Hãy Suy Xét Kỹ Đường Lối Mình
Năm thứ hai đời vua Đa-ri-út, ngày mồng một tháng sáu, có lời của Đức Giê-hô-va cậy đấng tiên tri A-ghê phán cho Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-la-thi-ên, quan trấn thủ xứ Giu-đê, và cho Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, mà rằng: 2 Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Dân nầy nói rằng: Thì giờ chưa đến, tức là thì giờ xây lại nhà Đức Giê-hô-va. (A-ghê 1:1-2)
Bài giảng hôm nay và trong tuần tới dựa theo sách A-ghê, một sách tiên tri trong KTCU. Tùy theo bản dịch qv dùng sách được gọi là Ha-gai theo BDM, A-gai theo BPT, Hà-ghi theo BDY. A-ghê là 1 trong 17 sách tiên tri trong KTCU. Các nhà học giả chia 17 sách tiên tri làm 2 loại: 12 tiểu và 5 đại tiên tri. 5 đại tiên tri là Ê-sai, Giê-rê-mi, Ca-thương, Ê-xê-chi-ên và Đa-niên. Gọi là tiểu và đại không phải vì tầm quan trọng của sách nhưng chỉ đơn giản vì dài hay ngắn. A-ghê chỉ gồm 2 đoạn trong khi Ê-sai gồm 66 đoạn.
Khi suy nghĩ về những nhân vật trong KT chúng ta thường nhớ đến danh sách của những anh hùng liệt nữ đức tin trong Hê-bơ-rơ 11. Những cây cổ thụ của đức tin như Áp-ra-ham, như Nô-a, hay Đa-vít, như Mô-se và kỵ nữ Ra-háp. Hiếm khi chúng ta nghĩ đến nhân vật như A-ghê, một tiên tri viết một sách rất ngắn chỉ 2 đoạn.
ĐCT chọn, gọi và dùng tiên tri A-ghê trong một giai đoạn lịch sử cụ thể để làm một việc quan trọng. ĐCT cũng chọn, gọi và dùng tôi và mỗi qv hôm nay, dù người thì ở xứ này, người ở xứ khác, dù hoàn cảnh môi trường có khác nhau nhưng để làm chung một công việc quan trọng: đó là Đại Mạng Lệnh ĐCJC giao phó cho chúng ta là rao giảng TL và môn đồ hóa: Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ, 20 và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. (Ma-thi-ơ 28:19-20).
Tôi chia sẻ với quí HT từ lời Chúa qua tiên tri A-ghê với niềm tin chắc chắn là lời Chúa dạy dổ, nhắc nhở hết thảy chúng ta ít nhất 2 bài học vô cùng thực tế và quan trọng:
1) Ưu tiên, thứ tự của chúng ta trong đời sống. Dù mọi người đều biết lời dạy của ĐCJC: Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa. (Matt 6:33), nhưng tất cả chúng ta đều gặp khó khăn về việc vâng giữ ưu tiên như Chúa dạy. Câu hỏi thường nghe: khi nào tôi có thể phục vụ Chúa vì hôm nay tôi rất bận? Tôi tin sách A-ghê sẽ dạy chúng ta bài học này.
2) Sự phục vụ của tôi có ý nghĩa, giá trị gì với ĐCT hay không. Khi tôi nhìn xem việc tôi làm, kết quả đạt được so với những người khác không đáng kể gì. Sách A-ghê giúp chúng ta hiểu rõ về giá trị của công việc, phục vụ mỗi người dưới mắt Chúa.
Trong bài giảng hôm nay, tôi muốn giải thích rõ bối cảnh của sách/thư A-ghê để qv có thể hiểu nguyên nhân, lý do gì sách được viết và với mục đích gì. Hiểu rõ bối cảnh của sách, qv sẽ rõ hơn về bài học và áp dụng của sách cho đời sống đức tin và đặc biệt cho công việc Chúa giao phó cho mỗi chúng ta.
Dòng lịch sử loài người có thể chia làm 2 phần: trước khi ĐCJC giáng sinh và sau khi Chúa giáng sinh. Thời gian trước khi ĐCJC giáng sinh được gọi là trước Công Nguyên, viết tắt là BC (before Christ). Thời gian sau khi ĐCJC giáng sinh được gọi là sau Công Nguyên, viết tắt là AD (Anno Domini theo tiếng La-tin có nghĩa là vào năm của Chúa chúng ta). Tất cả 39 sách CU được viết trước khi ĐCJC giáng sinh; sách cuối cùng là Ma-la-chi viết khoảng 400 năm trước Chúa. 27 sách TU được viết sau khi Chúa giáng sinh. Sách A-ghê mở đầu với câu: Năm thứ hai đời vua Đa-ri-út, ngày mồng một tháng sáu. Qua sự kiện lịch sử về vua Đa-ri-út, các nhà học giả định rõ được ngày tháng năm sách A-ghê được viết và về bối cảnh của sách.
Để hiểu rõ bối cảnh lịch sử của sách A-ghê, chúng ta cần trở lại vài trăm năm trước khi sách được viết. Sau-lơ (12 chi bộ); Đa-vít – Y trở nên một đất nước thống nhất, chiến thắng giặc thù; Sô-lô-môn – thời vàng son của xứ Ỵ. Trong 120 năm dưới thời trị vì của 3 vị vua đầu tiên này, Ỵ là một xứ thống nhất dù gồm 12 chi phái (bộ tộc).
Đa-vít lập thủ đô của xứ là thành Giê-ru-sa-lem. Đa-vít có ước nguyện lập một đền thờ cho ĐCT. Khi Đa-vít ở trong nhà mình, bèn nói với tiên tri Na-than rằng: Nầy ta ở trong nhà bằng gỗ bá hương, còn hòm giao ước của Đức Giê-hô-va ở dưới những bức màn (trong lều tạm). (1 Sử Ký 17:1). Tuy nhiên ĐCT không dùng vua Đ để xây đền thờ, mà chọn con vua là Sô-lô-môn (1 Các Vua 8 – lời cầu nguyện khánh thành của Sô-lô-môn).
