Hãy Chổi Dậy Chúc Phước – Châm Ngôn 31:8-9
- Buổi sáng nay toàn quốc Hoa Kỳ kỷ niệm ngày Lễ Mẹ (Từ Mẫu). Ngày chúng ta bày tỏ lòng thương mến, kính trọng, biết ơn những người mẹ trong cuộc đời mỗi người. Cuộc đời của rất nhiều người trong chúng ta được uống nắng, ảnh hưởng, thay đổi bởi mẹ. Đặc biệt trong thế hệ chúng ta, những người sinh ra và lớn lên tại VN, trong xã hội mà cha thường vắng mặt trong gia đình thì mẹ là tất cả.
- Nhưng trước khi chia xẻ về mẹ tôi xin được dùng vài phút để trình bày với HT một đề tài rất quan trọng, không chỉ ảnh hưởng đến HT chúng ta nhưng cả toàn thể các HT khác toàn quốc, ảnh hưởng đến một nền tảng đã được chính ĐCT thiết lập từ khi Ngài tạo ra A-đam và E-va và tồn tại cho đến cả hôm nay. Tôi muốn nói đến hôn nhân.
- Thứ tư tuần qua 09 tháng 05 trong một cuộc phỏng vấn với đài truyền hình ABC trong chương trình “Good Morning America” với Robin Roberts, tổng thống Obama đã bày tỏ sự ủng hộ của ông cho việc hôn nhân giữa hai người đồng tính (same sex). Nói một cách ngắn gọn: tôi không nghĩ rằng sự ủng hộ của tổng thống về hôn nhân giữa hai người đồng tính hợp với điều Chúa dạy trong KT.
- Tôi tôn trọng ý kiến của tổng thống và tất cả những người đồng ý với ông về vấn đề này. Tôi tôn trọng ý kiến của những giáo sư, học giả KT, những mục sư HT, những tín đồ Báp-tít, Công Giáo, Trưởng Lão, Ngũ Tuần, Tin Lành và các giáo phái Cơ Đốc khác đồng ý với hôn nhân giữa hai người đồng tính. Tuy nhiên theo sự hiểu biết của tôi về KT thì lời Chúa luôn dạy rằng hôn nhân là chỉ giữa người nam và người nữ và không hề giữa hai người đồng tính.
- Tôi cũng xác nhận rất rõ rằng như MSQN HT tôi tôn trọng người đồng tính như mọi người. Tôi cũng sẽ luôn mở rộng cửa nhà Chúa để mời đón những người đồng tính đến thờ phượng ĐCT và học KT. Có thể một vài tín hữu có thể không đồng ý với tôi về điều này. Tôi phân biệt rõ giữa tội nhân và tội lỗi. Tất cả chúng ta là tội nhân. Vì vậy chúng ta đến với ĐCJC để được tha thứ, cứu rỗi. Dĩ nhiên chúng ta cần ăn năn và từ bỏ con đường tội lỗi. Những người đồng tính cũng là những tội nhân. Và nếu tín hữu trong HT mỗi ngày đều phạm tội trong đời sống nhưng vẫn được ĐCT chấp nhận, yêu thương, tha thứ thì lý do gì chúng ta có thể bảo rằng họ tội lỗi hơn tôi, có thể bảo rằng Chúa không muốn đến với Ngài để được yêu thương, tha thứ, cứu rỗi? Điều chúng ta chống đối là những điều trái với lời dạy KT.
- Tôi sẽ trở lại với vấn đề này trong tuần lễ tới để giải thích rõ tại sao KT dạy hôn nhân chỉ giữa người nam và nữ.
HAI DƯ LUẬN HẾT SỨC SAI LẦM
- Hai ý kiến và dư luận hết sức sai lầm về đạo Chúa là: 1) Dạy người tin Chúa bỏ ông bỏ bà, bỏ cha mẹ, 2) Đạo Chúa trọng nam khinh nữ, coi trọng người làm chồng, làm cha hơn người vợ, người mẹ. Trái lại với hai dư luận hoàn toàn sai lầm KT dạy người theo Chúa phải hiếu kính cha mẹ hầu có thể được sống lâu trên đất. Điều răn thứ năm giữa hai phần là điều răn về sự hiếu kính cha mẹ. ĐCJC trong giờ phút cuối cùng trên thập giá trước khi trút hơi vẫn nhớ về mẹ mình là Ma-ri và ủy thác trách nhiệm dưỡng nuôi cho sứ đồ Giăng.
- KT cũng nâng cao giá trị của người phụ nữ, giá trị của người làm mẹ, làm vợ trong và ngoài gia đình. Đoạn KT đã đọc trong CN 31 viết rất rõ về một người phụ nữ, người vợ, mẹ khéo léo, đảm đang, công ngôn dung hạnh đủ cả. Đây là người mà cả chồng lẫn con phải trổi dậy mà ngợi khen. Không những vậy công việc tốt và phẩm hạnh của bà cũng được cả thành khen ngợi.
