Hội Thánh Chúa và Những Bức Tường Ngăn Cách (2): Một Thân Trong Chúa
[Đọc Ê-phê-sô 2:14-19]. Bài giảng tuần rồi theo Ê-phê-sô 2:11-22 là về sự cần thiết của HT đối với người tin Chúa. Tín đồ không thể tăng trưởng độc lập ngoài HT; Chúa ban cho tín đồ ân tứ và ơn phước để họ đóng góp vào công việc HT: 4T. PL cũng dạy trong đoạn KT này rằng sự chết của ĐCJC không chỉ để cứu tội nhưng còn để tạo lập HT của Ngài bằng cách hòa giải giữa 2 dân vốn thù nghịch nhau là dân Y và dân ngoai. Giữa 2 dân này là bức tường thù nghịch ngăn cách vì luật pháp. ĐCT ban cho dân Ỵ, là dân chọn, một ơn phước lớn là luật pháp để họ trở nên nguồn phước cho các dân tộc. Họ lại dùng luật pháp để làm cớ kiêu ngạo, xa cách, tự cao. Đến nỗi trở nên thù nghịch với các dân ngoại.
Trong HT ĐCT cũng có nhiều bức tường chia rẽ, ngăn cách giữa người này với người khác, nhóm này với nhóm khác. Thay vì cùng nhau làm việc Chúa, làm việc cho HT Chúa, thì có lúc chúng ta làm việc cho nhóm tôi, cho ban tôi; thiếu sự nhường nhịn, hiệp một, hòa thuận; thiếu sự hiểu biết, tầm nhìn rộng hơn để nghĩ về lợi ích của nước ĐCT, cho TL, cho HT. Thay vì dùng ân tứ và ơn phước Chúa ban cho để phục vụ, tín đồ trở nên kiêu ngạo, tự phụ, so sánh mình với những người kém hơn, dựng lên những bức tường tài năng, sắc đẹp, khôn ngoan, giàu có…
Trong bài giảng này tôi muốn nói về sự hiệp một trong HT, một đề tài mà qv đã nghe rất nhiều lần về sự cần thiết và quan trọng của sự sống còn và phát triển của HT. Sự hiệp một là điều ĐCJC đã cầu nguyện nhiều lần cho các môn đồ, cho HT trong đêm cuối trước khi Chúa bị bắt và đóng đinh trên thập giá. Nếu ĐCJC đã cầu nguyện nhiều lần cho sự hiệp một thì điều này là điều vô cùng quan trọng cho sự sống còn và phát triển HT; nhưng điều này cũng không dễ làm, trái lạỉ ma quỉ luôn tìm đủ mọi cách để gây chia rẻ, xích mích, lục đục, xào sáo trong vòng tín đồ HT.
Ba điều về sự hiệp một theo lời PL dạy trong Eph 2:14-22: 1) Một dân mới, một thân mới; 2) Một con tim mới; 3) Một đền thờ mới
[Nói về HT tôi nhớ câu chuyện của người mục sư và người giáo sĩ gây quỹ theo Warren Wiersbe về HT vô hình. Nếu HT vô hình thì tiền dâng cũng vô hình!]
MỘT DÂN MỚI, MỘT THÂN MỚI
Mục đích của ĐCJC, qua sự chết trên thập giá, là để làm cho 2 dân thù nghịch trở nên 1 dân mới, nên 1 thân mới, tức HT. Vì, ấy chính Ngài là sự hòa hiệp của chúng ta; Ngài đã hiệp cả hai lại làm một, phá đổ bức thường ngăn cách, 15 là sự thù nghịch đã phân rẽ ra, bởi vì Ngài đã đem thân mình mà trừ bỏ luật pháp của các điều răn chép thành điều lệ. Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài muốn lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài, 16 và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời.
