Hội Thánh Nghèo Khó Nhưng Giàu Có – Ba Điều Chúa Biết Về Hội Thánh Si-miệc-nơ
Nầy là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại
Thư thứ hai trong 7 thư cho 7 HT vùng Tiểu Á trong KH gởi cho HT Si-miệc-nơ. Đây là 1 trong 2 thư gởi cho các HT mà ĐCJC không hề có một lời, dù chỉ một lời trách móc hay sửa chỉnh. HT Ê-phê-sô được Chúa khen là tích cực, năng nổ, tận trung trong sự phục vụ, là 1 HT chính thống, giữ vững đức tin vào lời Chúa dạy, phân biệt được giáo sư giả với người giảng đúng lời Chúa, tránh xa các tà giáo, đi đúng đường lẽ thật. Nhưng Chúa quở trách họ đã đánh mất đi tình yêu thương ban đầu và cảnh cáo sẽ lấy đi HT nếu không ăn năn, thay đổi. Với HT S., ĐCJC không hề có lời trách móc, sửa chỉnh hay cảnh cáo, dù chỉ một lời.
Thành phố S. nằm khoảng 35 miles phía bắc của thành phố Ê-phê-sô và cũng là một thành phố cảng. Trong số 7 thành phố mà 7 thư gởi đến, S. là thành phố duy nhất đến nay vẫn còn tồn tại. S. ngày nay có tên là Izmir, một thành phố cảng cạnh biển Agean, và thành phố lớn thứ 3 của xứ Thổ Nhỉ Kỳ.
Lịch sử của thành phố phản ảnh lời của ĐCJC trong thư gởi HT. Đây là một thành phố đã chết nhưng rồi sống lại, như lời xưng của ĐCJC trong thư gởi: Nầy là lời phán của Đấng trước hết và Đấng sau cùng, Đấng chết rồi mà đã sống lại (KH 2:8). Vào thế kỷ thứ 6 trước khi Chúa giáng sinh (trước công nguyên) thành phố S. bị vua Alyattes xứ Lydia hủy diệt, nhưng đến năm 334 BC đại đế Alexander the Great ra lệnh xây lại thành phố. Thành được xây lại và hoàn tất năm 290 BC, gần biển và là một trong những thành phố đẹp nhất trong vùng biển Agean với 2 đền thờ của thần Zeus và Cybele nối với nhau bởi một khuôn viên rộng lớn, và những đường phố đẹp gọi là “con đường vàng” (the street of gold). S. tự hào là thành phố đầu tiên và là niềm hãnh diện của vùng Tiểu Á (first in Asia & pride of Asia). Đây là nơi sinh ra của đại văn hào Homer, Hy Lạp.
[Hình thức của 7 lá thư – slide]
Ta biết hoạn nạn và nghèo khó của con (nhưng con vẫn giàu có) và lời vu cáo của những kẻ tự xưng là Do Thái mà thực ra không phải, nhưng chúng thuộc về hội đường của Sa-tan. (2:9 – BDM)
Ba điều Chúa biết về HT Si-miệc-nơ: 1) Cơn hoạn nạn HT đã, đang và sẽ còn trải qua; 2) Cảnh nghèo khó của tín đồ HT; 3) Lời vu khống của người DT với HT.
HOẠN NẠN VÌ KHÔNG THỜ LẠY CAESAR
Ta biết hoạn nạn... Từ hoạn nạn (khốn khó – BTT) cho biết về những thử thách, khó khăn, bắt bớ, tù đày, gian khổ mà tín đồ HT đã, đang và sẽ còn phải trả qua.
Không chịu thờ lạy đại đế là một nguyên nhân chính của cơn hoạn nạn HT S. S. là thành phố đầu tiên vùng Tiểu Á xây đền thờ nữ thần La-mã (goddess Roma) vào năm 195 BC và đến năm 26 AD được chọn trong số 10 thành phố lớn để được xây đền thờ đại đế Tiberias. Việc thờ phượng đại đế (Emperor worship, neokoros) là một niềm tự hào của lịch sử và dân cư thành phố. Hàng năm dân chúng trong thành phải đến đền thờ đại đế để quỳ lại tung hô Ceasar là chúa và trời (lord & god) và rải hương vào lò lửa trước tượng đại đế để bày tỏ lòng trung thành và để được cấp cho một giấy chứng nhận thờ lạy đại đế. Theo luật thì công dân thành phố, dù thượng lưu hay hạ lưu, đều phải dâng của cúng và thờ lạy đại đế trong các dịp lễ.
