thể nói, mà không có phép cho người nào nói ra. (2 Cô-rinh-tô 12:1-4).
Trong khải tượng sứ đồ Giăng nhận được từ ĐTL thì trung tâm điểm của trời hay thiên đàng là một cái ngôi, và trên ngôi có một Đấng đang ngồi đó. Ngôi là hình ảnh, biểu tượng của quyền thế, cai trị. Vua quan trên đất này ngồi trên ngôi, bày tỏ quyền cai trị, sự giàu có, sức mạnh. Nhưng trên tất cả các ngôi của vua quan trên đất này là Ngôi của Đấng Chí Cao. Đức Chúa Trời cai trị các nước, Đức Chúa Trời ngự ngôi thánh Ngài. (TT 47:8) Về năm vua Ô-xia băng, tôi thấy Chúa ngồi trên ngôi cao sang, vạt áo của Ngài đầy dẫy đền thờ. (Ê-sai 6:1).
KT cũng xác nhận không gì có thể so sánh được với Đấng ngồi trên ngôi: Vì ai ở trên trời có thể so sánh cùng CHÚA? Có ai trong vòng các thần giống như CHÚA? 7 Là Đức Chúa Trời đáng kính sợ giữa hội đồng các thánh; Là Đấng vĩ đại và kinh hoàng hơn tất cả những kẻ chung quanh Ngài. (Thi Thiên 89:6-7 – BDM)
KH viết cho tín đồ HT trong thời gian thử thách, bắt bớ, hoạn nạn, khó khăn, thậm chí bị giết nếu tín đồ không chịu thờ phượng đại đế La-mã, tung hô Caesar là chúa, là trời. Vậy hình ảnh ngôi cao của ĐCT nhắc nhở dân sự Chúa trong các HT thời đó chớ quên rằng trên cả ngôi của các vua quan, trên cả ngôi của đại đế La-mã là ngôi của Vua của muôn vua, Chúa của muôn chúa. Rằng Đấng mà con dân Chúa phải tôn thờ là ĐCT chứ không phải đại đế, là Đấng có toàn quyền năng tể trị mọi loài vật và trên mọi loài vật, dù là vua chúa hay chấp chánh, cầm quyền. Hình ảnh của ngôi ĐCT chủ yếu đem lại sự động viên, khích lệ, yên ủi cho người nghe, người đọc KH.
Đấng ngồi đó rực rỡ như bích ngọc và mã não; có cái mống dáng như lục bửu thạch bao chung quanh ngôi. (KH 4:3)
Nếu ngôn ngữ loài người hoàn toàn giới hạn khi tả về cảnh vật nơi thiên đàng, về ngôi Chúa thì dĩ nhiên lại càng giới hạn hơn khi tả về ĐCT, Đấng Chí Cao, Đấng Sáng Tạo muôn loài vật. PL viết về Đấng ngồi trên ngôi: Đấng Chủ tể hạnh phước và có một đến kỳ sẽ tỏ ra, là Vua của mọi vua, Chúa của mọi chúa, 16 một mình Ngài có sự không hề chết, ở nơi sự sáng không thể đến gần được, chẳng người nào từng thấy Ngài và cũng không thấy được, danh vọng, quyền năng thuộc về Ngài đời đời! A-men. (1 Ti-mô-thê 6:15-16).
Giăng chỉ có thể tả về Đấng ngồi trên ngôi rực rỡ như bích ngọc và mã não; có cái mống dáng như lục bửu thạch bao chung quanh ngôi (ngọc thạch anh và ngọc mã não và có cầu vồng bọc quanh ngai giống như ngọc lục bảo – BDM; lục bửu ngọc và hồng bảo ngọc; bao quanh ngai có một cầu vồng trông giống như lam bích ngọc – BD2011; giống loại đá quí, như cẩm thạch và mã não. Quanh ngôi có cái mống, màu như bửu thạch. – BPT). Cũng trong bài giảng đầu tiên về KH tôi giải thích cho qv về những từ dịch thuật khác nhau về các loại đá quí. Điều này cũng để nói lên sự giới hạn của ngôn ngữ dùng để diễn tả sự vinh hiển, cao trọng, vĩ đại của Đấng ngồi trên ngôi nơi thiên đàng.
