Hội Thánh Ít Năng Lực Nhưng Giữ Lời Chúa
Trong 7 thư gởi các HT vùng Tiểu Á, 2 thư chỉ có lời khen, không có lời trách là Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi; 2 thư không có lời khen chỉ toàn lời trách là Sạt-đe và Lao-đi-xê; và 3 thư còn lại gồm cả lời khen tặng, lẫn quở trách là Ê-phê-sô, Bẹt-găm, và Thi-a-ti-ra. Chỉ với 2 thư gởi HT Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi là Chúa không gọi HT phải ăn năn, nhưng tất cả 5 HT còn lại đều được gọi phải ăn năn.
Một điều lạ lùng là cả 2 HT ĐCJC chỉ khen mà không hề trách là 2 HT dưới mắt người đời không có gì đáng nể, đáng trọng. HT S. khốn khó, nghèo khổ, có người bị bỏ vào ngục, chịu thử thách trong 1 thời gian. Còn HT P. là HT có ít năng lực, ít quyền năng (3:8). Chịu gặp bắt bớ, bức hại, khốn khó còn có thể bảo là chịu khó, chịu khổ cho danh Chúa, vì làm theo lời Chúa dạy. Nhưng HT và tín đồ nghèo khổ và kém năng lực thường bị xem thường, xem là yếu đức tin, thiếu ơn phước Chúa, là dấu hiệu của 1 HT, của đời sống tín đồ đang đi xuống.
Nếu có 1 bài học cụ thể và rõ ràng hơn hết khi đọc 7 thư trong KH thì bài học đó là chúng ta phải hết sức thận trọng khi nhận xét, đánh giá HT và tín đồ bởi vì tiêu chuẩn, giá trị chúng ta thường dùng có thể hoàn toàn, 180 trái ngược với tiêu chuẩn, giá trị Chúa dùng. Ai có thể nghĩ Chúa lại trách 1 HT trung tín phục vụ, chính thống trong đức tin, trong giáo điều, phân biệt được tà giáo và chính giáo, giáo sư giả với giáo sư thật như HT Ê về việc quên mất đi tình yêu thương ban đầu. Ai có thể nghĩ Chúa khen 2 HT nghèo khổ, hoạn nạn, ít năng lực, kém ảnh hưởng như HT Si-miệc-nơ và Phi-la-đen-phi. Ai có thể nghĩ Chúa lại quở trách 1 HT trung kiên chịu khổ vì danh Chúa, không chối Chúa dù có tín đồ bị giết vì giữ đạo tại thành phố đầy quyền lực của ma quỉ như HT tại thành Bẹt-găm vì tín đồ nghe theo lời tà giáo như của Ba-la-am và Ni-cô-la. Ai có thể nghĩ gì đáng trách về 1 HT như Thi-a-ti-ra bền đổ trong công việc ngươi, lòng thương yêu ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi, lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa. (2:19). Ai lại không muốn có 1 HT giàu có như Lao-đi-xê cho dù có hơi hâm hẩm, không nóng, không lạnh; chẳng phải hầu hết tín đồ HT đều hâm hẩm hết hay sao? Ai có thể nghĩ 1 HT được người ta khen là HT sống như HT Sạt-đe mà Chúa lại xem là HT chết. Tôi suy nghĩ rất nhiều về điều này sau bài giảng tuần rồi về thư gởi HT Sạt-đe: Làm thế nào tín đồ trong và ngoài HT, cả các HT khác trong vùng đều nhận xét về HT Sạt-đe là 1 HT sống nhưng Chúa lại xem là 1 HT chết? Danh tiếng, tên tuổi của HT, của tín đồ dựa vào tiêu chuẩn gì, của ai? Lời khen tặng, chê bai của ai đáng lấy làm trọng hơn? Chúng ta đánh giá theo bề ngoài hay theo bề trong? Xem trọng 1 HT đông đảo hay 1 HT nhỏ, nghèo nhưng có trái TL?