Đền thờ Sô-lô-môn tại thành Giê-ru-sa-lem là một công trình kiến trúc vĩ đại. Đây là đền thờ đầu tiên dân sự Ỵ xây để thờ phượng ĐCT. Quan trọng hơn hết, đền thờ tại Giê-ru-sa-lem là nơi ĐCT ngự. Là niềm vui, hãnh diện và là phần vô cùng quan trọng trong đời sống đức tin của dân sự Y. Dù ở đâu trong khắp xứ, hàng năm vào các ngày lễ lớn, dân chúng đều đổ về thành Jerusalem, đến đền thờ để dâng của lễ cho ĐGHV, để thờ phượng Ngài.
Sau khi Sô-lô-môn mất, con trai ông tên Rô-bô-am lên làm vua. Vì một quyết định xuẩn ngốc, R. khiến dân sự nổi loạn, đất nước chia cắt làm 2 xứ (vương quốc) vào năm 930BC. Miền Bắc là vương quốc Ỵ gồm 10 chi phái, còn được gọi là Ép-ra-im với thủ đô là Sa-ma-ri; miền nam là Giu-đa gồm 2 chi phái (Giu-đa và Bên-gia-min), thủ đô là Giê-ru-sa-lem.
Ngay sau khi chia cắt vua xứ Ỵ miền bắc, vua Giê-rô-bô-am làm 2 con bò vàng đặt tại 2 nơi (Bê-tên & Đan) trong xứ vì sợ dân sự tiếp tục thờ phượng tại thành Giê-ru-sa-lem: Vì nếu dân nầy cứ tiếp tục lên Giê-ru-sa-lem để dâng tế lễ trong Đền Thờ của Chúa tại Giê-ru-sa-lem, thì lòng dân sẽ quay về với vua của họ là Rô-bô-am của Giu-đa. Họ sẽ giết ta và quay về với vua Rô-bô-am của Giu-đa (1 Các Vua12:27)
Mỗi vương quốc đều được cai trị bởi 19 vua. Tất cả 19 vua xứ Ỵ đều thờ tà thần, đi ngược lại lời nhắc dạy, mạng lệnh ĐCT. Vì tình yêu thương, ĐCT sai tiên tri Ngài để nhắc nhở, dạy dỗ, cáo trách vua quan dân cả hai xứ và cho họ thời gian để ăn năn, thay đổi, trở về con đường đúng.
ĐCT cho vua quan dân xứ Ỵ hơn 200 (208) năm dài để ăn năn, nhưng họ vẫn tiếp tục chọn thờ tà thần. Cuối cùng vào năm 722BC ĐCT dùng giặc A-si-ri để chinh phục, chiếm đoạt cả xứ Ỵ và bắt dân sự làm nô lệ xứ xa. Rồi vua A-si-ri tiến đánh cả xứ và bao vây Sa-ma-ri trong ba năm. 6Vào năm thứ chín đời trị vì của Ô-sê, vua A-si-ri chiếm được thành Sa-ma-ri và đày dân Y-sơ-ra-ên sang A-si-ri. Vua cho họ định cư tại Cha-la, bên bờ sông Cha-bo thuộc vùng Gô-xan và trong các thành của nước Mê-đi. 7Việc nầy xảy ra vì dân Y-sơ-ra-ên đã phạm tội cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ (2 Các Vua 17:5-7)
Trong số 19 vua xứ Giu-đa vẫn có một vài vua vẫn còn kính sợ ĐCT, dẹp bỏ tà thần và khích lệ dân chúng thờ phượng Chúa. Nên ĐCT cho thêm vua quan dân xứ G. 136 năm sau khi xứ Ỵ bị chinh phục. Nhưng cuối cùng vua quan dân xứ G. vẫn tiếp tục phạm tội cùng ĐCT nên vào năm 586BC, Chúa dùng giặc Ba-by-lôn để tàn phá cả thành và đền thờ thành Giê-ru-sa-lem.
1 Năm thứ chín triều Sê-đê-kia, vào ngày mồng mười, tháng mười, vua Nê-bu-cát-nết-sa của Ba-by-lôn đem hết đạo quân mình đến tấn công Giê-ru-sa-lem và bao vây thành. Vua đóng trại bên ngoài và đắp lũy bao vây thành. 2 Vậy thành bị vây cho đến năm thứ mười một triều vua Sê-đê-kia. 3 Vào ngày mồng chín, tháng tư, nạn đói hoành hành trong thành dữ dội; dân chúng không có bánh ăn. (2 CV 25:1-2 – BDM)
Trong suốt 40 năm dài tiên tri Giê-rê-mi cố gắng khuyên lơn vua dân trở lại con đường ĐCT nhưng lời nhắc nhở của ông chỉ như nước đổ lá môn! Sách Ca Thương do tiên tri viết kể lại thảm cảnh đau thương khi giặc Ba-by-lôn vây hãm thành G. Ông khóc không dứt khi chứng kiến tai họa của thành do chính vua quan dân tự chuốc lấy họa sau hàng trăm năm dài từ chối ăn năn, trở lại con đường của Chúa. Khi thành Giê thất thủ, các con vua Giu-đa Sê-đê-kia bị vua Nê-bu bắt và giết trước mắt vua Giu-đa. Còn vua Sê-đê-kia bị móc mắt và xiềng bằng xích đồng mà giải về Ba-by-lôn, một đoạn đường dài 900 miles. Vua Nê cũng bắt dân sự giải sang xứ Ba-by-lôn làm phu tù (2 Các Vua 25).