Trong thư gởi HT L. ĐCJC nhắc: Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài. Đây là ngôi mà không ngôn ngữ nào có thể diễn tả hết được sự vinh hiển, cao trọng, tôn quí không cùng. Chính Đấng ngồi trên ngai đó khi xuống thế gian lại chịu sinh ra trong chuồng chiên máng cỏ tối tăm, thấp hèn, nhơ nhớp, hôi hám. Có thần nào, chúa nào như ĐCJC chúng ta!
Chung quanh ngôi lại có hai mươi bốn ngôi; trên những ngôi ấy tôi thấy hai mươi bốn trưởng lão ngồi, mặc áo trắng và đầu đội mão triều thiên vàng. 5 Từ ngôi ra những chớp nhoáng, những tiếng cùng sấm; và bảy ngọn đèn sáng rực thắp trước ngôi: đó là bảy vì thần của Đức Chúa Trời. 6 Trước ngôi có như biển trong ngần giống thủy tinh, còn chính giữa và chung quanh có bốn con sanh vật, đằng trước đằng sau chỗ nào cũng có mắt.
Thường thì người đọc đoạn KT đều chú tâm vào bốn chi tiết: 24 trưởng lão, về bảy vị thần, biển pha lê, 4 sinh vật trước sau đều có mắt. Mọi người đều muốn biết những điều này là gì, có ý nghĩa gì. Điều này khiến tôi nhớ đến một câu chuyện về một thầy bói nổi tiếng Trung Hoa.
Một thầy bói nổi tiếng xứ Trung Hoa xin đến chầu vua để giải cho vua về tiền đồ của vua và tương lai của cả nước. Sau khi được vua gọi đến chầu, người thầy bói đó cầm trên tay ông bốn cây quẻ. Ông tuyền bố rằng trên mỗi quẻ đó đầy những chi tiết cụ thể về kế tự, tiền đồ của vua, và cả về tương lai quốc gia. Ông đòi vua phải trả cho một số vàng lớn rồi mới giải thích các quẻ này. Không những vàng mà người thầy bói còn đòi cả ruộng đất cho con cháu đời sau. Vua tham khảo các quần thần. Vua được khuyên là hãy từ chối tên thầy bói này. Nghe bị vua từ chối, người thầy bói bình tỉnh bẻ gãy một tấm quẻ trước mặt vua quan, rồi từ tốn nói: Thật tiếc rằng vua và các quan đã mất đi một số dữ kiện quan trọng về tương lai trong tấm quẻ quan trọng này. Thấy vậy vua tham khảo quần thần lần nữa. Lần này vua bảo nếu không cho biết điều gì trong 3 quẻ còn lại sẽ bị chém đầu. Người thầy bói bình tỉnh rồi bẻ gãy thêm một tấm quẻ. Muốn giết thì cứ giết nhưng vua và quan sẽ mất đi tất cả những tiên đoán về tương lai! Vua và các quan bức xúc quá, phần giận, phần tiếc nên thảo luận lại lần. Lần này vua quyết định đồng ý với điều kiện đưa ra để được biết về tương lai. Quí vị có biết điều gì ghi trong 3 tấm quẻ còn lại không? Tôi cũng không biết vì nó viết bằng tiếng Tàu!
Các học giả lỗi KT lạc nhất, những mục sư được ơn Chúa nhất cũng hiểu khác nhau, giải thích cách khác nhau về những điều này. Tuy nhiên tất cả đều đồng ý một điểm quan trọng là hình ảnh mô tả về ngôi ĐCT trong KH 4 cũng đã được viết trong Ê-sai 6 và Ê-xê-chi-ên 1.
Trong hơn 10 tài liệu về KH có thể tóm tắt về giải thích những chi tiết này như sau.
