Hãy Tin, Chớ Sợ
Tựa đề bài giảng hôm nay là Hãy Tin, Chớ Sợ, dựa vào một câu chuyện đáng buồn về dân sự Ỵ vì thiếu đức tin vào ĐCT, sinh lòng sợ hãi và làm loạn cùng ĐCT. Câu chuyện này được ghi lại trong sách DSK 13-14. Mục đích của bài giảng này nhằm để nhắc nhở và động viên con cái Chúa trong HT, đặc biệt anh chị em sẽ được bầu chọn vào BĐH nhiệm kỳ mới về sự vâng phục, đức tin, và chướng ngại lớn nhất là sự sợ hãi . Vâng phục, đức tin và sợ hãi. Đức tin và sự vâng phục luôn đi liền với nhau, đúng như lời tựa một bài thánh ca quen thuộc Tin Cậy, Vâng Lời. Lòng tin cậy Chúa sẽ được bày tỏ qua sự vâng phục; và sự vâng phục là thể hiện cụ thể nhất của lòng tin cậy. Đức tin là nền tảng của sự vâng phục: người tin Chúa, người hầu việc Chúa không thể vâng phục, làm theo điều Chúa dạy nếu không có đức tin. Vâng phục giúp đức tin ngày càng mạnh mẽ, vững chắc hơn. Nhưng chướng ngại lớn nhất của sự vâng phục và đức tin là sự sợ hãi. Khi sợ, hoặc chúng ta sẽ bỏ cuộc, hoặc sẽ chạy trốn. Tôi cũng muốn nói rõ rằng ý chính và một số chi tiết trong bài giảng hôm nay dựa theo bài giảng của MS Tim Keller năm 1990.
QUYẾT ĐỊNH KHÔNG VÀO ĐẤT HỨA
DSK 13-14 dạy ghi lại câu chuyện của dân sự Chúa trong đồng vắng 2 năm sau khi ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập. ĐCT ra lệnh cho Mô-se chọn 12 người từ 12 chi phái Ỵ để dọ thám đất hứa Ca-na-an. Mô-se dặn cùng những người đi trinh sát đất: Xem thử đất đai như thế nào, nhân dân xứ ấy mạnh hay yếu, ít hay nhiều, 19 đất đai họ sinh sống ra làm sao? Tốt hay xấu? Các thành họ cư trú thuộc loại nào? Không có tường thành bao bọc hay có tường lũy kiên cố? 20 Đất như thế nào? Phì nhiêu hay cằn cỗi? Có cây lớn trên đất hay không? Các ngươi hãy cố gắng mang về một ít trái cây của đất đó (DSK 13:18-20 – BDM).
Sau 40 ngày trinh sát đất, họ trở về báo cáo cùng Mô-se và dân sự về đất và người trong xứ: thật là đất tràn đầy sữa và mật. Đây là hoa quả xứ ấy. 28 Tuy nhiên, cư dân xứ này thật mạnh mẽ; các thành họ rất lớn và có lũy bao bọc. (13:27-28). Chùm nho họ đem về phải được 2 người gánh. Đất thật tốt, nhưng vấn đề là dân quá mạnh mẽ, thành trì to lớn, kiên cố.
10 người trong số 12 người trinh sát không chỉ nói với Mô-se và dân sự rằng dân trong xứ mạnh mẽ, thành trì kiên cố nhưng họ còn nói thêm vào: Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám, là một xứ nuốt dân sự mình; hết thảy những người chúng tôi đã thấy tại đó, đều là kẻ hình vóc cao lớn. 33 Chúng tôi có thấy kẻ cao lớn, tức là con cháu của A-nác, thuộc về giống giềnh giàng; chúng tôi thấy mình khác nào con cào cào, và họ thấy chúng tôi cũng như vậy. (13:32-33). Họ so sánh dân mình cũng như cào cào nhỏ bé không ra gì sẽ bị diệt mất bởi dân cư cao lớn trong xứ.
Chỉ có Giô-suê và Ca-lép là cả quyết: Xứ mà chúng tôi đã đi khắp đặng do thám thật là một xứ rất tốt; 8 nếu Đức Giê-hô-va đẹp lòng cùng chúng ta, ắt sẽ đem chúng ta vào xứ nầy mà ban cho; ấy là một xứ đượm sữa và mật. 9 Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Đức Giê-hô-va, và đừng sợ dân của xứ, vì dân đó sẽ là đồ nuôi chúng ta, bóng che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Đức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi. (14:7-9). Hai người khuyên dân sự đừng làm loạn cùng ĐCT và đừng sợ dân của xứ.