Dân chúng thời đó nhìn người tin Chúa với cặp mắt hoài nghi và khinh khi. Họ cho người theo ĐCJC là người “vô thần”. Vì người La-mã, hay Hy-lạp hay các giống dân khác đều thờ nhiều thần khác nhau và mỗi thần đều có một hình tượng. Nếu người DT không có hình tượng thì người tin ĐCJC cũng không có hình tượng gì nơi các nhà họ nhóm họp hàng tuần. Nếu có chăng là hình ảnh thập giá, là tượng trưng cho sự trừng phạt ghê sợ nhất của La-mã.
Tương phản với các vị thần đẹp đẽ, quyền năng dân chúng thờ phượng thì người tin Chúa thờ lạy Đấng Christ, là người bị phản bội bởi chính môn đồ, bị đánh đập, chê khinh, bị nhổ vào mặt rồi đóng đinh trên thập giá như một tử tội nhục nhả giữa 2 tên trộm cướp. Ai lại ngu dại đến nỗi dùng thập tự giá để làm biểu tượng của niềm tin và chịu mất mát, tù đày, mất tài sản, thậm chí cả đến mạng sống vì một người bị đóng đinh đến chết trên thập giá. Dân chúng cũng tung tin đồn là người tin Chúa khi nhóm lại với nhau thì họ ăn thịt, uống máu người. Họ lăng chạ với nhau vì mọi người đều gọi nhau là anh chị em, là con cái của ĐCJC. Vì sự hoài nghi và khinh dễ này của dân chúng với người tin Chúa nên họ càng khinh, càng ghét khi tín đồ từ chối không vào đền thờ và tung xưng Caesar là chúa & trời. Dân chúng buộc tội tín đồ không chỉ làm trái luật pháp nhưng còn là những người có ý nổi loạn với chính quyền La-mã.
Dĩ nhiên việc lập đền thờ để dân thờ lạy đại đế là cách để buộc dân chúng bày tỏ sự trung thành và vâng phục của dân chúng với đế quốc và đại đế La-mã. Nhưng đây cũng là một thủ đoạn của La-mã để giữ sự yên ổn, tránh sự nổi loạn của dân chúng trong các quốc gia, lãnh thổ đế quốc La-mã chinh phục. Cách thức này có thể gọi là đổi thần.
Thông thường thì sau khi chinh phục một quốc gia, lãnh thổ nào thì có 2 cách để đồng hóa dân chúng trong xứ bị chinh phục. Các thứ nhất là bắt dân sự, giải về xứ của đế quốc hay đày họ đi các vùng xa quê hương. Như sau khi chinh phục và tàn phá thành Giê-ru-sa-lem thì đế quốc Ba-by-lôn bắt dân DT trong thành giải về xứ Ba-by-lôn. Các thứ 2 là đem dân của xứ họ đến ở và thay đổi phong tục, tập quán và cả tôn giáo, như Tàu đang cố làm tại VN hay các nước nhỏ khác nó muốn chiếm hôm nay. Lý do là để cắt rời dân sự khỏi xứ sở, khỏi phong tục, tập quán, và tôn giáo, khỏi nghi lễ và các thần họ thờ phượng để dễ đồng hóa họ hơn và ngăn ngừa những cuộc nổi loạn.
Nhưng đế quốc La-mã có cách thức riêng, gọi là đổi thần. Họ buộc dân vừa bị chinh phục phải thờ một số thần của xứ La-mã. Và để công bằng, quân lính và dân chúng La-mã cũng sẽ thờ một số thần của dân bản xứ. Vậy cách này mới có tên là đổi thần. Anh thờ thần tôi, tôi thờ thần anh. Khi dân chúng muốn nổi loạn thì họ không thể cầu nguyện với các thần của họ hay thần người La-mã phù hộ cho chiến thắng bởi vì cả dân & lính La-mã cũng cầu nguyện các thần này. Tất cả các dân bị La-mã chinh phục đều phải tuân thủ theo luật đổi thần này. Dĩ nhiên người tin Chúa từ chối làm điều này vì chỉ có Giê-xu là Chúa, chứ không có một thần, một chúa, một trời nào khác.