- CN 31 bắt đầu với lời dạy về sự khôn ngoan của một vị vua tên Lê-mu-ên. Những lời khôn ngoan này mà vua dạy, vua đã học được từ chính những lời dạy của mẹ ông. Vậy không phải ngẫu nhiên mà CN 31 kết thúc với hình ảnh người nữ tài đức.
- Vậy chính đạo ĐCT đã nâng giá trị, sự quan trọng của phụ nữ, mẹ, vợ lên cao hơn các tôn giáo khác.
THẾ NÀO LÀ ĐƯỢC PHƯỚC?
- Tôi ý thức rằng thông thường chúng ta thường hay thơ mộng hóa câu chuyện như trong lễ Giáng Sinh, Phục Sinh hay thổi phồng tầm quan trọng trong các dịp lễ như ngày lễ Mẹ, lễ Cha hay lễ tình yêu. Tôi hiểu rằng:
Với một số thì việc làm mẹ là điều không tự nguyện, có thể là việc bất ngờ, accident!
Với số khác thì dù mong mỏi biết bao được làm mẹ nhưng vẫn son sẻ, không con.
Với một số khác thì chính người mẹ mình không lý tưởng, gần gủi, cảm thông như mong mỏi hay như trong các chuyện kể.
Với một số nữa thì làm mẹ, làm vợ, ngay trong hoàn cảnh tốt nhất, vẫn không phải là điều ước muốn. Con đường làm mẹ không phủ bằng hoa hồng, hoa huệ nhưng ngập đầy nước mắt, nỗi khổ đau ít ai hiểu hết được. Có thể ngay trong lúc này những người mẹ, người vợ đó vẫn còn đang khóc thầm vì con, vì chồng.
- Vậy khi nói về phước tôi biết rằng có một số người mẹ, người vợ hỏi: phước gì, phước đâu không thấy, chỉ thấy toàn khổ đau. Nhưng lời KT viết rõ về những người được làm mẹ là những người được phước, cho dù có phải trải qua bao nhiêu nhọc nhằn, khổ đau, bao nhiêu ngày đêm nặng lòng vì con mình. Dù có bất hạnh bao nhiêu thì ít ra người làm mẹ còn nếm được hương vị của niềm vui khi con còn thơ ấu, nằm trong lòng mà thỏ thẻ với mẹ, còn có lúc nuôi hy vọng khi con lớn khôn sẽ nên người hữu dụng.
- Có thể tùy theo tâm trạng, hoàn cảnh, tùy theo mơ ước, nhu cầu hiện tại mà chúng ta định nghĩa từ được phước. Khi thiếu thốn về vật chất, tiền của thì người mẹ, vợ được phước là người được đầy đủ, dư dật để khỏi bận tâm về tương lai con cái mình. Khi không có con mà được con thì xem là được phước. Khi có con lớn chờ dọn ra khỏi nhà để khỏi thấy nó ăn dằm nằm dề, khỏi vướng bận thì cũng gọi là được phước!
- Dĩ nhiên nếu một người mẹ được phước dựa vào hoàn cảnh, tâm trạng, nhu cầu thì trong vòng 100 người chắc sẽ có 100 định nghĩa khác nhau, 100 ý nguyện khác nhau.
- CN 31:10-31 nêu ra mấy ý quan trọng về người mẹ, người vợ được phước.
AI SẼ TÌM ĐƯỢC NGƯỜI?
- CN 31:10-31 được viết theo một thể thơ đặc biệt của người Do Thái ngày xưa. Đoạn này gồm 22 câu. Mỗi chữ đầu tiên của mỗi câu tương xứng với với 22 chữ cái trong tiếng Hy-bá-lai (Hebrews). Vài đoạn KT CU, đặc biệt các thể văn thơ, được viết theo cách thức này như Thi thiên 111, 112. Ví dụ như Ai có tai hãy lắng nghe; Ba có tai sao lại không nghe; Con có tai nhưng vẫn làm ngơ.
- Lý do gì tác giả lại dùng thể văn thơ này? Một học giả ngôn ngữ giải thích như sau Đây là một cách thức thơ mộng trong thi phú để bày tỏ, diễn đạt sự trọn vẹn của một đề tài nào đó (J.A. Motyer – “a poetic way of saying that a total coverage of the subject was being offered”) Như vậy chủ ý của vua Lê-mu-ên (tác giả đoạn CN này) khi dùng thể văn thơ này là để nói lên cách trọn vẹn, tuyệt đối để ca ngợi, khen tặng, để chúc phước một người mẹ, vợ đảm đương.
- Chúng ta có thể nghĩ 22 câu KT này như 22 viên ngọc trai, mỗi viên đều có một sắc vẻ đặc biệt, một màu sắc riêng. Cả 22 viên ngọc này được xâu lại thành một vòng chuổi ngọc thật đẹp đẻ, quí báu, vô giá trị. Mỗi câu nói lên một khía cạnh, hành động cụ thể, một gương đáng ngợi khen, quí trọng, ngưỡng mộ, thán phục về người mẹ, vợ. Những người mẹ có những phẩm hạnh này là những người được phước và sẽ được chồng con mình đứng dậy mà khen ngợi, chúc phước. (Một số có thể nói rằng biết nhiều cực nhiều, làm nhiều, khổ nhiều!)