Nhưng quân đội Canh-đê rượt theo vua. Họ bắt sống được vua trong đồng bằng Giê-ri-cô. Quân đội của vua bèn tan rã. Họ bỏ vua mà đào thoát. 6 Vua bị bắt sống và đem về nộp cho vua Ba-by-lôn tại Ríp-lát. Chúng tuyên án vua. 7 Quân Canh-đê giết các con trai của vua Sê-đê-kia trước mắt vua; chúng móc mắt vua Sê-đê-kia, lấy xích đồng mà xiềng vua lại, rồi dẫn vua về Ba-by-lôn. (2 CV 25:1-2 – BDM)
Vào ngày bảy, tháng năm, tức là năm thứ mười chín triều vua Nê-bu-cát-nết-sa của Ba-by-lôn, thì Nê-bu-xa-ra-đan, quan chỉ huy quân thị vệ, tôi tớ của vua Ba-by-lôn, vào thành Giê-ru-sa-lem. 9 Ông phóng hỏa đốt đền thờ CHÚA, cung điện nhà vua, và tất cả nhà cửa trong thành Giê-ru-sa-lem. Ông cũng đốt hết thảy những dinh thự của các nhà quyền quý trong thành. 10 Rồi toàn quân Canh-đê theo lệnh của quan chỉ huy quân thị vệ đập phá những tường thành bao quanh Giê-ru-sa-lem (2 Các Vua 25:5-7 – BDM)
Trong suốt 345 năm lịch sử của dân sự và đất nước Giu-đa, biến cố xảy ra năm 586BC khi giặc Ba-by-lôn tàn phá, hủy diệt hoàn toàn đền thờ tại thủ đô Giê-ru-sa-lem là một biến cố trầm trọng hơn hết về cả phương diện xã hội, chính trị và tôn giáo. Đối với dân sự, biến cố này còn có ý nghĩa là ĐCT đã thật sự lìa bỏ họ, lìa bỏ giao ước với tổ phụ họ và với dân tộc. Đối với dân bị lưu đày sang xứ xa làm phu tù, thất vọng này lại càng rõ và nặng hơn vì tương lai vô cùng đen tối trước mắt. Rất nhiều lần dù dân sự bất tuân phục lời Chúa dạy, nhưng ĐCT vẫn thành tín giải cứu. Nhưng cuối cùng, sự giải cứu chấm dứt. Vua quan dân Giu-đa phải trả một giá vô cùng đắt cho tội phạm của họ. Đây cũng là bài học cho chúng ta: dù ĐCT kiên nhẫn, thành tín ban nhiều cơ hội để chúng ta ăn năn, thay đổi, trở lại với Ngài, nhưng Chúa cũng có thời điểm đã định.
Tuy nhiên ĐCT cũng đã dùng tiên tri Giê để báo cho dân chúng một hy vọng: sau 70 năm lưu đày, ĐCT sẽ đem họ trở về lại đất Giu-đa và đền thờ tại thành Giê-ru-sa-lem sẽ được hồi phục. Đúng như lời tiên tri vào năm 538BC, 48 năm sau khi thành và đền thờ Giê bị tàn phá, đại đế Si-ru của đế quốc Phê-rơ-sơ ra chiếu chỉ cho phép dân sự Giu-đa đang bị lưu đày tại Ba-by-lôn được trở về lại xứ để xây lại đền thờ. Năm thứ nhứt đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ trị vì, Đức Giê-hô-va muốn làm cho ứng nghiệm lời Ngài đã cậy miệng Giê-rê-mi mà phán ra, bèn cảm động lòng Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, rao truyền trong khắp nước mình, và cũng ra chiếu chỉ, mà rằng: 23 Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, nói như vầy: Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã ban cho ta các nước thế gian, và bảo ta xây cất cho Ngài một cái đền ở tại Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa. Trong các ngươi, phàm ai thuộc về dân sự Ngài, hãy trở lên Giê-ru-sa-lem; nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời của người ấy ở cùng người! (2 Sử Ký 36:22-23, Ê-xơ-ra 1:2-3)
Khoảng 50 ngàn dân dưới sự lãnh đạo của tổng trấn Xô-rô-ba-bên và Giê-sua thầy tế lễ cả trở về xứ Giu-đa. Họ định cư tại thành Giê-ru-sa-lem và các khu vực gần đó, và bắt đầu công cuộc xây lại đền thờ. Họ dọn dẹp những tản đá ngỗn ngang và xây lại bàn thờ trên nền cũ để có thể dâng của lễ thiêu (Ê-xơ-ra 2:2-3). Đó là vào mùa thu 536 BC. Đến xuân năm sau họ đã đặt lại nền của đền thờ.
Tuy nhiên dân sự dừng công việc xây dựng đền thờ. Có 3 lý do chính:
1) Sự chống đối, cản trở, phá hoại của dân ngoại. Dân cư chung quanh vùng đó, đặc biệt là người Sa-ma-ri, không chỉ từ chối giúp theo lệnh đại đế Si-ru mà lại còn cố tình chống đối, phá hoại. Vua Si-ru qua đời. Vị vua kế không còn ủng hộ việc xây lại đền thờ.