VỀ HỘI THÁNH PHI-LA-ĐEN-PHI
Trở lại thư gởi HT P. Tất cả các sách giải kinh đều cho biết đây là HT trẻ nhất, mới nhất và có lẽ là HT nhỏ nhất trong số 7 HT vùng Tiểu Á. P. không phải là một thành phố cảng lịch sử nổi tiếng, giàu có với đền thờ nữ thần Artemis, 1 kỳ quan của thời đó như Ê-phê-sô. Không giàu có như Lao-đi-xê đến nỗi khi thành phố bị tàn phá vì cơn động đất năm 60, dân chúng từ chối sự trợ giúp của chính quyền La-mã vì họ giàu đến nỗi có thể tự xây lại cả thành phố. Cũng không có tiếng là trung tâm của việc thờ cúng đế quốc La-mã như tại Bẹt-găm hay người ta cho tiếng là HT sống như Sạt-đe.
P. cách Sạt-đe 28 miles phía đông nam. Hôm nay thành phố có tên là Alasehir, thuộc xứ Turkey. Tên P. có nghĩa là tình yêu thương huynh đệ, được đặt bởi vua xứ Pergamon là Eumenes II để bày tỏ tình yêu thương với em kế ngôi mình là vua Attalus (159-138BC). Cũng như Sạt-đe, thành phố P. nằm trong vùng động đất. Cơn động đất tàn phá thành phố S. năm 17 cũng san bằng P. Nhờ sự giúp đở tài chánh của đại đế Tiberius Caesar thành phố được xây lại và được dân chúng đặt tên mới là Neocaesarea (New Caesar) để tỏ lòng biết ơn.
Tại 1 thành phố luôn bị đe dọa bởi những cơn động đất, thử nghĩ tín đồ của HT nhỏ, ít năng lực này được khích lệ đến chừng nào khi nghe ĐCJC hứa với HT là được làm trụ trong đền Đức Chúa Trời ta. Trụ trong đền thờ ĐCT tượng trưng cho sự bền vững, chắc chắn không chỉ trong một thời gian ngắn nhưng đời đời: 1 hình ảnh hoàn toàn tương phản với viễn ảnh động đất sẽ làm sụp đổ mọi công trình xây cất của con người trong thành phố.
ĐẤNG NẮM CHÌA KHÓA CỦA ĐA-VÍT
Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Phi-la-đen-phi rằng: Nầy là lời phán của Đấng thánh, chân thật, là Đấng có chìa khóa của Đa-vít, mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được: 8 Ta biết công việc ngươi; nầy, ta đã mở trước mặt ngươi một cái cửa không ai đóng được; vì ngươi có ít năng lực, mà đã giữ đạo ta, và chẳng chối danh ta.
Lời tự xưng Đấng thánh là danh chỉ được dùng để nói về Giê-hô-va ĐCT trong CU. Không ai được gọi là Đấng thánh ngoại trừ ĐCT, Đấng Tạo Hóa, Đấng lập giao ước với dân sự Chúa, Đấng hứa sẽ ban một Đấng Mê-si để cứu tội cho con người. Vậy khi ĐCJC tự xưng Ngài là Đấng thánh, Chúa nhận mình chính là ĐGHV, là ĐCT CU.
Đấng có chìa khóa của Đa-vít liên hệ đến Ê-sai 22 về một nhân vật tên Ê-li-a-kim. Theo 2 Các Vua 18, Ê-li-a-kim là một trong 3 người đại diện cho xứ Giu-đa, đại diện vua Ê-xê-chia để điều đình với thượng tướng của đế quốc A-si-ri tên Ráp-sa-kê (2 Các Vua 18:17). Sau đó vua thay Ê-li-a-kim làm quan cai quản cả cung điện (chức giám cung – BTT) thay chổ 1 vị quan tham nhũng, lạm quyền tên Sép-na. Vua Ê-xê-chia ban quyền hạn rất lớn cho Ê-li-a-kim: Vào ngày ấy Ta sẽ gọi tôi tớ Ta là Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia. 21 Ta sẽ lấy áo ngươi mặc cho người, lấy đai ngươi thắt cho người, trao quyền của ngươi vào tay người. Người sẽ là cha của cư dân Giê-ru-sa-lem và nhà Giu-đa. 22 Ta sẽ đặt chìa khóa nhà Đa-vít trên vai người; người sẽ mở thì không ai đóng được và đóng thì không ai mở được. (Ê-sai 22:20-22 - BDM) Có nghĩa là vua ủy thác cho Ê-li-a-kim toàn quyền để quyết định ai được phép ra vào, ai bị cấm không được ra vào cung vua và quản lý tất cả các tài của của vua, cha của dân Giê-ru-sa-lem và nhà Giu-đa. Ê-li-a-kim là biểu tượng, là bóng mà hình là ĐCJC.