Sự thù hận giữa 2 dân đã được lịch sử ghi lại bao lần từ ngàn năm nay, mãi cho đến tuần lễ rồi. Trong Đệ II thế chiến, Hitler tàn sát khoảng 3 triệu dân Do Thái trong các trại tàn sát bằng ga độc. Mới thứ Bảy tuần rồi một người da trắng tên Robert D. Bowers đã xông vào một nhà hội tại thành phố Pittsburgh, PA bắn chết 11 người và làm cho 2 người khác cùng 4 cảnh sát bịnh thương. Theo tin tức khi bắn xả bằng súng tự động vào số người đang nhóm trong hội thì tên giết người này vừa bắn vừa la Mọi người Do Thái phải chết (All Jews must die), và cũng theo tin tức thì khi đã bị bắt, hắn nói với những người bắt Những người DT này phải chết!
Bức tường giữa 2 dân vẫn còn ngay sau khi họ tin Chúa. Sách CV ghi lại sự khác biệt giữa tín đồ DT và tín đồ ngoại. Tín đồ DT muốn tín đồ người ngoại, dù khi đã tin Chúa, vẫn giữ trọn những luật lệ Mô-se, gồm cả những luật về phép cắt bì, thức ăn, ngày lễ, nhóm họp. Vì lý do này PL và Banaba phải đến Jerusalem để cùng các sứ đồ Gia-cơ, Phi-e-rơ giải quyết vấn đề luật pháp (việc cắt bì, vâng giữ những lễ nghi DT) và đức tin (CV 15). PL giải thích về những vấn đề về thức ăn, ngày lễ, đồ cúng thần giả trong Rô-ma 14.
Mục đích của thư PL gởi cho HT Ga-la-ti là để khuyên bảo tín đồ HT chớ nghe theo lời dạy của một số tín đồ DT khi dạy rằng để được sự cứu rỗi họ phải vâng giữ mọi luật pháp Mô-se. Điều này ảnh hưởng cả đến sứ đồ Phi-e-rơ. Trước khi những người tín đồ DT từ thành Jerusalem đến thì Phi-e-rơ ăn cùng với dân ngoại. Nhưng khi họ đến thì P. lại làm theo luật DT là không ăn chung với dân ngoại. PL đối chất Peter trong Ga-la-ti 2:14-16: nếu anh là người Giu-đa, mà ăn ở theo cách dân ngoại, không theo cách người Giu-đa, thì làm sao anh ép dân ngoại phải theo thói Giu-đa? 15 Về phần chúng tôi, thì sanh ra là người Giu-đa, không phải là kẻ có tội từ trong dân ngoại. 16 Dầu vậy, đã biết rằng người ta được xưng công bình, chẳng phải bởi các việc luật pháp đâu, bèn là cậy đức tin trong Đức Chúa Jêsus Christ, nên chính chúng tôi đã tin Đức Chúa Jêsus Christ, để được xưng công bình bởi đức tin trong Đấng Christ, chớ chẳng bởi các việc luật pháp; vì chẳng có ai được xưng công bình bởi các việc luật pháp.
Bức tường thù nghịch ngăn cách giữa 2 dân đã được ghi lại trong lịch sử HT. Lịch sử HT Chúa đầy những vết nhơ bẩn, đáng xấu hổ, cần ăn năn về thái độ thù ghét đối với dân DT. Có lúc HTCGLM lên án người DT vì là dân đã giết ĐCJC. Hội nghị Elvira (306) cấm hôn nhân hay ăn ở giữa tín đồ và người DT (cha mẹ nào để con gái lấy người DT sẽ bị dứt phép thông công 5 năm); thầy tế (priest) của HTCG sẽ không được tiệc thánh nếu ăn với người DT. Rất nhiều tiên phụ HT, những nhà thần học lỗi lạc nhất trong lịch sử HT như Jerome (thế kỷ 4), Ambrose (cuối thế kỷ 4), Augustine (thế kỷ 5), St. John Chrysostom (Đức Hồng Y tại Constantinople, thế kỷ 4), và ngay cả cha đẻ của phong trào cải cách tôn giáo (Reformation) Martin Luther đã kỳ thị, lên án và có những lời chỉ trích vô cùng nặng nề với dân DT.