Về 24 trưởng lão, MS Chuck Swindoll liệt 5 cách giải thích khác nhau. Tựu chung 2 cách chính:
Biểu tượng cho toàn thể dân sự thuộc về Chúa từ CU đến TU qua hình ảnh của 12 chi phái Israel trong CU và 12 sứ đồ trong TU
Thiên sứ hàng cao nhất vì gần ngôi ĐCT hơn hết, như viết trong TT 89:6-7 Vì ai ở trên trời có thể so sánh cùng CHÚA? Có ai trong vòng các thần giống như CHÚA? 7 Là Đức Chúa Trời đáng kính sợ giữa hội đồng các thánh; Là Đấng vĩ đại và kinh hoàng hơn tất cả những kẻ chung quanh Ngài.
Về 7 vị thần ĐCT (7 Thần Linh ĐCT – BDM, BD2011), 1 cách giải thích là ĐTL như đã viết trong KH 1:4 & 3:1 về 7 thần linh trước ngai ĐCT Giăng kính gởi bảy Hội Thánh tại Tiểu Á. Cầu chúc anh chị em hưởng được ân sủng và bình an từ Đấng hiện có, đã có và đang đến và từ bảy thần linh trước ngai Ngài. Bảy thần linh này là 7 phẩm tính của ĐTL mô tả trong Ê-sai 11:2 Thần của CHÚA sẽ ngự trên Ngài, Là thần khôn ngoan và hiểu biết, Thần mưu lược và quyền năng, Thần tri thức và kính sợ CHÚA.
Về biển trong ngần như thủy tinh (biển pha-lê), 2 giải thích:
Như biển đúc đồng hay bể thanh tẩy trong đền thờ đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem do vua Sô-lô-môn xây viết trong 2 Sử Ký 4. Thủy tinh trong hay pha-lê cho thấy rằng ĐCT có thể nhìn thấu mọi vật trên trời, dưới đất, bên dưới đất, và suốt cả trời đất, vũ trụ, nói lên tính toàn tri (trí), toàn thức.
Cách giải thích ý nghĩa và hợp lý hơn là của học giả KT D.A. Carson. Thời đó gương bằng thủy tinh không trong suốt như hôm nay, nhưng đục và mờ. Trước câu này là hình ảnh của sấm sét ầm ầm. Vậy đây là một biển sôi động chứ không phẳng lặng, trong suốt. Hình ảnh của biển đây nói lên một khoảng cách sâu thẳm, mênh mông nhưng cũng đầy dẫy hiểm nguy từ sấm sét trên trời. Sau đó tôi thấy trời mới và đất mới, vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã qua rồi, và biển cũng không còn nữa. (KH 21:1) Biển đây tượng trưng cho sự rối loạn, biến loạn, nhiễu nhương, tội lỗi, nguy hiểm. Vậy hình ảnh của chớp nhoáng, sấm sét, tiếng ầm, của biển như thủy tinh tượng trưng khoảng cách mênh mông, sâu thẩm giữa con người tội lỗi chúng ta và một ĐCT hoàn toàn thánh khiết.
Theo Carson thì thêm vào biển là bốn sinh vật càng tăng thêm khoảng cách giữa con người tội lỗi và ngôi thánh khiết của ĐCT: Trước ngôi có như biển trong ngần giống thủy tinh, còn chính giữa và chung quanh có bốn con sanh vật, đằng trước đằng sau chỗ nào cũng có mắt. Con sanh vật thứ nhất giống như sư tử, con thứ nhì như bò đực, con thứ ba mặt như mặt người, con thứ tư như chim phụng hoàng đang bay. 8 Bốn con sanh vật ấy mỗi con có sáu cánh, chung quanh mình và trong mình đều có mắt. (4:6-8)
Bốn sinh vật này là Sê-ra-phim trong Ê-sai 6:2 là thiên sứ cao nhất: Những sê-ra-phin đứng bên trên Ngài; mỗi sê-ra-phin có sáu cánh, hai cái che mặt, hai cái che chân và hai cái dùng để bay. 3 Các sê-ra-phin cùng nhau kêu lên rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân! Khắp đất đầy dẫy sự vinh hiển Ngài!