Thay vì nghe lời khuyên của Giô-suê và Ca-lép, cả dân sự nghe theo lời của 10 người trinh sát kia. KT viết về phản ứng và thái độ của dân sự: Đêm ấy, tất cả nhân dân đều lớn tiếng khóc than. 2 Tất cả dân Y-sơ-ra-ên lằm bằm chống nghịch Môi-se và A-rôn. Toàn dân nói với hai ông: "Ước gì chúng tôi đã chết tại Ai-cập, hoặc qua đời trong sa mạc cho rồi! 3 Tại sao CHÚA đem chúng tôi ra khỏi đất ấy để bắt chúng tôi phải ngã chết dưới lưỡi gươm? Vợ con chúng tôi sẽ trở thành chiến lợi phẩm. Chúng tôi quayvề Ai-cập chẳng hơn sao?" 4 Rồi họ bảo nhau: "Chúng ta phải chọn một vị lãnh tụ và quay về Ai-cập!" (14:1-4 - BDM).
SỢ HÃI DO THIẾU ĐỨC TIN
Cho đến lúc này, dân sự đã rời khỏi xứ Ai-cập hơn 2 năm. Xứ Ai-cập mà họ muốn trở về là nơi chính họ và tổ phụ của họ đã làm nô lệ trong hơn 300 năm trời. Họ quên sự khốn cùng, nỗi nhọc nhằn, đau khổ, nhục nhã của thân phận người làm nô lệ. Họ quên sự vui mừng khi được tự do. Quên đi những phép lạ ĐCT thực hiện qua 10 tai họa giáng trên vua dân Ai-cập để họ được ra đi, phép lạ Chúa tẻ biển để họ đi qua biển như đi trên đất. Quên đi sự hiện diện và chăm sóc của ĐCT qua đám mây ban ngày, trụ lửa ban đêm. Quên đi luật pháp Chúa ban cho qua Mô-se trên núi Si-nai. Sự sợ hãi làm cho dân sự như mất lý trí, thiếu suy nghĩ, và hơn hết quên rằng chính Đấng đã giải cứu họ khỏi vòng nô lệ cũng chính là Đấng hứa sẽ đem họ vào đất hứa. Sự sợ hãi làm cho họ trở nên những người hèn nhát.
Chúng ta đọc trong KH 21 về những người sẽ bị ném vào hồ lửa, nơi bị trừng phạt đời đời. Còn những kẻ hèn nhát, vô tín, đáng ghê tởm, giết người, gian dâm, phù thủy, thờ thần tượng và tất cả những người giả dối thì số phận chúng nó ở trong hồ lửa cháy phừng với diêm sinh; đó là sự chết thứ hai. (KH 21:8) Khi đọc đoạn KT này chúng ta có thể nghĩ, phải lắm, đáng cho những người này bị trừng phạt trong hồ lửa đời đời vì họ là những kẻ tội lỗi, giết người, dâm loạn, phù phép, thờ thần tượng. Nhưng đầu danh sách của những người đáng bị trừng phạt là những người hèn nhát.
Tại sao hèn nhát, lo sợ lại cùng một danh sách với giết người, dâm loạn, phù phép, thờ thần tượng? Tại sao lại bị xử phạt nặng nề trong hồ lửa đời đời như những trọng tội kia? Câu trả lời nằm trong ý nghĩa của từ hèn nhát, lo sợ theo lời KT dạy. KT dạy sự lo sợ sanh ra hèn nhát là thể hiện của lòng không có đức tin vào ĐCT; và sự can đảm là thể hiện của đức tin vào Chúa.
Một điều rất ngạc nhiên là từ hèn nhát đây cũng là từ lo sợ ĐCJC dùng khi nói cùng các môn đồ khi họ lo sợ trước cơn giông bão trên biển Ga-li-lê dù có Chúa trên thuyền: Hỡi kẻ ít đức tin kia, cớ sao các ngươi sợ? (Ma-thi-ơ 8:26). Lời trách của ĐCJC cùng các môn đồ cho thấy liên hệ giữa đức tin và sự sợ hãi, hèn nhát. Sợ vì không có đức tin, sợ vì ít đức tin.