2) Thái độ tiêu cực của các trưởng lão, những người lớn tuổi khi khánh thành nền đền thờ được xây lại. Đây là những người đã từng chứng kiến đền thờ đầu tiên do vua Sô-lô-môn xây dựng với tất cả vinh quang, tráng lệ, với vinh hiển ĐCT ngự trong nơi chi thánh trên hòm giao ước. Nhiều thầy tế lễ, người Lê-vi, trưởng tộc, tức là những người già cả đã thấy đền thờ trước kia, khóc lớn tiếng khi thấy nền của đền thờ mới được xây dựng, trong khi nhiều người khác lại reo hò vì vui mừng. 13Người ta khó phân biệt tiếng vui mừng với tiếng khóc lóc, vì dân chúng lớn tiếng reo hò và tiếng ấy vang vọng khắp nơi. (Ê-xơ-ra 3:12-13)
3) Qua thời gian, dân sự sao lãng mục đích chính khiến họ trở về lại xứ Giu-đa mà tập trung vào đời sống cá nhân và gia đình. Khi việc xây lại đền thờ tạm ngừng thì dân sự cũng bắt đầu sao lãng mục đích chính khiến họ trở về lại xứ Giu-đa là để xây lại đền thờ. Họ bắt đầu tập trung vào cuộc sống cá nhân, công việc làm hàng ngày và trở nên quen thuộc với việc thờ phượng giữa nơi đền thờ đỗ nát.
Tấm lòng nóng cháy khi trở về lại thành Giê để xây dựng lại ngôi đền thờ lộng lẫy, tráng lệ ngày xưa dần dà cũng trở nên nguội lạnh. 16 năm dài trôi qua, đóng gạch đá của ngôi đền thờ một thời vàng son vẫn điêu tàn, ngỗn ngang như khi họ mới trở về lại thành Giê. Dần dà, nhóm than đỏ trong tấm lòng họ nguội dần rồi tắt đi. Dân sự hoàn toàn quên lãng việc xây lại đền thờ và tập trung vào việc kiếm sống, vào công việc hàng ngày. Dân sự trở nên như một dân không tôn giáo trên một đất nghèo khó.
Đến năm 520BC, ĐCT dùng tiên tri A-ghê để kêu gọi, nhắc nhở, sửa dạy dân sự nhớ lại mục đích chính khi họ từ xứ Ba-by-lôn lưu đày trở lại xứ Giu-đa và thành Giê. Dân chúng lắng nghe lời nhắc dạy của A-ghê và bắt đầu lại công cuộc xây dựng đền thờ. Chỉ 4 năm sau đó đền thờ xây lại và khánh thành vào năm 516BC. 20 năm sau chiếu chỉ của đại đế Si-ru cho phép dân sự trở về đất Giu-đa đền thờ thành Giê-ru-sa-lem đã được xây lại. Điều này ứng nghiệm lời tiên tri Giê-rê-mi về việc đền thờ sẽ được xây lại sau và dân sự trở về lại thành Giê sau 70 năm.
CHÚA NHẬT 15 THÁNG 01, 2023
Lời nầy chắc chắn lắm: Ví bằng chúng ta chết với Ngài, thì cũng sẽ sống với Ngài; 12 lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta; 13 nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được. (2 Ti-mô-thê 2:13)
Tại sao bài giảng từ sách A-ghê? Vì sách dạy chúng ta 2 bài học hết sức quan trọng và thực tế cho người tin Chúa:
1) Ưu tiên, thứ tự của chúng ta trong đời sống. Dù mọi người đều biết lời dạy của ĐCJC: Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa. (Matt 6:33), nhưng tất cả chúng ta đều gặp khó khăn về việc vâng giữ ưu tiên như Chúa dạy. Câu hỏi thường nghe: khi nào tôi có thể phục vụ Chúa vì hôm nay tôi rất bận? Tôi tin sách A-ghê sẽ dạy chúng ta bài học này.
2) Sự phục vụ của tôi có ý nghĩa, giá trị gì với ĐCT hay không. Khi tôi nhìn xem việc tôi làm, kết quả đạt được so với những người khác không đáng kể gì. Sách A-ghê giúp chúng ta hiểu rõ về giá trị của công việc, phục vụ mỗi người dưới mắt Chúa.
KT không nói rõ về gốc gác, thân thế của tiên tri A-ghê. Tên ông cũng được đề cập hai lần trong sách Ê-xơ-ra 5:1, 6:14 cùng với tiên tri Xa-cha-ri. Tên A-ghê gồm từ hag có nghĩa là ngày lễ hội, có thể hàm ý ông sinh vào một ngày lễ hội, nhưng không ai chắc về điều này.
Chính tiên tri A-ghê như hàm ý rằng ông cũng đã từng chính mắt nhìn thấy ngôi đền thờ đầu tiên nguy nga, lộng lẫy xây bởi vua Sô-lô-môn Ai là kẻ còn sót lại ở trong các ngươi đã xem thấy vinh quang khi trước của nhà nầy? (A-ghê 2:3). Nếu đây là sự thật, thì khi viết thư này tiên tri A-ghê cũng ít nhất phải hơn 66 tuổi (thư viết vào năm 520, đền thờ bị hủy diệt 66 năm trước đó vào năm 586 BC).
ĐCT gọi A-ghê khi ông đã hơn 66 tuổi, Áp-ra-ham khi ông 75 tuổi, Mô-se lúc 80. ĐCT cũng gọi Đa-vít khi còn là cậu thanh niên trẻ tuổi 15-17, tiên tri Sa-mu-ên khi còn là con trẻ. ĐCT gọi mỗi chúng ta bất kể trong lứa tuổi nào, môi trường nào. Điều quan trọng là chúng ta có lắng nghe tiếng Chúa gọi và vâng phục hay không?
A-ghê là 1 trong 3 tiên tri cuối cùng trong KTCU, là A-ghê, Xa-cha-ri và Ma-la-chi. Thư A-ghê chỉ bao gồm một thời gian rất ngắn, chỉ trong vòng 4 tháng trời. Câu đầu tiên của sách cho biết rõ thời gian ông bắt đầu tiên tri: Năm thứ hai đời vua Đa-ri-út, ngày mồng một tháng sáu, có lời của Đức Giê-hô-va cậy đấng tiên tri A-ghê phán cho Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-la-thi-ên, quan trấn thủ xứ Giu-đê, và cho Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, mà rằng: 2 Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Dân nầy nói rằng: Thì giờ chưa đến, tức là thì giờ xây lại nhà Đức Giê-hô-va. (A-ghê 1:1-2) Ngày mùng một tháng sáu năm thứ hai đời vua Đa-ri-út nhằm ngày 29 tháng 8, 520.