Vậy có phải những lời PL viết về sự chết của ĐCJC phá tan bức tường thù nghịch ngăn cách giữa 2 dân, giữa anh chị em trong HT chỉ là mơ tưởng xa vời, không thực tế? Dĩ nhiên không. Tôi xin giải thích. Trong tất cả các tôn giáo, đạo phái trên thế giới hôm nay chỉ có đạo Chúa là một đạo giáo, niềm tin toàn cầu, tức cho đủ mọi dân tộc, quốc gia trên thế giới.
Khi nghĩ đến Phật Giáo, chúng ta nghĩ đến Á Châu; Hồi Giáo, Trung Đông, người Á-rập; Hindu, Ấn Độ; Zen, Nhật Bản. Nói vậy không có nghĩa là PG, HG không có trên xứ này, nhưng đó chỉ là một số rất ít, ngoại lệ. Chỉ có đạo Chúa là toàn cầu. Khi PL viết lá thư Eph từ trong tù tại thành La-mã, thì đạo Chúa chủ yếu ở tại các thành phố xứ Tiểu Á và một vài thành phố Âu Châu (Phi-líp, La-mã). Nhưng đến đầu thế kỷ thứ 4, đạo Chúa trở nên tôn giáo chính thức của đế quốc La-mã, tức gồm một lãnh thổ rất rộng lớn gồm cả Âu Châu, Trung Đông, và Tiểu Á. Công Giáo đến VN vào thế kỷ 16, Tin Lành thế kỷ 19. Ngày hôm nay đạo Chúa phát triển hơn hết là tại các xứ Phi Châu và Nam Mỹ.
[Làn sống tị nạn từ 1975 cho đến 1990 hầu hết đều được bảo lãnh và giúp đở bởi những HT, đoàn thể đạo Chúa. Lý do? Vì tình yêu trong Chúa dù những người tị nạn khác màu da, tiếng nói, phong tục]
Từ những ngày đầu của HT Chúa tại Jerusalem, phép lạ đầu tiên là nói các ngôn ngữ khác nhau: Hết thảy người nói đó, há chẳng phải là người Ga-li-lê sao? 8 Vậy thì sao chúng ta nghe ai nấy đều nói tiếng riêng của xứ chúng ta sanh đẻ? 9 Nào người Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít, kẻ ở tại Mê-sô-bô-ta-mi, Giu-đê, Cáp-ba-đốc, Bông, A-si, 10 Phi-ri-gi, Bam-phi-ly, Ê-díp-tô, đất Li-by gần Sy-ren, nào kẻ từ Rô-ma đến, 11 cả người Giu-đa hoặc người mới theo đạo Giu-đa, người Cơ-rết và A rạp nữa, chúng ta đều nghe họ lấy tiếng chúng ta mà nói những sự cao trọng của Đức Chúa Trời. (CV 2:7-11) Từ 16 xứ khác nhau!
Phép lạ này cho thấy rằng TL phải được truyền giảng cho khắp muôn dân từ mọi nơi có ngôn ngữ. Theo hội thông dịch Wycliffe thì đến tháng 10, 2017 KT đã được dịch ra cho khoảng 3,312 ngôn ngữ. Không có một kinh điển nào được dịch ra cho nhiều thứ tiếng như vậy. Sách KH viết về một cảnh trên thiên đàng như sau: Sau đó, tôi thấy một đoàn người rất đông không ai đếm được, từ tất cả các quốc gia, chủng tộc, dân tộc và ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Chiên Con (KH 7:9-BDM).
Khỏi nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn vào HT nhỏ tại đây: đủ mọi lứa tuổi, người từ tỉnh, thôn, quê, làng nhỏ cho đến thành thị; người cả 3 miền; người làm nail, người làm nghề dạy học… HT ĐCT là một nơi gồm nhiều dân từ nhiều thành phần xã hội khác nhau.