ĐCJC là Đấng có chìa khóa của Đa-vít (như giám cung Ê-li-a-kim xưa) mở thì không ai đóng được, đóng thì không ai mở được. Nói lên quyết định và quyền năng tuyệt đối của Đấng giữ chìa khóa. Khi Chúa đã quyết định đóng thì không ai có thể thay đổi quyết định này, khi quyết định mở thì không ai có thể đóng. Không chỉ quyết định, nhưng Chúa còn có toàn quyền phép để ngăn trở và bảo vệ cửa sau khi đã đóng hay mở. Không quyền lực trên trời, dưới đất, bên dưới đất, dù là của loài người hay ma quỉ có thể thay đổi một khi Chúa đã ra lệnh đóng hay mở.
CỬA CHÍNH CHÚA MỞ CHO HT
Ta biết công việc ngươi; nầy, ta đã mở trước mặt ngươi một cái cửa không ai đóng được; vì ngươi có ít năng lực, mà đã giữ đạo ta, và chẳng chối danh ta. (3:8) Cửa này là cửa gì? Trước hết là cửa thiên đàng, cửa của sự cứu rỗi. ĐCJC dạy Ngài chính là cửa ra vào cho những người tìm sự cứu rỗi: Chính Ta là cửa ra vào: Ai qua Ta mà vào sẽ được cứu. Người ấy vào ra và tìm được đồng cỏ. (Giăng 10:9). Không có một cửa nào khác để người qua được cứu, để tìm được đồng cỏ ngoại trừ cánh cửa ĐCJC.
Qv thường nghe đường nào cũng dẫn đến La-mã, đạo nào cũng đưa người đến với Trời. Nhưng đây là suy nghĩ hoàn toàn trái với lời Chúa dạy trong KT. Đúng là có nhiều con đường (đạo là đường). ĐCJC tóm lại làm 2 loại: con đường rộng lớn, khoảng khoát, nhiều người đi, nhưng cuối cùng sẽ dẫn đến sự hư mất, sự chết và con đường hẹp, khó khăn, ít người đi dẫn đến sự sống. Cửa mà chính Chúa giữ chìa khóa, mở mà không ai có thể đóng, đóng mà không ai có thể mở là cửa của con đường hẹp, ít người đi nhưng bên kia cửa, đến cuối đường hẹp là sự sống đời đời. Dĩ nhiên thế gian này có bao nhiêu trăm, ngàn cánh cửa mở ra cho con đường rộng lớn, êm ái mà muôn người tuôn vào; nhưng họ không biết chính ma quỉ hay chúa của thế gian này xây cất và đóng mở những cánh cửa đó.
