Hai Người Mắc Nợ
Một trong những người viết thánh ca nổi tiếng nhất là một phụ nữ tên Fanny Crosby. Bà viết trên 8000 bài thánh ca đã được in ra trên hơn 100 triệu bản. Có ai lại không nghe hay biết bài thánh ca: Blessed Assurance (Này truyện ký tôi) hay Near the cross (gần thập tự). Một điều đặc biệt là bà mù mắt từ khi còn nhỏ tuổi. Tuy nhiên khi nói về tình cảnh mù lòa, bà Crosby có những lời sau: “Nếu ngày mai tôi được ban cho mắt sáng tôi sẽ không nhận. Tôi có thể đã không hát những bài tôn vinh Chúa nếu tôi bị chi phối bởi những điều đẹp đẽ và thích thú về tôi. Khi tôi về với Chúa trên thiên đàng, gương mặt đầu tiên tôi sẽ hân hoan nhìn thấy với mắt mình là Cứu Chúa tôi".
Dĩ nhiên với bà Crosby mắt không phải là phần duy nhất của con người để có thể nhìn thấy, nhận biết và thông hiểu những điều quan trọng nhất trong đời sống. Thật vậy, chúng ta không chỉ thấy với mắt nhưng còn với tâm hồn, trí tuệ và kinh nghiệm sống.
Gần 30 năm trước đây khi tôi và Lan đến sinh sống tại thành phố này, mắt chúng tôi chỉ thấy sa mạc khô cằn, không cây cối, người Việt ít ỏi, tiệm VN thưa thớt. Cả vùng northeast và Rio Rancho bấy giờ còn vô số đất hoang, không nhà cửa. Tôi nghĩ ai mà muốn mua những mẫu đất hoang dã xấu xí đó. Nhưng đến nay hai vùng này nhà cửa mọc lên như nấm, đường xá mở rộng, tiệm tùng mở ra biết bao nhiêu. Và đến nay cộng đồng VN tại thành phố trên dưới gần 10K người. Quán ăn, chợ bán, nhà thuốc, tiệm sửa xe của người Việt không thiếu. Nếu chỉ nhìn với mắt thì không ai có thể nghĩ đến xứ sa mạc cũng vùng miền Tây HK như Albuquerque, Phoenix có thể trở nên những thành phố to lớn, sầm uất như ngày nay.
Cha mẹ nhìn con nhỏ, thấy cả một tương lai, hy vọng, cả thế hệ sau này. Các cháu bé nhìn thấy ông bà không phải là những người già nua, da nhăn, tóc bạc, yếu ớt, chậm lụt nhưng là người nó yêu mến, gần gũi. Ai không cảm động khi nhìn thấy em bé hôn người ông, người bà da nhăn, tóc bạc. Các em không nhìn thấy sắc đẹp nhưng nhìn thấy tình yêu thương ông bà dành cho nó.
Vậy nếu chúng ta chỉ nhìn với mắt, chúng ta sẽ thiếu sót rất nhiều, hiểu lầm rất nhiều, đoán xét rất nhiều và thậm chí mất mát rất nhiều ơn phước Chúa hay sự ngọt ngào của tình cảm con tim, của tiếng Chúa Thánh Linh trong đời sống. Như người Pha-ri-si trong câu chuyện Lu-ca 7:36-50 đọc sáng nay. Chúng ta không thể thực sự hiểu biết nếu chỉ nhìn bằng mắt. Chúng ta chỉ thực sự hiểu biết, cảm thông khi nhìn cả với tâm hồn, trí tuệ, tình yêu thương và kinh nghiệm sống
Ba phần trong bài giảng: 1) Cái nhìn theo người Pha-ri-si; 2) Người phụ nữ nhìn chính mình; 3) ĐCJC nhìn cả hai người mắc nợ
CÁI NHÌN THEO NGƯỜI PHA-RI-SI
Câu chuyện kể về hai người: một nam, một nữ; người nam có tên là Si-môn, một thầy dạy kinh luật, một người đạo đức, người nữ vô danh được biết là người phụ nữ xấu nết, tội lỗi trong thành phố. Nếu theo cái nhìn của người đời khi so sánh hai người này, chắc chắn đa số sẽ xem trọng Si-môn và xem thường người phụ nữ tội lỗi vô danh. Đa số sẽ tin chắc rằng thiên đàng thuộc về người Pha-ri-si đạo đức, địa ngục dành cho người phụ nữ tội lỗi.