Lời cuối của ĐCT đến cùng A-ghê trong 2:20-22: Lại có lời Đức Giê-hô-va phán lần thứ hai cho A-ghê trong ngày hai mươi bốn tháng ấy, rằng: 21 Hãy nói cùng Xô-rô-ba-bên, quan trấn thủ Giu-đa, mà rằng: Ta sẽ làm rúng động các từng trời và đất; 22 Ta sẽ lật đổ ngôi của các nước, diệt quyền thế các nước của các dân. Ngày hai mươi bốn tháng chín về năm thứ hai của Đa-ri-út (2:10) nhằm ngày 18 tháng 12, năm 520. Vậy thời gian trong sách A-ghê chỉ trong ít hơn 4 tháng, từ 29 tháng 8, cho đến 18 tháng 12, 520 BC.
Lạ lùng và mầu nhiệm hơn là từ khi A-ghê kêu gọi dân sự khởi sự lại công việc xây cất đền thờ cho đến khi họ hưởng ứng và bắt tay vào công việc là một khoảng thời gian 23 ngày:
Năm thứ hai đời vua Đa-ri-út, ngày mồng một tháng sáu (29/08/520BC), có lời của Đức Giê-hô-va cậy đấng tiên tri A-ghê phán cho Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-la-thi-ên, quan trấn thủ xứ Giu-đê, và cho Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, mà rằng.
Đoạn, Đức Giê-hô-va giục lòng Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-la-thi-ên, quan trấn thủ Giu-đa, và giục lòng Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, và giục lòng cả dân sự sót lại; họ đều đến, làm việc nơi nhà Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời mình. 15 Ấy là ngày hai mươi bốn tháng sáu về năm thứ hai đời vua Đa-ri-út (21/09/520BC). (1:14-15). Tức từ 29/08 cho đến 21/09, 520 BC.
Dù vậy sứ điệp của A-ghê đã khiến dân sự trở về lại xứ Giu-đa hành động, khởi công xây lại đền thờ sau 16 năm dài đình trệ
Tóm lại thời gian của sự kiện lịch sử liên quan trong tiên tri A-ghê như sau:
Năm 586 BC, giặc Ba-by-lôn tàn phá và hủy diệt thành và đền thờ thành Giê-ru-sa-lem. Dân sự bị bắt giải sang xứ Ba-by-lôn làm phu tù. Không lâu sau đó, đế quốc Ba-by-lôn bị chinh phục bởi đế quốc Phê-rơ-sơ.
48 năm sau đó, vào năm 536 BC, vua Si-ru của xứ Phê-rơ-sơ ra chiếu chỉ cho phép dân Giu-đa lưu đày được trở về lại xứ Giu-đa và được phép xây lại đền thờ, dưới sự lãnh đạo của tổng trấn xứ Giu-đa là Xô-rô-ba-bên và thầy tế lễ cả Giê-sua. Sự kiện này được ghi lại trong sách Ê-xơ-ra.
Năm 538 BC, tức 2 năm sau khi trở về thành Giê-ru-sa-lem, dân sự khởi công xây cất lại đền thờ và hoàn tất việc xây lại nền đền thờ trên nền cũ.
Tuy nhiên vì gặp chống đối và trở ngại, và hơn hết vì lòng nhiệt thành trở nên nguội lạnh nên việc xây cất đền thờ ngừng lại trong suốt 16 năm trời sau khi nền đền thờ hoàn tất.
Vào ngày 29 tháng 8, 520 BC ĐCT dùng tiên tri A-ghê để kêu gọi dân sự khởi sự lại công cuộc xây cất đền thờ. Dân sự hưởng ý lời kêu gọi này và bắt đầu lại việc xây cất đền thờ.
23 ngày sau lời kêu gọi dân sự hưởng ứng, bắt tay vào việc xây lại đền thờ Đoạn, Đức Giê-hô-va giục lòng Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-la-thi-ên, quan trấn thủ Giu-đa, và giục lòng Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, và giục lòng cả dân sự sót lại; họ đều đến, làm việc nơi nhà Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời mình. 15 Ấy là ngày hai mươi bốn tháng sáu về năm thứ hai đời vua Đa-ri-út. (21 tháng 09, 520BC)
Năm 516 BC đền thờ thành Giê-ru-sa-lem hoàn tất, tức chỉ 4 năm sau khi sứ điệp của tiên tri A-ghê được ban phát kêu gọi dân sự trở lại công trình xây dựng đền thờ tại thành Giê-ru-sa-lem. Đây cũng là ứng nghiệm lời của tiên tri Giê-rê-mi đền thờ sẽ được hồi phục 70 năm sau khi bị giặc Ba-by-lôn tàn phá vào năm 586 BC.
ƯU TIÊN TRONG ĐỜI SỐNG
Dù sách A-ghê đã viết cách đây hơn 2500 năm, dân sự xưa hay dân sự nay cũng đều có cùng một nan đề, câu hỏi về ưu tiên cho đời sống. Đời sống không ngừng đòi hỏi thời gian, nổ lực của mỗi chúng ta. Câu hỏi là khi nào chúng ta, người tin Chúa, những người có ý muốn, có tấm lòng hầu việc Chúa có thể phục vụ Chúa? Dân nầy nói rằng: Thì giờ chưa đến, tức là thì giờ xây lại nhà Đức Giê-hô-va. (1:2)
16 năm trôi qua sau khi dân sự đã trở về lại thành Giê-ru-sa-lem, dù đã hoàn tất việc xây lại nền của đền thờ, nhưng đền thờ vẫn chưa được xây lại. Tại sao? Có 3 lý do chính. Ba lý do này cũng chính là ba lý do khiến người tin Chúa ngày nay không tham gia trong công việc Chúa, không phục vụ.