SỰ NGHÈO KHÓ CỦA TÍN ĐỒ S.
Ta biết hoạn nạn và nghèo khó của con. Tín đồ HT S. gặp hoạn nạn, lại còn chịu sự nghèo khó. Tín đồ thời đó thường là những người thuộc thành phần thấp hèn trong xã hội: nô lệ, phụ nữ, những người làm công, làm thuê. Làm để đủ sống đã là điều khó khăn, vất vả. Nhưng khi tin Chúa họ còn có thể bị mất việc làm, bị kỳ thị, hay bị người DT quấy rối, xách động phá hoại nhà cửa, tài sản. Vì anh em đã thương kẻ bị tù, và vui lòng chịu của cải mình bị cướp, bởi biết mình có của cải quí hơn hằng còn luôn. (Hê-bơ-rơ 10:34)
Nếu tín đồ là người DT thì sự kỳ thị, bắt bớ càng hơn. Như nhiều người VN từ gia đình gốc gác ông bà thờ cúng tổ tiên hay theo đạo Phật bị gia đình từ bỏ vì theo “đạo bỏ ông bỏ bà”, thì tín đồ người DT bị trục xuất, dứt phép thông công khỏi nhà hội, bị đuổi ra khỏi nhà vì theo tà giáo mà bỏ ĐGHV. Khi Giăng viết KH thì số người DT trong thành phố S. rất đông và họ kịch liệt chống đối đạo Chúa và người theo Chúa cách dữ dội. Và cũng như người ngoại, dân DT chống đối HT và tín đồ Chúa bằng cách vu cáo, gièm pha người tin Chúa là chống đối chính quyền La-mã vì không chịu thờ lạy đại đế.
Sự nghèo khó có thể do sự thay đổi đời sống của tín đồ. Trước đó họ có thể làm bất cứ nghề gì, làm bất cứ điều gì, bằng bất cứ cách nào để kiếm sống. Nhưng sau khi tin Chúa họ từ chối đi theo con đường rộng, khoảng khoát mà vô số người đi để làm ăn, sinh sống, để kiếm tiền, làm giàu mà tự chọn đi theo con đường hẹp ít người đi. Người tin Chúa không thể lừa dối để làm lợi cho mình mà hại cho người. Không thể làm việc bất chính, trái với luật pháp. Không chỉ luật pháp của chính quyền La-mã hay HK nhưng còn theo luật pháp của ĐCT, theo lời dạy KT.
Một ví dụ cụ thể nhất là về 2 công ty thương mãi rất lớn là Hobby Lobby và Chick-fil-A. Cả hai công ty đều đóng cửa ngày Chúa nhật và đóng cửa sớm vào các ngày lễ Phục Sinh, Giáng Sinh để nhân viên có thể đi nhà thờ hay dự các buổi thờ phượng. Vì tin KT nên người sáng lập 2 công ty này tin rằng hôn nhân chỉ giữa 1 nam và 1 nữ, dù niềm tin này trái với ý nghĩ ngày nay. Vì vậy các tổ chức ủng hộ người đồng tính, ủng hộ hôn nhân của người đồng tính kịch liệt chống đối và tẩy chay 2 công ty này, đặc biệt là Chick-fil-A. Họ bị cấm không cho mở tiệm tại nhiều phi trường, thành phố, hay các trường đại học chỉ vì niềm tin này hay chỉ vì ủng hộ tài chánh cho các tổ chức từ thiện theo đạo Chúa. Vì áp lực của các tổ chức LGBTQ, vài tuần trước đây, Chick-fil-A tuyên bố chấm dứt việc ủng hộ tài chánh cho 2 tổ chức từ thiện là Salvation Army và Fellowship of Christian Athletes (FCA).
SỰ CHỐNG ĐỐI CỦA DÂN DO THÁI TRONG THÀNH S.
Ta biết hoạn nạn và nghèo khó của con (nhưng con vẫn giàu có) và lời vu cáo của những kẻ tự xưng là Do Thái mà thực ra không phải, nhưng chúng thuộc về hội đường của Sa-tan.