- Câu 10 bắt đầu với mẫu tự A (Aleph) của tiếng Hebrew bằng một câu hỏi Một người nữ tài đức ai sẽ tìm được? Mục đích không phải để than thở rằng ai có thể tìm được người phụ nữ tài đức như vầy bởi vì chính tôi đã tìm được người nữ đó rồi Mục đích nhằm nhấn mạnh ơn phước cho người tìm được (phước cho tôi trước rồi mới đến người nữ!!!), nhằm để nói lên sự hiếm hoi của người như vầy.
- Chữ tài đức trong câu là chữ được dùng rất nhiều lần trong KT CU (gần 250 lần). Từ nói lên sự mạnh mẻ, can đảm như một người lính khi ra trận, người bày tỏ lòng dũng cảm hay sức mạnh của một đội quân ngoài trận mạc; nói về sự giàu có, về khả năng; về phẩm hạnh, về sự chính trực. Từ cũng được dùng khi vua Pha-ra-ôn hỏi Giô-sép tìm cho một người giỏi để vua giao việc. Để nói lên sức lực tiềm tàng từ bên trong của một cây cổ thụ, cây ra bông, ra trái Cây ra trái, cây vả, và cây nho đều ra sức nó(Giô-ên 2:22)
- Ai có thể tìm được một người như vậy? Can trường, mạnh mẽ, dũng cảm, không sợ hãi, không chùng bước trước gian khổ, khó khăn, thử thách. Đầy đủ phẩm hạnh lẫn khả năng, giàu có, toàn hảo về công dung ngôn hạnh?
- KT dạy Ai tìm được một người vợ, tức tìm được một điều phước. Và hưởng được ân điển của Đức Giê-hô-va. (CN 18:22) Nhà cửa và tài sản là cơ nghiệp của tổ phụ để lại; Còn một người vợ khôn ngoan do nơi Đức Giê-hô-va mà đến. (19:14) Nếu chồng tìm được vợ tài đức như vầy tại sao lại không biết tạ ơn Chúa, biết quí trọng, chăm sóc người vợ Chúa ban cho?
TIẾC CHI LỜI KHEN TẶNG
- 22 câu KT như 22 viên ngọc trai đẹp đẽ. Mỗi câu đều gồm lời khen ngợi người mẹ, vợ.
Khen về sự chăm sóc cho chồng, cho con (12, 21)
Khen về sự cần cù, không khó làm việc, thức dậy sớm, đi ngủ khuya (15, 18)
Khen sự khôn ngoan, tính toán cho công việc trong và ngoài nhà (13, 14, 16)
Khen sự nâng đở chồng (12, 23)
Khen lời nói khôn ngoan, nhân hậu (26)
Khen phẩm hạnh, đạo đức, người cao quý (25)
Khen vì được chồng, con tin tưởng, yêu thương, quí trọng
Khen về tiếng tốt lan rộng ra đến cả thành trong vòng mọi người (31)
- Lời khen ngợi rất quan trọng với vợ, mẹ. Có người nói rằng Một tiếng khen chân thành có thể giúp cho chúng ta sống đến cả tuần, cả tháng. Ai không chuộng tiếng khen ngợi, lời động viên. Vậy đó mà mẹ, vợ có khi chỉ nghe toàn những lời phàn nàn, chê trách từ con, từ chồng. Làm quần quật cả ngày từ công việc công sở đến công việc nhà cửa chỉ nghe những tiếng chê!
- Khi muốn làm quen với một người, tán tỉnh một người ai bắt đầu với lời chê trách? Phải khen mới lấy được vợ: nào là đẹp đẻ, duyên dáng, giỏi giang, khéo léo, khôn ngoan, đảm đang… Khi lấy rồi thì lại đầy những lời chê bai!
- Các ông cần phải phụ hợ công việc nhà cửa, thậm chí bếp núc, lo lắng con cái. Không ai toàn hảo cả nên bớt chê vợ, mẹ mình mà nên cám ơn, khen ngợi. Canh mặn một chút cũng không sao. Cơm nhão thì cũng vẫn ăn được. [Lan làm đổ tiêu vào tô hủ tiếu nhưng ăn vẫn thấy ngon vì vợ có lòng cho tiêu.] Có bao giờ các con hỏi tại sao không phàn nàn khi thức ăn tại các tiệm McDonald, Fried Chicken đều giống hệt như nhau mà lại phàn nàn về thức ăn mẹ nấu?
- Tình yêu thương của mẹ cũng đã nêm cho thức ăn đủ ngọt, mặn, béo rồi.
- Người mẹ, vợ được phước là người được các con, chồng luôn khen ngợi, quí trọng, kính nể. Hình ảnh các con và chồng chổi dậy chúc phước, khen ngợi, ca tụng trong câu 28-29 cho thấy rõ về sự quan trọng của sự kính trọng và lời khen ngợi, về sự hãnh diện về mẹ, vợ.
- Các con học sự khen ngợi, lòng kính trọng với mẹ từ người làm chồng, làm cha.