NỖI SỢ HÃI CỦA DÂN SỰ VÀ ĐỨC TIN CỦA G. & C.
Điều gì khiến cho tôi và qv sợ hãi hơn hết? Điều gì khiến mọi người, dù là người Mỹ hay Việt lo sợ hơn hết? Nhiều người sẽ nói họ sợ rắn, sợ chuột, sợ sâu; có người thấy chó, mèo thì sợ lắm. Nhưng những nỗi lo sợ đó không đáng sợ và trầm trọng như hai nỗi lo sợ sau đây: 1) Sự chết; 2) Sự thất bại.
Trước hết mọi người đều lo sợ khi phải đối diện với sự chết. PL gọi sự chết là kẻ thù cuối cùng (1 Cor 15:26). Đối với rất nhiều người, nỗi lo sợ về sự chết như xiềng xích, cùm gông không thể nào cởi ra được. Qv chắc có nghe đại danh hề Charlot (Charlie Chaplain). Trong một cuốn phim không lời xưa, Charlot là một tù nhân, chân bị cùm vào một trái banh sắt. Để khỏi vướng bận về trái banh sắt này, ông đào lỗ rồi chôn nó xuống đất. Sau khi lấp đất lại, Charlot vỗ tay như nói rằng từ nay trở đi tôi không còn lo về trái banh sắt này nữa vì tôi đã chôn nó rồi, vì nó đã không còn đó nữa. Rồi ông bỏ chạy. Qv nghĩ xem điều gì sẽ xảy ra? Sự chết cũng như trái banh sắt cùm vào chân được chôn vào đất. Có thể không còn thấy đó nhưng vẫn còn dính chặt vào chân không chạy thoát được.
Một nỗi lo sợ khác mà mọi người đều kinh nghiệm là sự thất bại, sợ bị người khác từ bỏ, chê bai vì thất bại. Sợ khi người ta biết được những lỗi lầm tôi đã phạm, tật xấu tôi có, biết tôi không đủ khả năng để làm công việc, thì họ sẽ chê bai, khi dễ, từ bỏ tôi. Có lẽ đây cũng là nỗi lo sợ của những người được HT đề cử và chọn để hầu việc Chúa trong BĐH. Vì sợ thất bại, sợ chê bai, chỉ trích nên không dám làm gì cả: không làm thì không ai nói gì, nhưng nếu làm mà thất bại, không tròn công việc thì sẽ bị chê, bị trách.
Nỗi lo sợ thất bại cũng là nỗi lo sợ của tôi trước khi nhận chức vụ quản nhiệm HT. Và cũng là nỗi lo sợ của tôi trong nhiều năm tháng qua khi hầu việc Chúa khi HT không tăng trưởng, tín đồ không lớn mạnh, trưởng thành trong đức tin, ngay cả với chương trình Mơ Ước 2020, cho đến nay chỉ tiêu nhóm 150 người mỗi tuần vẫn còn xa quá tầm tay. Tôi hiểu được phần nào tâm trạng của những anh chị em lần đầu tiên bước vào chức vụ hay phải đảm nhiệm một công việc nào đó mà chưa bao giờ làm qua.
Chính vì 2 nỗi lo sợ về sự chết và thất bại mà 10 trong số 12 người trinh sát và toàn thể dân sự đã quyết định không vào đất hứa dù đó là vùng đất đượm sữa và mật, vùng đất Chúa hứa ban cho họ. Họ chỉ suy nghĩ về sự chết và thất bại mà không hề nghĩ về ĐCT, về lời Chúa hứa, về sự thành tín và sự quan phòng của Chúa trong suốt 2 năm qua khi đi trong đồng vắng.
10 trong số 12 người đi trinh sát đất nói với dân sự rằng vùng đất mà ĐCT hứa ban cho là một xứ nuốt dân sự mình, và tự ví mình chúng tôi thấy mình khác nào con cào cào, và họ thấy chúng tôi cũng như vậy. Dân sự không nghe lời khuyên của Giô-suê và Ca-lép: nếu Đức Giê-hô-va đẹp lòng cùng chúng ta, ắt sẽ đem chúng ta vào xứ nầy mà ban cho; ấy là một xứ đượm sữa và mật. 9 Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Đức Giê-hô-va, và đừng sợ dân của xứ, vì dân đó sẽ là đồ nuôi chúng ta, bóng che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Đức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi.