Khi nói mọi dân đều phải tuân thủ luật đổi thần của đế quốc La-mã thì chỉ trừ một dân là ngoại lệ: đó là dân DT. Dân DT không bị buộc phải thờ lạy các thần La-mã và dĩ nhiên người La-mã cũng không thể thờ thần của người DT vì họ không có hình ảnh gì của ĐCT. Dân DT cũng không bị ép buộc phải đến đền thờ mà thờ lạy đại đế La-mã như các dân tộc khác.
Trong thời gian đầu của HT, chính quyền La-mã gia hạn đặc ân không phải thờ lạy đại đế cho cả người tin Chúa vì nghĩ rằng đạo Chúa ra từ Do Thái giáo. Nhưng rồi chính dân DT đả kích việc này và tố cáo với chính quyền rằng tín đồ Đấng Christ không có gì liên quan đến ĐCT trong KTCU, đến tổ phụ của người DT là Áp-ra-ham, Gia-cốp, Y-sắc. Rằng ĐCJC không phải là Đấng Mê-si của dân DT mà chỉ là một kẻ giả hình. Nói cách khác dân DT dùng đặc ân mà chính quyền La-mã ban cho họ để làm khí giới bắt bớ và làm khổ HT Chúa, người tin Chúa.
PL viết trong Ê-phê-sô về dự tính từ trước vô cùng của ĐCT qua ĐCJC sẽ phá tan sự thù hận giữa dân DT và dân ngoại để tạo nên một dân mới trong ĐCJC: Vì chính Ngài là sự hòa bình của chúng ta. Qua thân xác mình, Ngài kết hợp hai khối dân tộc làm một, phá tan mối hận thù như bức tường ngăn cách đôi bên, 15 hủy bỏ Kinh Luật với các điều răn, giáo điều, để từ hai dân tộc tạo nên một dân mới trong Ngài, như thế tạo lập sự hòa hiệp. 16 Qua thập tự giá, trong một phần thân thể duy nhất, Chúa Cứu Thế đã diệt hận thù giữa đôi bên, đem giải hòa cả hai với Đức Chúa Trời. (Ê-phê-sô 2:14-16)
Trong HT Chúa, mối hận thù như bức tường ngăn cách 2 dân không còn nữa. Nhưng trong xã hội thời bấy giờ và mãi đến hôm nay, bức tường ngăn cách đó vẫn còn đó, cao và dầy biết mấy. Cụ thể là sự buộc tội, lên án, vu cáo, gièm pha của dân DT trong thành phố Si-miệc-nơ về các tín đồ HT với nhà cầm quyền La-mã là người tin Chúa không những không đáng nhận đặc ân khỏi thờ lạy đại đế, mà sự bất tuân thủ luật pháp là hành động nổi loạn, chống đối cùng chính quyền. Rằng tín đồ ĐCJC không thờ phượng ĐCT mà thờ vua Giê-xu, họ không trung thành với thần nào, hay với đại đế Caesar mà chỉ trung thành với vua Giê-xu.
Dân DT chống đối ĐCJC và các lãnh đạo và các thầy tế lễ của họ lên án ĐCJC, buộc Phi-lát phải đóng đinh Chúa. Dân chúng DT ném đá tiên tri Ê-tiên cho đến chết khi ông làm chứng rằng ĐCJC là Đấng Mê-si viết trong KTCU. Họ chống đối và bắt bớ sứ đồ PL tại những nơi PL giảng TL và làm chứng về sự chết và sống lại của ĐCJC vì tội lỗi của con người. Trong chuyến truyền giáo thứ I, tại thành Lystra họ ném đá PL và kém PL ra ngoài thành vì tưởng ông đã chết. Tại thành Cô-rinh-tô họ chống đối PL dữ tợn đến nỗi PL tuyên bố: Khi Si-la và Ti-mô-thê từ Ma-xê-đoan đến, Phao-lô tập trung vào việc giảng Đạo, chứng minh cho người Do Thái rằng Đức Giê-su chính là Chúa Cứu Thế. 6 Thấy họ chống đối và phạm thượng, ông giũ áo mà bảo họ: "Máu. các ông đổ lại trên đầu các ông! Còn tôi đã hết nhiệm vụ! Từ nay tôi sẽ đi đến các dân tộc ngoại quốc!" (CV 18:5-6 – BDM).