Câu chuyện kể về một người Pha-ri-si tên Si-môn mời Chúa Jêsus đến nhà ăn. Dù bản nguyên thủy không nói rõ buổi ăn này lúc nào nhưng chúng ta có thể đoán là buổi tối vì đây là phong tục của người La-mã trong bửa ăn tối. Khi một người đàn bà xấu nết trong thành phố biết Chúa đang ăn tại nhà người Pha-ri-si bà đến và đem theo một bình thuốc thơm. Khi đến bà đứng nơi chân Chúa khóc, rồi lấy nước mắt và chính tóc mà lau chân Chúa, hôn chân Ngài và đổ thuốc thơm lên chân. Khi người Pha-ri-si thấy vậy ông tự nghĩ, nếu Jêsus là tiên tri thì chắc phải biết người phụ nữ này xấu nết, tội lỗi thế nào mà lại để bà rờ đến. Chúa đọc được ý nghĩ đó nên kể cho Si-môn một câu chuyện ngụ ngôn về hai người mắc nợ không trả nổi được chủ tha. Một người được tha 500 đơ-ni-ê, người kia 50. Chúa hỏi người Pha-ri-si ai là người biết ơn, yêu mến chủ nhiều hơn. Hắn trả lời: dĩ nhiên là người được tha nợ nhiều. Và KT viết: Đoạn, Ngài xây lại người đàn bà mà phán cùng Si-môn rằng: Ngươi thấy đàn bà nầy không? (7:44). Rồi Chúa tha tội cho bà và nói: Đức tin của ngươi đã cứu ngươi; hãy đi cho bình an.
Trong 4 sách Phúc Âm, có tất cả 3 câu chuyện về 3 người phụ nữ đến với ĐCJC đem theo thuốc thơm. Hai câu chuyện kia kể tại làng Bê-tha-ni (Matt 26, Mác 14) tại nhà một người phung tên Si-môn 2 ngày trước ngày lễ Vượt Qua trong tuần lễ cuối đời của ĐCJC, một phụ nữ đến với một bình thuốc thơm rất đắt tiền đổ lên đầu Chúa. Câu chuyện kia cũng tại làng Bê-tha-ni, tại nhà ba chị em Ma-ri, Ma-thê và La-xa-rơ 6 ngày trước lễ Vượt Qua trong tuần lễ cuối đời của ĐCJC do chính bà Mari lấy thuốc thơm đổ lên chân Chúa rồi lấy tóc lau chân Ngài (Giăng 12)
Câu chuyện trong Lu-ca 7 xảy ra trong thời gian 3 năm khi ĐCJC còn đang giảng đạo. Ngụ ngôn về 2 người mắc nợ rõ ràng dạy về sự tha thứ và lòng biết ơn.
Lý do gì người Pha-ri-si tên Si-môn này mời ĐCJC đến nhà dùng bửa tối? Có lẽ để tìm hiểu, xem xét Chúa thật sự là ai, tại sao có thể thực hiện các phép lạ kỳ diệu, giảng những lời về nước Trời thu hút cả đoàn dân đông. Nhưng chương trình đó bị gián đoạn bởi người phụ nữ xấu nết thình lình đến khóc dưới chân Chúa. Tưởng tượng về sự kiện khi xảy ra.
Vả, có một người đàn bà xấu nết ở thành đó, nghe nói Đức Chúa Jêsus đang ngồi bàn tại nhà người Pha-ri-si, bèn đem đến một bình ngọc trắng đựng đầy dầu thơm. 38 Người đứng đằng sau, nơi chân Đức Chúa Jêsus, khóc, sa nước mắt trên chân Ngài, rồi lấy tóc mình mà chùi; lại hôn chân Ngài, và xức dầu thơm cho. 39 Người Pha-ri-si đã mời Ngài, thấy vậy, tự nghĩ rằng: Nếu người nầy là đấng tiên tri, chắc biết người đàn bà rờ đến mình đó là ai, cùng biết ấy là người đàn bà xấu nết. (7:37-39)
Buổi ăn tối không giúp cho Si-môn hiểu biết hơn về Chúa hơn là sự nhìn thấy bên ngoài. Ông chỉ có thể thật sự nhìn thấy tấm lòng, tình yêu thương của ĐCJC khi hiểu được ý nghĩa của việc làm, lời nói, thái độ của Chúa với người đàn bà có tội này. Si-môn nhìn thấy gì? Là người Pha-ri-si ông chắc nghĩ đến luật pháp Mô-se.