Họ chắc rằng nếu vào xứ như lời Chúa hứa thì sẽ chết, sẽ bị tiêu diệt, bị nuốt sống bởi dân sự. Cả dân sự đều kinh hãi, sợ đến chết cứng. Suốt đêm họ than khóc, trách móc Mô-se đã dẫn họ ra khỏi xứ Ai-cập rồi dùng dân xứ Ca-na-an để tàn sát họ và con cái họ. Rồi họ bàn nhau tìm một người lãnh đạo khác để dẫn họ trở về lại Ai-cập.
Điều gì khiến Giô-suê và Ca-lép có lời khuyên dân sự hoàn toàn trái ngược với 10 người kia? Niềm tin vào sự thành tín và lời hứa của ĐCT. Đức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi. Không phải 2 người này nghĩ mình tài giỏi hơn, mạnh mẽ hơn, chiến lược, mưu sự hơn. G. & C. không nghĩ về khả năng của mình, thậm sự của Mô-se và cả dân sự Ỵ Họ chỉ hoàn toàn tin tưởng vào lời hứa và sự thành tín của Đấng đã cứu họ; Đấng đã đem họ ra khỏi xứ nô lệ, đã tẻ biển để họ đi như đi trên đất liền, đã ban cho bánh ma-na và đổ thịt từ trời xuống, đã ban cho nước uống từ hòn đá. Họ tin vào Đấng mà trong suốt 2 năm trời khi đi trong đồng vắng đã cùng đi với họ: ban ngày trong cụm mây, ban đêm trong ngọn lửa. Họ tin vào Đấng ngự trong nơi chí thánh trong đền thờ tạm. Họ tin vào ĐCT đã kêu gọi và ở cùng Mô-se, A-rôn để lãnh đạo dân sự suốt 2 năm qua.
ĐIỀU GÌ TRẤN AN NỖI LO SỢ?
Mỗi người đều mong muốn có những cái phao an toàn, có những nơi nương tựa, những cái neo vững chắc để trông cậy khi phải đối diện với những cơn bão trong đời. Có người thì những phao an toàn, nơi nương tựa, neo vững chắc đó là tiền của. Hễ tôi còn có tiền là tôi còn thấy an toàn, tôi không lo sợ. Có người là công việc. Có người là gia đình. Cho đến chừng nào tôi còn có thể trông cậy vào những cái phao này, tôi bình an, không lo lắng, sợ hãi. Nhưng khi nghĩ đến một ngày nào đó vì một lý do gì đó tôi sẽ mất đi những phao an toàn này, thì cảm thấy vô cùng lo sợ.
Trong cuộc sống dưới ánh mặt trời này có phao nào, nơi tựa nào, cái neo nào có thể giữ qv luôn mãi an toàn khỏi mọi phong ba, bão tố trong đời? Câu trả lời là không bởi vì không ai có thể biết cường độ của cơn bão tới sẽ thế nào và kéo dài bao lâu. Một lý do khác là tất cả mọi đều dưới trời này, tiền của, công việc, gia đình rồi cũng sẽ mất, không tồn tại đời đời.
KT dạy người tin Chúa có một cái neo vững vàng, bền chặt không lung lay dù giông bão cuộc đời có vùi dập đến mấy: Chúng ta có hy vọng nầy như cái neo vững vàng bền chặt của linh hồn. (Hê-bơ-rơ 6:19) Hy vọng này là hy vọng gì? Là hy vọng vào ĐCT và lời hứa thành tín của Ngài.
Có những hoàn cảnh trong đời mà thậm chí qv phải vứt bỏ cái phao, phá bỏ nơi nương tựa hay cái neo mình từng cậy nhờ để chỉ hoàn toàn phó thác đời sống mình vào một niềm tin, niềm hy vọng nào đó. Tôi không chỉ nói đến hy vọng, đức tin vào Chúa, nhưng cả đến những người không tin Chúa. Khi vượt biển trốn tị nạn bằng tàu khi đến gần bờ biển Thái Lan hay Mã Lai, dân tị nạn VN mình thường phải tự đục phá tàu để chìm tàu, để tàu không còn dùng được. Lý do là để chính quyền TL hay ML không thể dùng tàu của họ kéo tàu tị nạn ra lại biển để trả lại về VN. Khi phá tàu là sẽ không còn phương cách để có thể trở về. Lúc đó chỉ có một hướng đi, một con đường là về phía trước.