Sau chuyến truyền giáo thứ 3 khi trở lại thành Giê-ru-sa-lem, họ vu oan cho PL làm ô uế đền thờ và xém đã giết được ông. Sau đó họ lại lập mưu lần nữa để giết PL Đến sáng, người Do Thái âm mưu với nhau và thề sẽ nhịn ăn nhịn uống cho đến khi nào giết được Phao-lô. 13 Có hơn bốn mươi người tham gia âm mưu ám sát này. 14 Họ đến trình với các thượng tế và các trưởng lão: "Chúng tôi đã thề sẽ tuyệt thực cho đến khi nào giết được Phao-lô. 15 Bây giờ, xin quý vị và Hội Đồng yêu cầu viên quan La Mã giải nó xuống, làm như quý vị muốn điều tra vụ này cho chính xác hơn. Còn chúng tôi sẽ chuẩn bị sẵn sàng để giết nó trước khi nó đến đây." (CV 23:12-15)
Sự chống đối, bắt bớ của dân DT với tín đồ và HT S. thể hiện rõ nhất qua sự tử đạo của giám mục Polycarp vào ngày 2 tháng 2, 156AD (tức khoảng gần 60 năm sau khi sứ đồ Giăng được Chúa khải thị viết thư cho HT S.) Khi giám mục Polycarp bị bắt và giải vào thành phố, quan lính La-mã bảo ông hãy chối Chúa và tuyên Caesar là chúa: Có hại gì nếu ông chỉ dâng của cúng cho đại đế? Polycarp từ chối. Sau đó ông bị giải ra trước thống đốc tại một thí trường. Quan bảo P.: Hãy nghĩ đến tuổi già (lúc ấy P. 86 tuổi). Hãy thề với Caesar. Chỉ thề rồi ta sẽ thả ngươi ra. Chối Jesus Christ. P. trả lời: Suốt 86 năm trời tôi đã hầu việc Ngài và Ngài không hề làm gì sai với tôi, thì thế nào tôi có thể xúc phạm đến Chúa tôi, Đấng đã cứu tôi? Thống đốc giục người giám mục già yếu: Hãy thề với Caesar. Nếu không ta sẽ cho thú dữ xé xác ngươi. P. trả lời: hãy thả thú dữ ra.
Dân chúng trong thành gom lấy củi thành đống lớn. P. xin họ đừng trói ông rồi ông cầu nguyện trước khi bị đốt: Lạy ĐCT toàn năng, Cha của ĐCJC, qua Ngài chúng con biết Chúa... Con cám ơn Chúa đã xem con xứng đáng hôm nay và trong giờ này để nhận chén của Đấng Christ trong số các tử đạo. Khi lửa cháy bừng, thì có ngọn gió thổi bạt lửa khỏi người P. Để tránh cho ông khỏi kéo dài sự đau đớn, một người lính dùng gươm đâm P. chết đi.
Khi ĐCJC phán: lời vu cáo của những kẻ tự xưng là Do Thái mà thực ra không phải, nhưng chúng thuộc về hội đường của Sa-tan, Chúa nói một điều vô cùng quan trọng: một người không thể được xét bởi lời nói hay truyền thống, nhưng bởi con người thật bên trong, bởi con tim không ai thấy, biết rõ hết được, ngoại trừ ĐCT.
Theo truyền thống, người DT phân biệt họ với dân ngoại qua 2 điều: 1) phép cắt bì, 2) luật pháp Mô-se. ĐCT ban cho Áp-ra-ham phép cắt bì như một dấu để biệt riêng họ khỏi dân ngoại, để họ phục vụ ĐCT. Đây là một dấu bề ngoài trên thể xác. Nhưng sự cắt bì thật là như lời dạy của Giê-rê-mi: Hỡi các ngươi, là người Giu-đa và dân cư Giê-ru-sa-lem, hãy tự cắt bì mình cho Đức Giê-hô-va, và cất dương bì khỏi lòng ngươi! (Giê-rê-mi 4:4). PL giải thích rõ hơn trong Rô-ma: Vì không phải người Do Thái bề ngoài là người Do Thái thật, cũng không phải cắt bì phần xác bên ngoài là cắt bì thật 29 Nhưng người Do Thái thật là người Do Thái bề trong và cắt bì thật là cắt bì trong lòng, bởi Thánh Linh chứ không phải bởi văn tự. Người như thế thì được khhen không phải từ người ta mà từ Đức Chúa Trời. (Rô-ma 2:28-29)
Dân DT trong thành S. gọi nhà hội của họ là nhà hội của ĐCT, nhưng dưới mắt Chúa là nhà hội của Sa-tan vì họ từ chối ĐCJC và họ vu oan, vu cáo, gièm pha, buộc tội oan ức cho dân sự Chúa như Sa-tan là kẻ vu cáo, lên án, buộc tội người tin Chúa với ĐCT. Tên Sa-tan có nghĩa là kẻ vu cáo, buộc tội. Gọi nhà hội của những người DT bên ngoài nhưng bên trong không đúng thật là người biệt riêng cho ĐCT là nhà hội Sa-tan cũng vì đây là nơi thông đồng với chính quyền La-mã để bắt bớ, gây hại cho dân sự Chúa.