Các học giả cho biết có tất cả 613 điều răn, luật lệ người Do Thái thời đó phải tuân giữ: 248 điều nên làm, phải làm và 365 điều không nên làm, nên tránh. Ai có thể giữ trọn 613 điều răn, luật lệ? Si-môn nhìn thấy người đàn bà xấu nết này là một người phạm các điều luật, một người đáng xa lánh, cần tránh xa, không gần đến. Gần người đàn bà này là gần mực đen, gần bùn nhơ, gần tiếng thị phi, gần sự xấu hổ. Giao tiếp với người này chẳng đem đến điều gì lợi ích, nói chi đến tốt đẹp! Nói chi đến việc để cho người đó sờ đụng đến mình! Phụ nữ thời đó tuyệt đối không được sờ đụng đến đàn ông xa lạ không quen biết nơi công cộng. Nếu có chăng chỉ có những phụ nữ bán thân.
Si-môn nhìn thấy với mắt qua cặp kính luật pháp, sự hiểu biết CU. Vì vậy ông nghĩ rằng Jêsus là một tiên tri như các tiên tri ĐCT sai đến thời CU. Và nếu là tiên tri của ĐCT thì Jêsus phải biết người đàn bà đang khóc dưới chân, lấy nước mắt và tóc lau chân, rồi lấy thuốc thơm đổ lên là ai. Si-môn không thể ngờ rằng Jesus chính là Đấng Cứu Rỗi, Đấng đến không phải để lên án, buộc tội nhưng để tha thứ, cứu chuộc.
Với con mắt luật pháp, quí vị cũng có thể đánh giá người quanh mình như Si-môn: họ là những người xấu nết, có tội; bộ Chúa không biết sao mà không phạt họ? Dưới con mắt, cái nhìn của luật pháp, chúng ta phán xét, không cảm thông; buộc tội, lên án, không tìm hiểu, tha thứ, hồi phục. Cũng như đoàn dân đông sáng thứ Sáu hò reo: đóng đinh nó đi, đóng đinh nó đi, luật phát cũng lớn tiếng: xử xét người đó đi, buộc tội họ đi.
Có bao giờ quí vị tự hỏi: tại sao ĐCJC lại tóm tắt tất cả luật pháp, điều răn vào hai điều: yêu mến ĐCT và yêu mến người lân cận mình: Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ngươi hãy hết lòng, hết linh hồn, hết ý mà yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi. Ấy là điều răn thứ nhất và lớn hơn hết. Còn điều răn thứ hai đây, cũng như vậy: Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình. Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra. (Ma-thi-ơ 22:37-40).
Yêu thương là ngôn ngữ của con tim. Luật pháp là của lý lẽ khô khan. Có lý lẽ nhưng không có tình yêu thương thì thật không hiểu hay hiểu lầm lời Chúa dạy về mục đích của luật pháp, điều luật. Chính vì vậy kỷ luật trong hội thánh, như trong nội quy HT, nhằm mục đích hồi phục chớ không phải chỉ trừng phạt, bêu xấu.
Si-môn cũng nhìn người phụ nữ, so sánh tội của bà với sự vâng giữ luật pháp của ông. Chắc lấy làm hảnh diện, tự hào. Lẽ ra ông nên nhìn ĐCJC, một người hoàn toàn tuyệt đối không hề phạm tội để thấy rằng sự công chính của ông chỉ là một tấm vải dơ trước mặt ĐCT. Quí vị đang nhìn ai? Nhìn chung quanh để so sánh, đánh giá người hay nhìn Chúa để ý thức về tội của chính mình, để xin được tha thứ, được cứu chuộc và thay đổi.