1) Sự chống đối, cản trở, phá hoại của dân ngoại. Dân cư chung quanh vùng đó, đặc biệt là người Sa-ma-ri, không chỉ từ chối giúp theo lệnh đại đế Si-ru mà lại còn cố tình chống đối, phá hoại. Vua Si-ru qua đời. Vị vua kế không còn ủng hộ việc xây lại đền thờ.
[Liên hệ đến áp lực của xã hội như trong quan điểm về hôn nhân, giới tính, về ưu tiên trong đời]
2) Thái độ tiêu cực của các trưởng lão, những người lớn tuổi khi khánh thành nền đền thờ được xây lại. Đây là những người đã từng chứng kiến đền thờ đầu tiên do vua Sô-lô-môn xây dựng với tất cả vinh quang, tráng lệ, với vinh hiển ĐCT ngự trong nơi chí thánh trên hòm giao ước.
Chúng ta sẽ trở lại điểm này trong phần tới của bài giảng về giá trị của sự phục vụ.
3) Nhưng lý do chính yếu là qua thời gian, dân sự sao lãng mục đích chính khiến họ trở về lại xứ Giu-đa mà tập trung vào đời sống cá nhân và gia đình. Khi việc xây lại đền thờ tạm ngừng thì dân sự cũng bắt đầu sao lãng mục đích chính khiến họ trở về lại xứ Giu-đa là để xây lại đền thờ. Họ bắt đầu tập trung vào cuộc sống cá nhân, công việc làm hàng ngày và trở nên quen thuộc với việc thờ phượng giữa nơi đền thờ đỗ nát.
Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Dân nầy nói rằng: Thì giờ chưa đến, tức là thì giờ xây lại nhà Đức Giê-hô-va 3 Vậy nên có lời của Đức Giê-hô-va phán ra bởi đấng tiên tri A-ghê rằng: 4 Nay có phải là thì giờ các ngươi ở trong nhà có trần ván, khi nhà nầy hoang vu sao? (A-ghê 1:2-4)
Tấm lòng nóng cháy khi trở về lại thành Giê để xây dựng lại ngôi đền thờ lộng lẫy, tráng lệ ngày xưa dần dà cũng trở nên nguội lạnh. 16 năm dài trôi qua, đóng gạch đá của ngôi đền thờ một thời vàng son vẫn điêu tàn, ngỗn ngang như khi họ mới trở về lại thành Giê. Dần dà, nhóm than đỏ trong tấm lòng họ nguội dần rồi tắt đi. Dân sự hoàn toàn quên lãng việc xây lại đền thờ và tập trung vào việc kiếm sống, vào công việc hàng ngày. Dân sự trở nên như một dân không tôn giáo trên một đất nghèo khó.
Đời sống hôm nay đầy dẫy áp lực. Áp lực lớn nhất, đặc biệt là với những người trẻ tuổi là ưu tiên về vật chất cho đời sống. Áp lực to lớn nhất là thành công trong đời sống vật chất. Mục đích của đời sống là thành công về vật chất. Khi còn đi họ, thành công là đạt điểm tốt, thi đậu vào trường đại học nổi tiếng, tốt nghiệp với bằng cấp. Sau khi tốt nghiệp, tìm được việc làm tốt, lương cao. Trong xã hội càng văn minh, công việc đòi hỏi rất nhiều. Các công ty lớn như Google, Facebook có cả nhà ăn, phòng tập thể dục, xe đưa rước cho nhân viên. Lý do? Để họ trung thành với công việc và với công ty.
Tôi biết rất nhiều người trẻ tuổi làm việc tại các hảng lớn này làm việc 12-14 tiếng mỗi ngày, cả 6 ngày một tuần. Có những công việc, như những người managers cho Walmart, đòi hỏi 24/24, hễ hảng gọi là phải lập tức trả lời, có mặt. Ưu tiên hàng đầu trong đời họ là công việc. Hết công việc lại đến áp lực có quan hệ, lập gia đình, có vợ có chồng. Sau khi lập gia đình, lại đến con cái, rồi đến tuổi về hưu.
Áp lực lớn là tiền bạc. Như lời dạy của PL cho người con trẻ tuổi trong Chúa: Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn. PL dạy Ti-mô-thê phải biết thỏa lòng với những gì ĐCT ban cho. Vả, sự tin kính cùng sự thỏa lòng, ấy là một lợi lớn. 7 Vì chúng ta ra đời chẳng hề đem gì theo, chúng ta qua đời cũng chẳng đem gì đi được. 8 Như vậy, miễn là đủ ăn đủ mặc thì phải thỏa lòng. PL dạy về nguy hiểm của lòng tham lam tiền bạc, tài sản: còn như kẻ muốn nên giàu có, ắt sa vào sự cám dỗ, mắc bẫy dò, ngã trong nhiều sự tham muốn vô lý thiệt hại kia, là sự làm đắm người ta vào sự hủy diệt hư mất. (1 Ti-mô-thê 6:6-10)
ĐCJC dạy: Chẳng ai được làm tôi hai chủ; vì sẽ ghét người nầy mà yêu người kia, hoặc trọng người nầy mà khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi Ma-môn nữa. (Ma-thi-ơ 6:24) Đây là một nan đề hết sức trầm trọng trong xã hội HK. Vật chất, đòi hỏi về vật chất, tiền bạc khiến cho tín đồ lơ là công việc Chúa. Sự giàu có khiến người ta trở nên tự phụ, hảnh diện; khiến họ không cần đến ĐCT. Vật chất, tiền của thay đổi tấm lòng con người. Cũng như nếu chúng ta tập tành đặt Chúa đầu tiên trong đời sống thì dần dà chính con tim, tấm lòng của chúng ta cũng sẽ thay đổi.