Tín đồ cũng nên nhớ lời dạy của ĐCJC rằng không phải miệng chúng ta tuyên xưng Chúa, Chúa là đủ, nhưng tấm lòng, con tim, tâm hồn, suy nghĩ phải thật sự thuộc về Chúa: Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. 22 Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? 23 Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta! (Ma-thi-ơ 7:21-23)
KHÁ TRUNG TÍN ĐẾN CHẾT
Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống. 11 Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh rằng: Kẻ nào thắng, sẽ chẳng bị hại gì về lần chết thứ hai. (KH 2:10-11)
Chúa nhắc nhở và động viên HT S. chớ ngại điều sẽ chịu khổ. Một số sẽ chịu tù ngục, số khác sẽ bị thử thách, số khác nữa sẽ chịu hoạn nạn dù giới hạn trong một thời gian ngắn (10 ngày). Từ 10 ngày đây không phải là theo nghĩa đen 10 ngày, nhưng để nói về một khoảng thời gian cụ thể, ngắn hạn.
Hình ảnh 10 được dùng nhiều lần trong KTCU như trong STK 24:55 khi mẹ và các anh của Rê-be-ca thương lượng với người đầy tớ của Áp-ra-ham để cho con và em gái nán ở thêm với gia đình vài ngày nữa trước khi lên đường về gặp chồng tương lai là Gia-cốp: Mẹ và anh của Rê-bê-ca đáp: "Để cháu ở lại đây với chúng tôi mười ngày nữa, sau đó hãy đi."
Nhưng cụ thể hơn hết là từ 10 ngày này liên quan trực tiếp đến 10 ngày thử thách trong Đa-niên 1:12-14: "Xin ông thử nghiệm chúng tôi là tôi tớ ông trong vòng mười ngày, chỉ cho chúng tôi ăn rau và uống nước thôi. 13 Sau đó, xin ông so sánh diện mạo chúng tôi với diện mạo các thanh niên kia, là những người dùng thức ăn của nhà vua. Và xin ông đối xử với chúng tôi căn cứ theo điều ông nhận xét."
Tín đồ HT đầu tiên biết rõ giá họ chấp nhận phải trả khi quyết định tin và theo Chúa. Không phải một đời sống hanh thông, giàu có, sung túc, thịnh vượng như nhiều mục sư giảng hôm nay: Tin Chúa sẽ được phước hạnh từ vật chất đến sức khỏe, đến con cái, gia đình! Đây là nội dung hoàn toàn trái ngược và xa lạ với lời của ĐCJC cho 7 HT, đặc biệt là HT S. Ngươi chớ ngại điều mình sẽ chịu khổ. Nầy, ma quỉ sẽ quăng nhiều kẻ trong các ngươi vào ngục, hầu cho các ngươi bị thử thách; các ngươi sẽ bị hoạn nạn trong mười ngày. Khá giữ trung tín cho đến chết, rồi ta sẽ ban cho ngươi mũ triều thiên của sự sống.
PL cũng nhắc nhở Ti-mô-thê, người con trong Chúa yêu dấu và là một mục sư trẻ tuổi: Vả lại, hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đức Chúa Jêsus Christ, thì sẽ bị bắt bớ. (2 Ti-mô-thê 3:12). Lời KT không dạy chúng ta phải tìm kiếm sự khổ hạnh hay chịu bắt bớ thì mới thật sự theo Chúa. Nhưng chúng ta hiểu sai lầm lời KT dạy nếu tin Chúa chỉ để được sung túc về đời sống vật chất, được Chúa ban phước cho sức khỏe, cho công ăn việc làm.