Sau khi tin Chúa, dù là công dân VN hay HK, người tin Chúa còn là công dân nước Trời, người nhà của Chúa và là các viên đá xây đền thờ ĐCT như PL viết: Như thế anh chị em không còn là người xa lạ hoặc dân ngoại nữa, nhưng anh chị em là những công dân đồng quốc tịch với các thánh đồ và là những người nhà trong gia đình của Ðức Chúa Trời, 20 được xây dựng trên nền của các sứ đồ và các tiên tri với chính Ðức Chúa Jesus Christ là đá góc nhà. 21 Trong Ngài cả cấu trúc được kết hợp với nhau, phát triển thành một đền thờ thánh cho Chúa; 22 trong Ngài anh chị em cũng được xây dựng với nhau thành một nơi ngự của Ðức Chúa Trời trong Ðức Thánh Linh. (19-22 – BD2011). Hay như PL viết trong 1 thư khác: Nhưng chúng ta là công dân trên trời; ấy là từ nơi đó mà chúng ta trông đợi Cứu Chúa mình là Đức Chúa Jêsus Christ (Phi-líp 3:20). 3 hình ảnh này đều nói lên sự hiệp một trong Chúa.
Khẩu hiệu chính trên dấu của HK là E pluribus unum, Từ nhiều, nên một. Vì vậy mà một tên khác của HK là Hợp Chủng Quốc, tức là một quốc gia gồm dân từ nhiều quốc gia. Đến những thành phố lớn như NY, qv có thể tìm đủ mọi giống dân trên địa cầu này, từ da trắng, da đen cho đến da vàng, da đỏ, từ châu Phi, châu Á, cho đến châu Âu, châu Mỹ. Thường thì chúng ta gọi người từ xứ khác đến trở nên công dân HK là VN-American, Italian-American, African-American… Có nghĩa là dù đã trở nên công dân HK, họ vẫn giữ đặc thù của phong tục, tập quán, thậm chí tiếng nói từ đất nước nơi họ ra đi. Đây là một điều mà không một quốc gia nào trên thế giới có được.
Công dân nước Trời cũng gồm mọi giống dân trên đất này như dân xứ HK này đến từ mọi qgia khác nhau. Dù mỗi dân vẫn mang phong tục, tập quán, tiếng mẹ đẻ, nhưng bắt đầu nói cùng một thứ tiếng (như dân đây đều nói tiếng Anh) là ngôn ngữ của KT, của lời dạy KT.
Dân HK, bất kỳ đến từ nơi nào, đều phải chịu dưới quyền luật pháp, hiến chương, dưới sự lãnh đạo của tổng thống, thượng-hạ viện và các viên chức nhà nước từ liên ban đến tiểu ban. Dân nước Trời, bất kỳ đến từ quốc gia nào, cũng chịu dưới quyền KT (như hiến chương), dưới sự lãnh đạo của ĐTL của Đấng Christ, và dưới quyền HT như dân sự đối với chính quyền. Và cũng như dân HK có bổn phận, trách nhiệm với quốc gia thì dân nước Trời cũng có bổn phận, trách nhiệm với HT Chúa trên đất này trước khi về trời. Đây là lý do mà tín đồ HT có thể giữ sự hiệp một: không phải vì đều giống nhau, nhưng đều cùng là công dân của nước Trời.
Không chỉ là công dân cùng 1 nước, nhưng còn là anh chị em trong cùng gia đình của ĐCT: Như thế anh chị em không còn là người xa lạ hoặc dân ngoại nữa, nhưng anh chị em là những công dân đồng quốc tịch với các thánh đồ và là những người nhà trong gia đình của Ðức Chúa Trời. (Ê-phê-sô 2:19 - BD2011) Qv có bao giờ kinh nghiệm được sự vui mừng, gần gũi khi gặp một anh chị em trong Chúa, dù khác màu da, phong tục. Lý do gì Pam, Steve, Harriett giúp thiếu nhi, thiếu niên HT? Vì tình yêu thương của Đấng Christ chan hòa trong đời sống họ đến nỗi chan hòa đến HT VN đây.