Lời ĐCJC dạy rõ về ưu tiên trong đời sống: Nhưng trước hết, hãy tìm kiếm nước Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài, thì Ngài sẽ cho thêm các ngươi mọi điều ấy nữa. (Matt 6:33).
57 Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó. 58 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu. 59 Ngài phán cùng kẻ khác rằng: Ngươi hãy theo ta. Kẻ ấy thưa rằng: Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã. 60 Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; còn ngươi, hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời. 61 Có kẻ khác nữa thưa rằng: Lạy Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho phép tôi trước về từ giã người trong nhà tôi. 62 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời. (Lu-ca 9:57-62)
ĐCJC không dạy chúng ta phải tàn nhẫn đến nỗi bỏ tang lễ của cha mình hay không thiết từ giả gia đình. Điểm chính Chúa dạy là nhớ rằng một khi quyết định theo Chúa, phục vụ Chúa thì ưu tiên đầu tiên trong đời sống phải thay đổi, phải đặt Chúa hàng đầu trong đời sống.
Tiên tri A-ghê nhắc dân sự hãy xem xét đường lối của họ, suy nghĩ lại về ưu tiên trong đời sống. Hai lần trong đoạn 1:5, 7 và ba lần trong đoạn 2:15, 18. Vậy bây giờ Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Các ngươi khá xem xét đường lối mình. 6 Các ngươi gieo nhiều mà gặt ít; ăn mà không no; uống mà không đủ; mặc mà không ấm; và kẻ nào làm thuê, đựng tiền công mình trong túi lủng… (1:5) Làm nhiều, làm không ngừng nhưng vẫn thiếu. Bởi vì
Các ngươi trông [đợi, hy vọng, mong mỏi] nhiều mà được ít; các ngươi đem vào nhà, thì ta đã thổi lên trên. Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Ấy là tại làm sao? Ấy là tại nhà ta thì hoang vu, mà các ngươi ai nấy lo xây nhà mình. 10 Cho nên, vì cớ các ngươi, trời giữ móc lại, và đất giữ bông trái lại. 11 Ta đã gọi cơn hạn hán đến trên đất, trên các núi, trên lúa mì, trên rượu mới, trên dầu, và trên sản vật đất sanh ra, trên loài người, trên loài vật, và trên mọi việc tay làm. (1:9-11)
Nhưng sau khi dân sự quyết định tiếp tục việc xây cất lại đền thờ, Chúa hứa sẽ ban phước cho họ: Bây giờ hãy suy nghĩ; từ ngày nay về trước, tức là từ ngày hai mươi bốn tháng chín (18/12/520BC), từ ngày đặt nền của đền thờ Đức Giê-hô-va; Hãy suy nghĩ điều đó! 19 Các ngươi còn có hột giống nơi hầm vựa không? Dầu cho đến cây nho, cây vả, cây lựu, cây ô-li-ve, cũng không có cây nào ra trái. Nhưng từ ngày nầy, ta sẽ ban phước cho các ngươi. Tôi muốn giải thích rõ đây là lời hứa ban phước của ĐCT cho dân sự trong thời A-ghê khi họ vâng phục, tiếp tục và hoàn tất việc xây lại đền thờ. Bài học không phải là khi chúng ta hầu việc Chúa, Ngài sẽ ban thêm vật chất dư dật. Bài học là khi chúng ta hầu việc Chúa, Ngài sẽ ban phước cho chúng ta. Phước đây hơn cả vật chất. Phước lớn nhất là quan hệ của chúng ta với Chúa chúng ta.
GIÁ TRỊ CỦA SỰ PHỤC VỤ
Ngày hai mươi mốt tháng bảy (17/10/520BC), có lời của Đức Giê-hô-va phán ra bởi đấng tiên tri A-ghê mà rằng: 2 Bây giờ hãy nói cùng Xô-rô-ba-bên, con trai Sa-la-thi-ên, quan trấn thủ Giu-đa, và Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, và dân sự sót lại, bảo chúng nó rằng: 3 Ai là kẻ còn sót lại ở trong các ngươi đã xem thấy vinh quang khi trước của nhà nầy? Và bây giờ các ngươi xem nó ra làm sao? Nó ở trước mắt các ngươi, há chẳng phải như là hư không sao? 4 Vậy bây giờ, Đức Giê-hô-va phán: Hỡi Xô-rô-ba-bên, ngươi khá can đảm; còn ngươi, Giê-hô-sua, con trai Giô-xa-đác, thầy tế lễ cả, cũng khá can đảm; Đức Giê-hô-va lại phán: Cả dân sự trong đất, các ngươi cũng khá can đảm, và hãy làm việc; vì ta ở cùng các ngươi, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. 5 Lời giao ước mà ta lập với các ngươi khi các ngươi ra khỏi Ê-díp-tô cùng Thần ta ở giữa các ngươi: Chớ sợ hãi. (2:1-5)
3 lần ĐCT nhắc dạy người lãnh đạo, thầy tế lễ cả và toàn dân sự: khá can đảm, hãy làm việc, chớ sợ hãi. Cả người lãnh đạo đến người làm việc đều cần lời nhắc dạy này từ Chúa. Đây cũng là lời nhắc dạy, khích lệ, động viên của ĐCT cho tôi và qv: khá can đảm, hãy làm việc, chớ sợ hãi.