Thái độ của người tin Chúa khi trải qua thử thách, hoạn nạn cho biết con người thật, đức tin thật. Nếu chúng ta trở nên cay đắng, oán trách Chúa, hờn giận người, thì nên tự hỏi “tôi tin gì, tôi tin ai?”. Phi-e-rơ dạy: Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; 7 hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra (1 Phi-e-rơ 1:6-7)
Dưới mắt người, HT S. là một HT nghèo khó, chịu nhiều hoạn nạn, bắt bớ, tù đày, bị vu khống, gièm pha, nói xấu nhưng dưới mắt Chúa là một HT giàu có, trung kiên, đáng khen, đáng thưởng. Đây là một ví dụ cụ thể và rõ nhất về sự tương phản giữa giá trị của đời này và của ĐCT. Dưới mắt đời này, một HT được phước, mạnh mẽ là một HT giàu có về tài chính, hanh thông, bình an trong mọi sự, được tiếng khen của người đời. Nhưng dưới mắt Chúa, HT S. dù nghèo khó nhưng lại giàu có, dù gặp hoạn nạn, bắt bớ, tù đày, nhưng lại được ơn phước; dù bị vu khống, gièm pha nhưng lại được tiếng khen của Chúa.
Những điều người đời xem trọng, xem là quí báu, xem là đáng khen, đáng thưởng trong HT chưa hẳn là điều Chúa trọng, điều Chúa khen, Chúa thưởng. Trái lại có thể là những điều Chúa xem thường, thậm chí khinh ghét.
Đúng như lời ĐCJC dạy: Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! 4 Phước cho những kẻ than khóc, vì sẽ được yên ủi!... 10 Phước cho những kẻ chịu bắt bớ vì sự công bình, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! 11 Khi nào vì cớ ta mà người ta mắng nhiếc, bắt bớ, và lấy mọi điều dữ nói vu cho các ngươi, thì các ngươi sẽ được phước. (Ma-thi-ơ 5:3-4,10-11) Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. 14 Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít. (Ma-thi-ơ 7:13)
Lời ĐCJC nhắc HT S. về việc giữ sự trung tín cho đến chết cũng là lời kêu gọi và nhắc nhở mỗi chúng ta. Đức tin không thể đo lường với mức độ khi bắt đầu, thậm chí khi đang trong cuộc hành trình theo Chúa. Nhưng theo thời gian và đến khi hoàn tất cuộc hành trình đó. PL dùng hình ảnh của một cuộc chạy: Hỡi anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đã đạt đến mục đích, 14 nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus Christ. 15 Vậy, hễ những người trọn vẹn trong chúng ta, phải có ý tưởng đó; và nếu anh em tưởng đàng khác, Đức Chúa Trời cũng sẽ lấy sự đó soi sáng cho anh em. (Phi-líp 3:13-15)
ĐCJC hứa sẽ ban cho những người trung tín đến lúc cuối cùng mão (không phải mũ) sự sống. Gia-cơ cũng viết về phần thưởng này cho những người trung tín: Phước cho người kiên trì chịu đựng cơn thử thách, vì sau khi trải qua cơn rèn thử, người ấy sẽ nhận được mão của sự sống, mà Chúa đã hứa cho những người yêu kính Ngài. (Gia-cơ 1:12 – BD2011) Có 2 từ mão trong KTTU: mão triều thiên dành cho vua chúa (diadem) và mão hay vòng hoa cho kẻ thắng cuộc (stephanos) ĐCJC hứa ban vòng hoa cho kẻ thắng cuộc chạy.
Mọi người rồi cũng sẽ chết. Chiến tranh, bệnh tật, tai họa không làm tăng thêm con số tử vong mà chỉ có thể thay đổi cách thức và thời điểm. Sự chết về thể xác là sự chết thứ nhất. Dù đáng sợ đến mấy nhưng đáng sợ hơn muôn vạn lần là sự chết thứ hai, tức sự chết đời đời của những người không có tên trong sách sổ sự sống. Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đang ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. 12 Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy. 13 Biển đem trả những người chết mình chứa; Sự chết và Âm phủ cũng đem trả những người chết mình có. Mỗi người trong bọn đó bị xử đoán tùy công việc mình làm. 14 Đoạn, Sự Chết và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. 15 Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa. (KH 20:11-15)