Người tin Chúa là công dân nước Trời, là người nhà Chúa. Và dĩ nhiên KT dạy mỗi người tin Chúa là một chi thể của thân là HT, đầu là Đấng Christ. PL viết trong 1 Cor 12:17 Anh chị em là thân thể của Ðấng Christ và mỗi người là một bộ phận. (BD2011). Và giải thích rằng các bộ phận không thể nói không cần nhau, hay mỗi bộ phận làm theo ý thích riêng.
Tính đến 2015, trên toàn thế giới có 2.5 tỉ người tin Chúa, tức gần 1/3 tổng dân số thế giới. Có người nói làm sao một thân có đến 2.5 tỉ chi thể! An tâm. Trong thân thể qv và tôi, ước tính theo một bài báo National Geographic trung bình một người có đến khoảng 34 tỉ tỉ (trillion) tế bào. Các tế bào có nhiệm vụ cho các phần thân thể khác nhau, từ da (~35 tỉ) đến mở (~50 tỉ), đến tim (2 tỉ), đến gan (240 tỉ). Phần kết của bài báo có lời sau: Có lẽ điều quan trọng hơn hết là chính sự thật rằng khoảng 34 tỉ tỉ tế bào có thể cộng tác với nhau trong mấy mươi năm, để tạo nên một thân thể con người thay vì tạo nên một cuộc chiến tranh hổn loạn giữa các vi khuẩn ích kỷ là một điều vô cùng kỳ diêu. (Perhaps most importantly, the very fact that some 34 trillion cells can cooperate for decades, giving rise to a single human body instead of a chaotic war of selfish microbes, is amazing)
Chúng ta có được thân xác này là vì ĐCT khiến cho 32 tỉ tỉ tế bào trong người, từ tế bào tim, gan, phổi, đến mắt, mũi, họng cùng làm việc cách hòa hiệp với nhau. Khi 1 tế bào bị hư hoại thì cả thân có thể mang bệnh tật, đau đớn. Cũng vậy cả HT sẽ không thể phát triển khi có sự chia rẽ trong vòng tín đồ.
Sự hiệp một là lời dạy cần được nhắc lại thường xuyên như những lời dạy quan trọng khác trong KT. Nhiều điều trong đời sống tin kính chúng ta nghe, hiểu như sự cứu rỗi, ân điển, sự đổi mới… Dù đã nghe, hiểu nhưng vẫn còn phải được nhắc lại để nhớ, ý thức về tầm quan trọng của những điều này. Như Phi-e-rơ dạy: Nên tôi sẽ nhắc nhở anh chị em luôn luôn về những điều này, mặc dù anh chị em đã biết rồi và nay cũng đã vững vàng trong lẽ thật. 13 Hễ tôi còn sống trong lều tạm nầy bao lâu, tôi nghĩ nên nhắc để anh chị em nhớ cũng là điều đúng. (2 Pet 1:12-13 - BDM)
Tại sao cần được nhắc đi nhắc lại? Bởi vì xung đột, tranh chấp, chia rẽ vẫn còn xảy ra trong vòng tín đồ, trong nhiều hội thánh. Và dù có nghe, hiểu về hiệp một trong Chúa thì không có nghĩa là từ tuần lễ tới hội thánh chúng ta sẽ không còn vấn đề và sẽ có sự hiệp một trọn vẹn.
Chính ĐCJC truyền cho các môn đồ đầu tiên một điều răn mới: Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy. 35 Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta.(Giăng 13:34) Và Chúa lập lại điều răn này trong Giăng 15:12: "Đây là điều răn Ta truyền: Các con hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu các con.
MỘT CON TIM MỚI
Làm thế nào để biết chúng ta là dân nước Trời, là chi thể của một thân là HT mà đầu là Đấng Christ? Tôi không biết qv còn nhớ một số bài giảng tháng 1 năm nay đều về con tim: Thói Quen Của Con Tim, Bí Mật của Con Tim, Chủ mới của con tim, và Ấn chứng của con tim. Chúng ta biết mình thật sự là công dân nước Trời, là chi thể, tế bào của một thân là khi con tim chúng ta thật sự thay đổi. Qv có thể nghe lại 4 bài giảng này để hiểu rõ thế nào là sự thay đổi của con tim.