Tiếng Anh có một thành ngữ là crossing the Rubicon, vượt qua sông Rubicon. Chuyện là vào năm 49 BC khi Julius Caesar còn là một vị tướng và là thống đốc của một vùng ngoài nước Ý. Khi đã hết nhiệm kỳ, thượng viện Ý ra lệnh ông phải giải tán quân đội và trở về La-mã. Lệnh cũng nói rất rõ rằng Ceasar không được đem quân của ông vượt qua sông Rubicon để vào nước Ý. Nhưng vào tháng 1, 49BC Caesar làm trái lại với lệnh của thượng viện đem đội quân vượt sông Rubicon dù biết rằng khi đã vượt qua sông là sẽ bị tử hình. Ngày nay thành ngữ vượt qua sông Rubicon nói về một quyết định, một hành động mà khi đã thực hiện thì không thể thoái lùi, không thể trở lại.
Nếu nghiên cứu cuộc hành trình của dân sự khi Chúa đem họ ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập thì nhiều người sẽ hỏi tại sao con đường đầu tiên lại phải qua Biển Đỏ thay vì đi theo một con đường nào khác. Làm thế nào một đoàn dân trên dưới triệu người có thể vượt qua biển? Trước là biển rộng sâu, sau là quân đội Ai-cập đuổi theo để giết. Biển Đỏ của dân Chúa có thể gọi là Rubicon của Caesar xảy ra ngàn năm trước đó. ĐCT thực hiện phép lạ để dân sự đi qua biển đỏ nhưng rồi biển khép lại tàn sát đội quân Ai-cập. Khi đã qua biển rồi, dân sự chỉ có một hướng đi là phía trước. Chúa muốn họ tới trước và không bao giờ trở lại Ai-cập, xứ nô lệ.
2 năm trước đó dân vượt qua Biển Đỏ. Giờ đây họ phải đối diện với Biển Đỏ thứ hai: rộng lớn hơn, sâu thẳm hơn, nguy hiểm hơn là vùng đất hứa mà Chúa đã hứa ban cho. Thay vì nhớ lại quyền năng và phép lạ ĐCT đã thực hiện để giúp dân sự đi qua biển như đi trên đất để vững lòng tin cậy mà vâng lời chuẩn bị mà tiến vào đất hứa, thì họ đã để nỗi lo sợ thống trị. Sự sợ hãi khiến dân sự quên Chúa, quên ơn phước Chúa, quên quyền năng của Chúa, quên đi quá khứ nhục nhã, khổ đau nơi xứ nô lệ, quên đi vùng đất tương lai đượm sữa và mật. Nỗi lo sợ chiếm hữu họ, thống trị họ hoàn toàn như ngày xưa vua Pha-ra-ôn thống trị hoàn toàn đời sống họ. Dân sự Ỵ trở nên nô lệ của sự sợ hãi.
Hầu hết qv đều đã có nghe qua về cuộc đời của một nhân vật trong KTCU tên Đa-vít. Khi còn là thanh niên trong tuổi 15-16, Đa-vít đã trở nên anh hùng dân tộc vì hành động can đảm giết tên khổng lồ Gô-li-át. Sau đó người anh hùng trẻ tuổi này trở nên con rễ của vua Sau-lơ và là bạn chí thân của hoàng tử Giô-na-than. Cuộc đời của Đa-vít bấy giờ như toàn một màu hồng đầy hy vọng. Nhưng mọi hy vọng đó tan biến như mây khói, chỉ vì vua Sau-lơ, cha vợ mình có lòng ghen tị.
Trong suốt khoảng 10-12 năm dài, Đa-vít phải chạy trốn để giữ mạng sống mình vì vua Sau-lơ luôn truy lùng để tìm giết. Đa-vít phải giả điên, giả khùng trước kẻ thù, chạy trốn trong hang động tối tăm, giá lạnh, chạy trốn trong rừng rậm, hay nơi xa mạc cằn cõi, nắng cháy da người. Trong khoảng 10 năm dài đó, hy vọng duy nhất và cuối cùng của Đa-vít là ĐCT. Đa-vít học nương cậy vào sự nhân từ, thương xót, vào sự thành tín và sự bảo vệ, quan phòng của Chúa.