Và Chê-ra-bim trong Ê-xê-chiên 10:15, là thiên sứ trên hòm giao ước: Mỗi con có bốn mặt, mặt thứ nhất là mặt chê-rúp, mặt thứ hai là mặt người, mặt thứ ba là mặt sư tử và mặt thứ tư là mặt chim ưng. 15 Bấy giờ các chê-ru-bim cất lên. Mắt trước sau cho biết không điều gì có thể dấu được Chúa; Ngài toàn năng, toàn tri, thấy, biết, hiểu rõ mọi điều.
Bốn hình ảnh của 4 sinh vật là sư tử, bò, người, chim tượng trưng cho phẩm tính siêu việt, tuyệt đối khác nhau của ĐCT. Sư tử là chúa của các loài súc vật tượng trưng cho sức vạn năng, toàn năng và oai phong lẫm liệt của ĐCT. Bò tượng trưng cho sự nhẫn nại, kiên trì, không ngừng làm việc. Người tượng trưng cho sự thông minh, trí khôn ngoan, thông sáng. Chim tượng trưng cho quyền tối cao, tối thượng trong cả trời đất và sự quan phòng, như hình ảnh của ĐGHV che chở dân Ngài với bóng cánh chim: Ngài sẽ lấy lông Ngài mà che chở ngươi, Và dưới cánh Ngài, ngươi sẽ được nương náu mình (TT 91:4)
Bốn con sanh vật ấy mỗi con có sáu cánh, chung quanh mình và trong mình đều có mắt; ngày đêm lúc nào cũng nói luôn không dứt: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn năng, Trước Đã Có, Nay Hiện Có, Sau Còn Đến! 9 Khi các sanh vật lấy những sự vinh hiển, tôn quí, cảm tạ mà dâng cho Đấng ngự trên ngôi là Đấng hằng sống đời đời, 10 thì hai mươi bốn trưởng lão sấp mình xuống trước mặt Đấng ngự trên ngôi, và thờ lạy Đấng hằng sống đời đời; rồi quăng mão triều thiên mình trước ngôi mà rằng: 11 Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên. Quan trọng hơn hết là điều các trưởng lão và các sinh vật không dứt thờ phượng, ca tụng ĐCT. Và lời thờ phượng ca tụng là Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Chúa, là Đức Chúa Trời, Đấng Toàn năng, Trước Đã Có, Nay Hiện Có, Sau Còn Đến.
Khi nghĩ về ĐCT thường chúng ta nghĩ đến tình yêu thương, sự nhân từ, lòng thương xót, nghĩ đến ân điển, sự tha thứ tội, sự quan phòng, bảo vệ, chở che của Chúa đối với dân sự Ngài. Đúng. Nhưng hình ảnh trong KH 4 cho thấy một khoảng cách bao la, mênh mông, vô cùng, vô tận giữa nơi Chúa ngự và trái đất này, giữa ĐCT thánh khiết và loài người tội lỗi, nhỏ mọn, thấp hèn. Khi hướng mắt chúng ta lên ngôi Chúa chúng ta ý thức sự nhỏ nhoi, hèn mọn, tội lỗi xấu xa nhưng cũng để chiêm ngưỡng ĐCT vĩ đại, thánh khiết, toàn mỹ, toàn thiện, toàn năng, toàn tri.
Nếu không có sự chết chuộc tội của ĐCJC, nếu không có HT Chúa trên đất này thì cách gì con người tội lôi chúng ta có thể đến với Đấng ngồi trên ngôi cao cả, thánh khiết giữa tiếng thờ phượng, ngợi khen không dứt của muôn vàn thiên sứ. Thật là một tương phản giữa các HT đầy tì vết, cần ăn năn trên đất và một ngôi cao trọng trên trời nơi Chúa ngự!