Thay vì lập lại những điều đã giảng (dù biết chắc rằng qv không còn nhớ gì) tôi sẽ dẫn chứng về sự thay đổi thật sự của con tim của 2 người hoàn toàn khác nhau về giai cấp, tầng lớp trong xã hội để họ có thể trở nên anh em với nhau trong Chúa. 2 nhân vật đó trong thư Phi-lê-môn. P. là 1 trong 4 thư viết khi PL bị giam tại thành La-mã: Col, Phil, Eph và Phil. Đây là một lá thư ngắn chỉ 1 đoạn. Qv có thể đọc P. trong ít hơn 5 phút.
Trong thời PL những bức tường cao nhất, kiên cố nhất, lâu đời nhất là những bức tường ngăn cách giữa người tự do và nô lệ, giữa chủ và tớ, giữa người có quyền hành trên đời sống của một người khác và người bảo sao làm vậy, giữa các dân khác nhau, Giu-đa, Rô-ma, Hy-lạp. Thư PL viết gởi Phi-lê-môn là người chủ, người tự do, người có quyền hành trên vận mạng của kẻ làm nô lệ cho ông (thậm chí có thể giết), là người Hy Lạp giàu có. Lý do của thư là gì? Là về một người nô lệ, người tôi tớ, người chủ bảo sao làm vậy, người có thể bị chủ giết nếu bỏ trốn tên Ô-nê-sim, một nô lệ bỏ trốn và có thể ăn cắp của chủ khi bỏ trốn.
Phi-lê-môn là một người giàu có, có chức phận ở HT thành Cô-lô-se, cùng với vợ và con trai, HT nhóm tại nhà ông. Chú ý lời của PL trong câu 4-5 hoàn toàn giống như trong thư Cô-lô-se. Tôi luôn tạ ơn Đức Chúa Trời mỗi khi nhớ đến anh trong lời cầu nguyện,5 vì được nghe nói về đức tin của anh nơi Chúa Giê-su và tình yêu thương anh bày tỏ cho tất cả các thánh đồ so với Mỗi khi cầu nguyện cho anh chị em, chúng tôi luôn luôn dâng lời tạ ơn Đức Chúa Trời, là Cha của Chúa Giê-su Cơ Đốc chúng ta, 4 vì chúng tôi đã nghe nói về đức tin của anh chị em nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu và về lòng yêu thương đối với tất cả các thánh đồ. (Col 1:3-4 – BDM). Nhờ PL giảng TL mà P. và có thể cả nhà ông được cứu, trưởng thành, trở nên người trưởng lão trong HT Colose: Còn chuyện anh nợ tôi cả cuộc đời của anh, tôi chưa bàn tới (19-BD2011)
Còn Ô-nê-sim là nô lệ trong nhà Philemon, bỏ trốn đến thành La-mã. Trong ý chỉ của ĐCT, Ô-nê-sim gặp được PL, nghe Tin Lành, tin Chúa, được cứu. PL gọi người nô lệ bỏ trốn này là con tôi đã sanh trong vòng xiềng xích, tức là Ô-nê-sim (v10), người như lòng dạ tôi vậy (v12). Không chỉ tin Chúa, Ô-nê-sim được Chúa thay đổi con tim, tấm lòng ông để trở nên người phục vụ tôi trong lúc chịu xiềng xích và truyền giảng Phúc Âm (v12). Tên Ô-nê-sim có nghĩa là hữu ích. Trong câu 11, PL chơi chữ khi viết: ngày trước người không ích gì cho anh, nhưng bây giờ sẽ ích lắm, và cũng ích cho tôi nữa.