Cái phao duy nhất, nơi nương tựa duy nhất, cái neo duy nhất trong đời của Đa-vít trong thời gian truân, khốn khó đó là ĐCT. Ngoài ĐCT Đa-vít hoàn toàn không có một sự trợ giúp, một hy vọng nào khác. Chính vì lý do này mà những bài Thi Thiên Đa-vít trong thời gian hoạn nạn, gian truân này là tâm tình rõ nhất, sâu sắc nhất của một người chỉ còn một điểm tựa, một hy vọng duy nhất cho cuộc đời là ĐCT. Bao nhiêu ngày đêm, Đa-vít sống trong nỗi lo sợ. Và khi sự sợ hãi ụp đến ông chỉ có một nơi duy nhất để cậy nhờ là ĐCT.
Đa-vít viết TT 56 khi ông chạy trốn đến Gath là nơi của kẻ thù Phi-lít-tin. Khi bị nhận diện ra là Đa-vít người đã giết Gô-li-át, con rễ của vua Sau-lơ, Đa-vít bị bắt. Ông phải giả điên, giả khùng để mới được thả ra. Tôi muốn con cái Chúa có thể tìm đọc bài TT này để nhớ dùng trong những lúc lo sợ, như Đa-vít đã lo sợ khi bị giặt thù bắt. Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi; vì người ta muốn ăn nuốt tôi; Hằng ngày họ đánh giặc cùng tôi, và hà hiếp tôi. 2 Trọn ngày kẻ thù nghịch tôi muốn ăn nuốt tôi, Vì những kẻ đánh giặc cùng tôi cách kiêu ngạo là nhiều thay. 3 Trong ngày sợ hãi, Tôi sẽ để lòng nhờ cậy nơi Chúa. 4 Tôi nhờ Đức Chúa Trời, và ngợi khen lời của Ngài; Tôi để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ gì (56:1-4). Đa-vít lập lại trong câu 11: Tôi đã để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ chi.
ĐCT đã đem dân ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập không chỉ để họ được một cuộc sống tự do thờ phượng Chúa nhưng còn để đem họ vào vùng đất hứa đượm sữa và mật mà Chúa đã hứa từ mấy trăm năm trước đó cùng Áp-ra-ham. Dân sự đã được Chúa đem qua Biển Đỏ bình an. Đã được Chúa quan phòng, chăm sóc trong suốt 2 năm trời khi đi trong đồng vắng. Họ đã được nghe từ 12 người trinh sát về vùng đất trù phú, mầu mở, tươi tốt. Nhưng khi nghe về lời thuật của 10 người kia về dân cư và thành trì trong xứ thì sinh lòng sợ hãi. Sợ hãi đến nỗi quên đi ĐCT, quyền năng của Chúa, quên đi mọi điều Chúa đã làm cho họ. Sợ hãi đến nỗi sinh lòng hèn nhát, dự định sẽ trở về lại xứ nô lệ. Sợ hãi đến nỗi phạm tội lớn cùng ĐCT đến nỗi cả một thế hệ phải bỏ xác nơi đồng vắng trong 40 năm tới.
Dân sự đứng trước thềm của vùng đất hứa. Thay vì để lòng tin cậy nơi ĐCT, thay vì nhớ đến tình yêu thương, nhớ đến mọi điều Chúa đã ban cho, họ đã để sự sợ hãi xâm chiếm lòng dạ, tâm trí. Đây chính là lý do mà Chúa nhắc nhở, dặn dò cùng Giô-suê và dân sự 40 năm sau trước khi họ vào đất hứa: Ta sẽ ở cùng ngươi như ta đã ở cùng Môi-se; ta sẽ không lìa ngươi, không bỏ ngươi đâu. 6 Hãy vững lòng bền chí, vì ngươi sẽ dẫn dân này đi nhận lấy xứ mà ta đã thề cùng tổ phụ ban cho chúng nó... 9 Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi. (Giô-suê 1:5-6, 9)
Mác 4 ghi lại câu chuyện về ĐCJC và các môn đồ trên thuyền trong cơn giông bảo lớn trên biển Ga-li-lê. Khi cơn bão lớn nổi lên, sóng tạt vào thuyền, thì ĐCJC ở đằng sau lái đang ngủ. Các môn đồ đánh thức Chúa dậy, nói rằng: Thầy ôi, thầy không lo chúng ta chết sao? (Mác 4:37). Các môn đồ sợ vì cơn bão lớn, họ sợ bão nên đánh thức Chúa dậy. Theo lời than của họ cùng Chúa thì họ sợ hãi vì nghĩ rằng ĐCJC không lo lắng, không yêu thương họ nên để mặc bão tố có thể làm cho chìm tàu. Chúa không lo chúng tôi có thể chết sao? Chúa nói gì với họ? "Sao các con sợ đến thế? Vẫn chưa có đức tin sao?" (4:40). Chúa nói với môn đồ rằng lý do họ sợ vì vẫn chưa có, không có đức tin.