Nhưng trong ý của câu KT này thì cửa không phải chỉ là cửa của sự cứu rỗi, của thiên đàng, nhưng còn là cửa của cơ hội chia sẻ TL, của cơ hội phục vụ. Trong cách sách/thư TU, hình ảnh của cửa mở là hình ảnh của cơ hội. Như Chúa mở cửa đức tin của người ngoại cho Phao-lô và Ba-na-ba làm chứng trong chuyến truyền giáo thứ 1: Hai người đến nơi, nhóm họp Hội thánh rồi, bèn thật lại mọi việc Đức Chúa Trời đã cậy mình làm, và Ngài mở cửa đức tin cho người ngoại là thể nào. (CV 14:27). Hay PL nói về cửa Chúa mở cho cơ hội giảng dạy về sự cứu rỗi của ĐCJC tại thành Ê-phê-sô trong gần 3 năm trời trong chuyến truyền giáo thứ 3: Nhưng tôi sẽ ở lại thành Ê-phê-sô cho đến lễ Ngũ Tuần, 9 vì tại đó có một cái cửa lớn mở toang ra cho công việc tôi (1 Cô-rinh-tô 16:8-9), hay ở thành Trô-ách trong chuyến truyền giáo thứ 2: Lại khi tôi đã đến thành Trô-ách đặng giảng Tin Lành của Đấng Christ, dầu Chúa đã mở cửa cho tôi ở đó (2 Cô-rinh-tô 2:12). Hay trong lời cầu nguyện của PL trong thư Cô-lô-se: Cũng hãy cầu nguyện cho chúng tôi, xin Đức Chúa Trời mở cửa cho sự giảng đạo, hầu cho tôi được rao truyền lẽ mầu nhiệm của Đấng Christ (Cô-lô-se 4:3)
ĐCJC mở cửa của sự cứu rỗi không phải để người được Chúa chọn chỉ sống khuây khỏa từ khi được cứu chờ đến ngày vào thiên đàng hưởng phước đời đời. Như nhiều người tín đồ nói, miễn sao chân tôi lọt vào thiên đàng là đủ rồi, 1 chân cũng được! Đây là một ý nghĩa thật sai lầm, hoàn toàn trái với lời KT dạy. Nếu đức tin chúng ta có không thể cứu chúng ta khỏi sự ích kỷ cá nhân đến sự phục vụ, thì làm sao đức tin đó có thể cứu chúng ta khỏi địa ngục để vào được thiên đàng (Mark Guy Pearce). Gia-cơ gọi đức tin chỉ qua đầu môi chót lưỡi, đức tin không hành động là đức tin chết.
Chúng ta thường đọc Ê-phê-sô 2:8-9 về sự cứu rỗi đến duy nhờ ân điển bởi đức tin, chứ không phải bởi việc làm để không ai có thể khoe khoang tôi được Chúa cứu vì công đức, vì công quả tôi làm. Nhưng Ê-phê-sô 2:10 dạy rõ về mục đích đời sống của người đã được Chúa cứu là để thực hiện những công việc lành mà ĐCT đã định trước cho chúng ta: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình; 10 vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.
Vậy những người đã vào cửa cứu rỗi cũng sẽ là những người sẽ bước vào cánh cửa của sự phục vụ. Cửa mà ĐCJC mở cho HT P. là cánh cửa của cơ hội chia sẻ TL, của cơ hội phục vụ. Tôi muốn qv chú ý lý do, nguyên nhân mà Chúa mở cánh cửa cơ hội mà không ai có thể đóng cho HT P. Lý do là bởi vì HT có ít năng lực nhưng giữ đạo (lời Chúa) và không chối danh Ngài.
Từ ít năng lực gồm 2 từ mikros và dynamis. Từ mikros được dùng nhiều nơi khác trong TU có nghĩa là nhỏ nhất, thấp nhất như khi Lu-ca viết về người thu thuế Xa-chê, thấp nhỏ người hay trong câu chuyện ngụ ngôn ĐCJC kể về hột cải Nước thiên đàng giống như một hột cải mà người kia lấy gieo trong ruộng mình; 32 hột ấy thật nhỏ hơn cả các giống khác. Và từ dynamis cùng 1 gốc với từ dynamite, thuốc nổ, nói lên sức mạnh, sức lực, khả năng hay ảnh hưởng. Vậy khi Chúa nói HT P. ít năng lực có nghĩa rằng đây là một HT nhỏ, tầm thường, với tín đồ thuộc tầng lớp thấp hèn trong xã hội nên không có 1 tiếng nói, 1 ảnh hưởng gì đáng kể với dân chúng và chính quyền thành phố.
Ít khả năng không phải là một cái cớ để không phục vụ. 1 HT có thể ít năng lực, ít khả năng, ít tài nghệ, ít ân tứ, ít ảnh hưởng nhưng Chúa vẫn có thể xử dụng. Chúng ta cám ơn Chúa vì Ngài không quyết định đóng hay mở cánh cửa cứu rỗi hay cửa cơ hội tùy theo khả năng, tài giỏi, kiến thức, thành phần thượng lưu, học thức trong xã hội, nhưng trái lại chính Chúa lại mở cánh cửa cơ hội phục vụ cho 1 HT ít năng lực. Điều kiện đòi hỏi là trung tín giữ lời Chúa và giữ danh Chúa: một điều kiện cho mọi HT, mọi tín đồ trong mọi nơi chốn, thời đại.