Trong thời đó, người chủ của nô lệ có toàn quyền trên đời sống của người làm nô lệ cho họ. Khi nô lệ bỏ trốn, bị bắt lại, chủ sẽ giết. Vậy khi chính PL khuyên Ô phải trở về với chủ (v12 tôi sai người về cùng anh) thì đây là một việc vô cùng nguy hiểm. PL viết thơ này như của cầm (Ê-phê-sô 1:14 Đấng ấy làm của cầm về cơ nghiệp chúng ta) hay bảo chứng cho Ô khi gặp Phi-lê-môn, người chủ mình đã ăn cắp đồ rồi bỏ trốn. Rất khó cho qv và tôi hiểu được sự nguy hiểm này của Ô khi phải về gặp lại chủ. Bị giết, bị tra tấn, bị đày đọ, bị xiềng xích… Tất cả những điều này đều có thể xảy ra cho ông, như đã xảy ra cho bao nhiêu người nô lệ bỏ trốn.
Như PL viết cho P không chỉ nhận Ô về như một người nô lệ, nhưng không phải nhận lại như một nô lệ nhưng hơn hẳn một nô lệ, như người anh em thân yêu, rất thân yêu đối với tôi, huống chi đối với anh thì càng thân yêu hơn biết bao! Cả về tình người lẫn tình trong Chúa. (v16). Thật hết sức cảm động! Còn về PL, ông hoàn toàn tín cẩn người nô lệ bỏ trốn này và sẵn sàng trả mọi giá cho nợ ông thiếu chủ: Nếu người có làm thiệt hại hay mắc nợ bất luận điều gì, anh cứ tính cho tôi… tôi sẽ hoàn lại cho anh (v18, 19).
Chúa thay đổi tấm lòng của Ô, từ một nô lệ có đời sống khốn khổ, nhục nhằn, cay đắng trở nên tình người lẫn tình trong Chúa với PL, một người đang bị tù, và với P, chủ mà ông đã bỏ trốn, một người tự do, giàu có. Nô lệ, tù nhân, chủ nhân, cả 3 trở nên tình người lẫn tình trong Chúa. Đây là hình ảnh vô cùng ý nghĩa, cảm động khi Chúa chạm vào tấm lòng của người được Ngài chọn; khi Chúa thay đổi con tim họ. Thay đổi mơ ước của con tim, tha thứ những bí mật nhơ nhớp của con tim, thay đổi con tim bằng đá trước đây với con tim bằng thịt với huyết của ĐCJC, đập cùng một nhịp với những người mang tim với huyết ĐCJC. Trước đây họ có thể xa lạ, là thù nghịch, nay là anh chị em trong Chúa.
PL viết trong Ga-la-ti, một trong những lá thư đầu tiên: Không còn phân biệt người Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà, nhưng anh chị em tất cả đều là một trong Chúa Cứu Thế Giê-su. (3:28-BM) Và mấy mươi năm sau đó, lập lại trong thư Cô-lô-se, viết từ tù ngục: Vậy, ở đây không còn phân biệt người Hy Lạp hay Do Thái, cắt bì hay không cắt bì, người dã man hay người lạc hậu, người nô lệ hay tự do, nhưng Chúa Cứu Thế là tất cả mọi sự trong mọi người. (3:11)
Cho đến chừng nào chúng ta chưa thật sự tin những lời này. Cho đến chừng nào chúng ta chưa phá bỏ những bức tường giai cấp, gia tộc, chức vụ, tiền của, sắc đẹp, thông minh, tài giỏi giữa anh chị em trong HT, thì con tim chúng ta vẫn còn mang huyết của chính thân mình, chứ không phải huyết của ĐCJC.
Chúng ta cùng đọc lại đoạn KT này: Như vậy, khi làm cho hòa nhau, Ngài muốn lấy cả hai lập nên một người mới trong Ngài, 16 và vì bởi thập tự giá Ngài đã làm cho sự thù nghịch tiêu diệt, nên nhờ thập tự giá đó Ngài khiến cả hai hiệp thành một thể, mà làm hòa thuận với Đức Chúa Trời. 17 Ngài lại đã đến rao truyền sự hòa bình cho anh em là kẻ ở xa, và sự hòa bình cho kẻ ở gần. 18 Vì ấy là nhờ Ngài mà chúng ta cả hai đều được phép đến gần Đức Chúa Cha, đồng trong một Thánh Linh. 19 Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời. (Ê-phê-sô 2:15-19)