Tại sao Chúa lại nhắc dạy họ điều này? Ai là kẻ còn sót lại ở trong các ngươi đã xem thấy vinh quang khi trước của nhà nầy? Và bây giờ các ngươi xem nó ra làm sao? Nó ở trước mắt các ngươi, há chẳng phải như là hư không sao? Thế hệ trước đó đã chính mắt nhìn thấy ngôi đền thờ vĩ đại, tráng lệ, đầy vinh hiển với sự hiện diện của ĐCT trên hòm giao ước trong nơi chí thánh. Nay khi nhìn thấy đền thờ được xây lại này thì họ tiếc nuối, nản lòng.
Ê-xơ-ra ghi lại điều này: Nhiều thầy tế lễ, người Lê-vi, trưởng tộc, tức là những người già cả đã thấy đền thờ trước kia, khóc lớn tiếng khi thấy nền của đền thờ mới được xây dựng, trong khi nhiều người khác lại reo hò vì vui mừng. 13Người ta khó phân biệt tiếng vui mừng với tiếng khóc lóc, vì dân chúng lớn tiếng reo hò và tiếng ấy vang vọng khắp nơi. (Ê-xơ-ra 3:12-13)
Xô-rô-ba-bên, Giê-hô-sua, dân sự thời đó cũng tự hỏi: công việc của chúng ta có gì đáng kể khi so sánh với ngôi đền thờ trước của vua Sô-lô-môn? Họ nhìn vào quá khứ để so sánh với công việc hiện tại. Một số tôi tớ Chúa lớn tuổi đã kinh nghiệm được sự phục hưng của HT Chúa trong thời đã qua. Giờ so sánh với công việc hiện tại thì tự hỏi: việc tôi làm hôm nay có đáng gì?
Một số lớn trong chúng ta so sánh công việc mình đang làm với kết quả nho nhoi, không đáng kể với công việc, kết quả của người khác. So với họ, công việc, kết quả tôi đạt được thật đáng buồn! Tiên tri A-ghê nhắc X., G., và dân sự: chớ so sánh với sự vinh hiển ngày xưa của đền thờ mà nản lòng, thất vọng. Hãy can đảm, hãy làm việc, chớ sợ hãi.
Bình thường chúng ta thường so sánh. So sánh mình với người. Thanh niên thiếu nữ so sánh về sắc đẹp, khả năng, sự tài giỏi, học vấn, thành công. Tín đồ so sánh với tín đồ về đức tin, dâng hiến, phục vụ, về con cái trong gia đình. Người hầu việc Chúa, mục sư so sánh với người hầu việc Chúa, mục sư về việc giảng dạy, hội thánh, kết quả phục vụ. Có thể chúng ta nghĩ công việc mình đang thực hiện không có gì quan trọng, không có giá trị gì khi so với những người hầu việc Chúa khác: HT họ chỉ trong vài ba năm từ 10 người tăng lên 100 người. Bài giảng họ được nhiều người xem trên mạng tuyến. Nếu hơn người, chúng ta vui thỏa trong lòng cách bí mật. Nếu kém hơn người, chúng ta buồn bực, khó chịu.
Dù đây là điều bình thường và tự nhiên với con người, nhưng là điều nên tránh. Tại sao? Mấy lý do sau: Thứ nhất, so sánh khiến chúng ta có thể tự cao hay tự ti. Hơn người khi so sánh khiến sinh ra tự cao. Kém người sinh ra tự ti. Thứ hai, ĐCT không thẩm định giá trị của công việc tôi và qv làm cho Ngài so với công việc của người khác. Thứ ba, khiến chúng ta tập trung vào điều sai lầm, thay vì điều cần thiết: tập trung để so sánh thay vì tập trung để chăm nhìn ĐCJC mà hoàn tất cuộc chạy.
Vinh quang sau rốt của nhà nầy sẽ lớn hơn vinh quang trước, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy; và ta sẽ ban sự bình an trong chốn nầy, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy. (2:9). Thật về vật liệu, công trình kiến trúc, đền thờ dân sự xây lại không thể so sánh với đền thờ vua Sô-lô-môn xây dựng. Nhưng 500 năm sau đó, chính ĐCJC đã thăm viếng đền thờ thành Giê-ru-sa-lem xây lại này. Vinh hiển đó quí báu ngàn vạn lần hơn vật liệu, công trình kiến trúc.
Hôm nay đền thờ nơi ĐTL ngự là gì? Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? 20 Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời. (1 Cô-rinh-tô 6:19-20).
Khi ĐCJC chết trên thập giá, bức màn ngăn giữa nơi thánh và nơi chí thánh tại đền thờ thành Giê-ru-sa-lem bị xé đôi. Đó là biểu tượng cho đặc ân của người tin nhận ĐCJC được đến trực tiếp với ĐCCha qua ĐCJC. Đặc ân này quí báu và vinh hiển hơn mọi đền thờ đã xây. Tại sao? Bởi vì có vinh hiển nào lớn hơn, giá trị hơn, quí báu hơn, vĩ đại hơn là vinh hiển của sự hiện diện của ĐCT.
Ở đó, tôi không thấy đền thờ nào; vì Chúa là Đức Chúa Trời toàn năng và Chiên Con đều là đền thờ của thành. 23 Thành cũng không cần mặt trời, mặt trăng để soi sáng; vì vinh hiển của Đức Chúa Trời chói lói cho, và Chiên Con là ngọn đèn của thành. 24 Các dân sẽ đi giữa sự sáng thành đó và các vua trên đất sẽ đem vinh hiển mình vào đó. (KH 21:22-24).
Lời nầy chắc chắn lắm: Ví bằng chúng ta chết với Ngài, thì cũng sẽ sống với Ngài; 12 lại nếu chúng ta chịu thử thách nổi, thì sẽ cùng Ngài đồng trị; nếu chúng ta chối Ngài, thì Ngài cũng sẽ chối chúng ta; 13 nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được. (2 Ti-mô-thê 2:13)