KT dạy rõ rằng chúng ta chia sẻ TL với mọi người nhưng chỉ có ĐTL mới có thể cảm động tấm lòng để họ tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa. Cũng vậy nếu Chúa không mở cửa cơ hội tại bao nhiêu nơi chốn, bao nhiêu thời điểm, bao nhiêu hoàn cảnh thì HT cũng đành bó tay. Bài học là khi Chúa mở những cánh cửa cơ hội, HT Chúa, tín đồ HT phải có sự can đảm, có lòng trung tín, phải hết lòng hết sức mà phục vụ.
Không phải ngẫu nhiên mà Chúa đem các anh chị em tín hữu đến tại thành phố xa mạc, khô khan này để sinh sống, làm việc. Đây là cửa Chúa mở cho tôi và qv để chúng ta đem TL đến cho đồng hương trong thành phố, trong tiểu bang và đến những nơi xa khác. Vấn đề là chúng ta thường hỏi Chúa ơi, tại sao Chúa lại không mở cánh cửa ở nơi nào thời tiết bớt khô khan hơn, có cây xanh nhiều hơn, nhiều người VN hơn. Nói cách khác chúng ta nhìn những cánh cửa Chúa mở cho các HT bạn, cho anh chị em trong Chúa nơi khác mà so sánh, phân bì thay vì vâng phục và hết lòng phục vụ.
Một điều quan trọng tôi muốn nhắc nhở con cái Chúa là chúng ta cần phải dự tính, chuẩn bị để khi Chúa mở những cánh cửa mới cho cơ hội phục vụ thì chúng ta đã sẵn sàng. Cũng có thể Chúa không dùng chúng ta cách trực tiếp nhưng chỉ để chuẩn bị sẵn sàng cho công việc. Mỗi cơ hội đều có thời gian nhất định mà khi đã qua rồi có thể không trở lại được. Như trong thời điểm này tại VN là thời gian rất thuận lợi cho việc truyền bá TL, cho việc huấn luyện, trang bị nhân sự, cho thế hệ tương lai. Vậy chúng ta cần cầu nguyện xin Chúa mở mắt, mở lòng để thấy biết những cánh cửa cơ hội Chúa đã, đang và sẽ mở cho HT để có thể dự phần, có thể cộng tác. Một cửa Chúa cho tôi thấy Ngài mở ra cho HT là việc trang bị, huấn luyện, đào tạo cho một số nhân sự nồng cốt tại HT nơi đây.
Vua Đa-vít có ý nguyện muốn xây đền thờ tại Giê-ru-sa-lem cho ĐCT. Nhưng Chúa cho vua biết rõ rằng chính Sô-lô-môn mới là người Chúa chọn để xây đền thờ. Cánh cửa cơ hội xây đền thờ tại Giê-ru-sa-lem như bị đóng lại với Đa-vít. Dù vậy Đa-vít dốc hết tâm sức để chuẩn bị thật chu đáo cho công trình xây cất đền thờ.
1 Sử Ký 28 ghi lại chi tiết về sự chuẩn bị hết sức chi tiết và chu đáo của Đa-vít để Sô-lô-môn có thể xây đền thờ cho ĐCT. Từ chi tiết của các bản họa đồ về mỗi phần của đền thờ, cho đến số vàng bạc, gỗ quí, cho đến chi tiết về các ban thầy tế lễ. Vua Đa-vít nói: "Tất cả đều ở trong một văn bản do tay CHÚA ở trên ta mà viết ra; Ngài cho ta hiểu tất cả mọi chi tiết của họa đồ... và trong mọi công việc con đều có người vui lòng, người có khả năng về mọi ngành giúp đỡ. Tất cả viên chức và toàn dân đang chờ lệnh con. " (1 SK 28:19-21).