Mọi người đều có lúc lo lắng, sợ hãi. Khi lo sợ, giải quyết không phải là tự nói với mình hay với người quanh mình: tôi sẽ không sợ, tôi sẽ không sợ. Để không còn sợ hãi, chúng ta phải tự nhắc mình về sự hiện diện của ĐCT, về lời hứa và sự thành tín của Chúa, và về những điều Chúa đã làm để giải cứu chúng ta trong quá khứ. Liều thuốc của căn bệnh lo lắng, sợ hãi là đức tin.
Mọi người đều có lúc muốn trở lại Ai-cập, trở lại vòng nô lệ của tội lỗi. PL viết trong Ga-la-ti 5:1: Đấng Christ đã buông tha chúng ta cho được tự do; vậy hãy đứng vững, chớ lại để mình dưới ách tôi mọi nữa. Trong bài diễn văn trước Quốc Hội 06 tháng 01, 1941, Tổng Thống Franklin Roosevelt nói về 4 sự tự do: tự do ngôn luận (ăn nói); tự do tôn giáo, tín ngưỡng; tự do kinh tế; tự do khỏi sự sợ hãi (về chiến tranh, bắt bớ, tù đày, tra tấn). Chính vì 4 tự do này mà chúng ta đến xứ này để định cư, để chọn nơi đây làm quê hương thứ 2, để thế hệ tới của con cháu có tương lai, được tự do.
Sự tự do PL viết gồm có sự tự do khỏi vòng nô lệ của ma quỉ, của tội lỗi, nhưng cũng khỏi sự giam cầm của sự sợ hãi như dân sự Chúa khi nghe tin báo về dân cư trong vùng đất hứa.
Dân sự đã được tự do nhưng họ lại muốn trở lại ách tôi mọi. Nhiều lúc sống trong sự tự do khó hơn sống trong nô lệ. Vì phải tự quyết định, phải chiến đấu với tội lỗi, với những khổng lồ của thói hư tật xấu đã có bao nhiêu năm qua. Dễ hơn là cứ làm tôi mọi cho tội lỗi, không cần phải cố gắng, gặp khó khăn, thất bại khi thay đổi. Dễ hơn là không làm gì cả, không học KT, không cầu nguyện, không dâng hiến, không phục vụ. Chúa không muốn qv tiếp tục sống trong xứ Ai-cập nô lệ, nhưng phải can đảm, đừng sợ hãi, phải tin tưởng Chúa để vào vùng đất hứa. Một đất đượm sữa và mật nhưng cũng là đất có dân mạnh mẽ, thành lũy kiên cố. Sức chúng ta không chống nỗi dân trong xứ nhưng với sức Chúa chúng ta có thể và sẽ được đất như lời Chúa đã hứa. Chỉ các ngươi chớ dấy loạn cùng Đức Giê-hô-va, và đừng sợ dân của xứ, vì dân đó sẽ là đồ nuôi chúng ta, bóng che chở họ đã rút đi khỏi họ rồi, và Đức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi.
Với con cái Chúa trong HT, với những anh chị em đang phục vụ trong các ban ngành, với những anh chị em sẽ được bầu để phục vụ trong BĐH, lời Chúa dạy chúng ta hãy vững lòng, bền chí, đừng lo sợ trước những khó khăn, thử thách, trước những thất bại vì biết rằng: Đức Giê-hô-va ở cùng ta. Chớ sợ chi.