Những sự đã thấy
Những việc nay hiện có
Những việc sau sẽ đến
Khải thị về Chúa Giê-xu (1)
Thư gởi cho 7 hội thánh Tiểu Á (2-3)
Khải thị về những việc tương lai (4-22)
Bấy giờ tôi xây lại đặng xem tiếng nói với tôi đó là gì (1:12)
Hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh (2:1, 8, 12, 18; 3:1, 7, 14)
Hãy lên đây, ta sẽ cho ngươi thấy điều sau nầy phải xảy đến. (4:1)
Hy Lạp
ESV
BTT
BDM
BD2011
ἴασπις
jasper
bích ngọc
ngọc thạch anh
lục bửu ngọc
σάπφιρος
sapphire
đá lam bửu
lam ngọc
lam bảo ngọc
χαλκηδών
chalcedony
lục mã não
ngọc mã não
bạch lục ngọc
σμάραγδος
emerald
đá lục cẩm
bích ngọc
lam bích ngọc
σαρδόνυξ
sadonyx
hồng mã não
bạch ngọc
bạch bảo ngọc
σάρδιον
sardius
đá hoàng ngọc
ngọc hồng mã não
hồng bửu ngọc
χρυσόλιθος
chrysolite
ngọc hoàng bích
kim lục thạch
hoàng bích ngọc
βήρυλλος
beryl
ngọc thủy thương
lục ngọc
lục bích ngọc
τοπάζιον
topaz
ngọc hồng bích
hoàng ngọc
hoàng bửu ngọc
χρυσόπρασος
chrysoprase
ngọc phỉ túy
ngọc phỉ túy
phỉ thúy ngọc
ὑάκινθος
jacinth
đá hồng bửu
ngọc hồng bửu
hoàng hồng ngọc
ἀμέθυστος
amethyst
đá tử bửu
ngọc tử bửu
tử bửu ngọc
Khải Huyền 4
Ê-sai 6 và Ê-xê-chi-ên 1, 10
Ngôi Đức Chúa Trời (2-6)
Về năm vua Ô-xia băng, tôi thấy Chúa ngồi trên ngôi cao sang, vạt áo của Ngài đầy dẫy đền thờ. (Ê-sai 6:1)
Cầu vòng (3)
Ánh sáng thấy chung quanh đó giống như ánh sáng của cái mống trong mây khi đang mưa. (Ê-xê-chi-ên 1:28)
tiếng ầm ầm và tiếng sấm (5)
một đám mây lớn bọc lửa giãi sáng khắp tư bề; từ giữa nó, thấy như loài kim bóng nhoáng ra từ chính giữa lửa. (Ê-xê 1:4)
lửa nhoáng sáng và có chớp từ nó phát ra. 14 Các vật sống ấy chạy đi và trở lại như hình trạng chớp nhoáng. (Ê-xê 1:13-14)
Thần Linh của ĐCT (5)
đi tới nơi nào thần dẫn dắt (Ê-xê 1:12
Biển pha-lê (6)
Trên đầu các sinh vật có cái gì giống cái vòm thủy tinh sáng ngời, dễ sợ; giải rộng trên đầu chúng. (Ê-xê 1:22)
Bốn sinh vật (6-8)
Từ giữa nó, thấy giống như bốn vật sống, (Ê-xê 1:5)
Đầy mắt (6)
vòng bánh xe cao và dễ sợ; và vòng bánh xe của bốn con đều đầy những mắt. (Êx1:18)
Sư tử, bò, người, chim (7)
bốn con đều có mặt người; bốn con đều có mặt sư tử ở bên hữu; bốn con đều có mặt bò ở bên tả; và bốn con đều có mặt chim ưng. (Ê-xê 1:10)
Sáu cánh (8)
Những sê-ra-phin đứng bên trên Ngài; mỗi sê-ra-phin có sáu cánh (Ê-sai 6:2)
Tung hô Thánh thay, thánh thay, thánh thay (8)
Các sê-ra-phin cùng nhau kêu lên rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay (Ê-sai 6:3)