KHÓ KHĂN, CHỐNG ĐỐI
9 Nầy, ta ban cho ngươi mấy kẻ trong những kẻ thuộc về hội quỉ Sa-tan, chúng nó xưng mình là người Giu-đa, mà kỳ thực không phải, nhưng chúng nó nói dối; nầy, ta sẽ khiến chúng nó đến sấp mình xuống dưới chân ngươi, và sẽ cho chúng nó biết rằng ta đã yêu ngươi. 10 Vì ngươi đã giữ lời nhịn nhục ta, ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sẽ đến trong khắp thế gian, đặng thử những người ở trên đất.
Dù khi chính Chúa mở cửa cho cơ hội phục vụ thì không phải là một việc đều sẽ dễ dàng, trôi chảy. Trái lại thử thách, khó khăn, trở ngại, thậm chí thất bại là một phần quan trọng của sự phục vụ. Hầu hết tín đồ đều nghĩ rằng khi bước vào cánh cửa Chúa đã mở để phục vụ thì mọi việc sẽ tiến hành cách tốt đẹp, bình an và sẽ thành công. Tôi không phủ nhận rằng 1 dấu hiệu của ý Chúa cho những việc chúng ta làm là sự thuận lợi, sự bình an, sự thành công. Nhưng điều này không đồng một ý là mọi việc theo ý Chúa đều sẽ xảy ra tốt đẹp. Có ai nghĩ cuộc đời của ĐCJC là cuộc đời gương mẫu hoàn toàn theo ý Chúa nếu chỉ nhìn vào những thuận lợi, thành công. Trái lại, cuộc đời ĐCJC là cuộc đời mà hầu hết tín đồ, nếu có thể, đều muốn tránh. Ai muốn sinh ra trong một làng xóm quê mùa như Na-xa-rét, 30 tuổi vẫn chưa có gia đình, sự sản, thậm chí 1 nơi để gối đầu vào ban đêm. Ai muốn chính các em của mình nghĩ mình là người cuồng trí dù chính mắt họ thấy phép lạ, chính tai họ nghe lời dạy về nước Trời? Ai muốn là kẻ thù của những người quyền thế, giàu có, đạo đức như những người thầy thông giáo, người Pha-ri-si? Ai muốn bị phản bội, bị vu oan, tra tấn, bị nhổ vào mặt, rồi bị đóng đinh cách dã mang giữa 2 tên trộm cướp? Làm thế nào có thể gọi con đường ĐCJC đi là con đường ơn phước?
Khi Chúa mở cửa cơ hội phục vụ, sẽ không có đảm bảm rằng mọi sự đều hanh thông, tươi sáng. Chúa có thể để cho khó khăn, thử thách, thất bại, tủi nhục xảy đến. Bởi vì cánh cửa cơ hội phục vụ Chúa mở không phải chỉ để đem lại kết quả theo ý con người, nhưng theo dự tính và kết quả theo ý Chúa. Trong quá trình đó Chúa cũng sẽ thay đổi người giữ lời Chúa, người trung tín với danh Chúa. Tôi tin điều này quan trọng hơn là kết quả. Vì nếu chúng ta nói mình phục vụ Chúa mà đời sống tâm linh, tính hạnh trong ĐTL không hề thay đổi, vẫn ích kỷ, vẫn tham lam danh vọng, vẫn xem sự thành công, tiếng tăm, mặt mủi của cá nhân mình quan trọng hơn tình yêu thương, lòng khiêm nhường mềm mại, thì chúng ta đã bước vào cánh cửa ma quỉ mở ra chứ không phải Chúa mở ra cho.
11 Ta đến mau kíp; hãy giữ lấy điều ngươi có, hầu cho không ai cất lấy mão triều thiên của ngươi. 12 Kẻ nào thắng, ta sẽ cho làm trụ trong đền Đức Chúa Trời ta, và người sẽ không ra khỏi đó nữa; ta lại sẽ lấy danh Đức Chúa Trời ta, danh của thành Đức Chúa Trời ta, là Giê-ru-sa-lem mới từ trên trời, bởi Đức Chúa Trời ta mà xuống, cùng danh mới ta, mà viết trên người. 13 Ai có tai, hãy nghe lời Đức Thánh Linh phán cùng các Hội thánh!