QUAN ĐIỂM VỀ PHỤ NỮ THỜI TÂN ƯỚC
Nam xem trọng hơn nữ trong xã hội, gia đình, cả trong tôn giáo
Chế độ gia trưởng (nam làm chủ) và đa thê là một chế thể được chấp nhận hoàn toàn
“Thế giới” chính của phụ nữ là gia đình, con cái; “thế giới” chính của nam giới là công việc bên ngoài gia đình và trong xã hội
Lãnh đạo là vai trò của nam giới, phục tòng là vai trò của nữ giới, không khác gì quan điểm “tam tòng” (tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử)
Thiếu nhiều nhân quyền so với nam giới, như không được làm chứng trước tòa án, không được làm môn đồ của các giáo sĩ DT
Triết gia Socrates (470-399BC) xem phụ nữ rất thấp kém hơn nam giới, sinh ra như người nữ là chịu sự trừng phạt từ trời, vị trí người nữ là ở giữa nam giới và thú vật (Plato, Timaeus)
Cảm tạ Thượng Đế đã tạo tôi là người, không là thú; nam, không là nữ; Hy Lạp, không là man dã (Socrates/Plato)
Sự tiết độ của nam và nữ, hay sự can đảm và công bình giữa nam và nữ không giống nhau, như Socrates đã dạy. Sự can đảm của người nam thể hiện qua sự lãnh đạo, và của người nữ qua sự vâng phục (Aristotle, Politics)
Tất cả các tài liệu Do Thái đều cho thấy một hình ảnh tiêu biểu về phụ nữ trong xã hội thời đó: họ phải cung cấp những gì được yêu cầu, từ việc sinh con nối dõi, nội trợ gia đình, trung thành với chồng, tránh giao tiếp với người nam xa lạ, hay làm đẹp cho chồng. Những phụ nữ làm trái lại những đòi hỏi này đều được mô tả như là người xấu nết. (Tal Ilan, “Jewish Women in Greco-Roman Palestine”)
Phụ nữ Do Thái trở nên công dân hạng nhì, bị loại trừ khỏi sự thờ phượng và học lời Chúa, với nhân quyền chỉ trên nô lệ một chút (B.M. Metzger & M.D. Coogan, “The Oxford Companion to the Bible”)
Cảm tạ ĐCT đã tạo tôi là người DT, không là người ngoại; nam, không là nữ; tự do, không là nô lệ. (Rabbi Yehuda ben Ilai, mid-2nd c. CE)
Thà đốt lời của Kinh Torah còn hơn ủy thác cho một người đàn bà… Ai dạy con gái họ lời Kinh Torah giống như người dạy cô ấy điều tục tĩu (Rabbi Eliezer, “Mishnah, Sotah 3:4”)
NGƯỜI PHỤ NỮ NHÌN CHÍNH MÌNH
Người phụ nữ đó nhìn thấy gì nơi chính cuộc đời bà và nơi ĐCJC? Về chính cuộc đời mình bà không nói cho chúng ta biết qua lời nhưng qua nước mắt. Đây không phải là những giọt lệ giả dối hay từ một cảm xúc nhất thời nhưng từ sự ăn năn, thống hối về tội lỗi trong cuộc đời chính mình. Người ta khóc vì nhiều lý do: có khi nhỏ nước mắt như cá sấu, giả bộ; có khi khóc mướn thương vay, như những người được trả tiền để khóc trong đám táng ngày xưa; có khi cay đắng vì ghen tức; nhưng thường nước mắt đổ ra khi một người có tâm trạng đau buồn. Tác giả Thi Thiên viết: Đang khi người ta hằng hỏi tôi: Đức Chúa Trời ngươi đâu? Thì nước mắt làm đồ ăn tôi ngày và đêm. (TT 42:3). Tiên tri Giê-rê-mi được gọi là tiên tri than khóc vì ông đỗ nước mắt bao lần trong đời khi thấy những cảnh tượng thương tâm xảy ra cho dân sự, đất nước.
Người phụ nữ không hề nói một lời nào trong câu chuyện này. Bà chỉ khóc, hôn chân, chùi chân bằng chính tóc mình, rồi đổ thuốc thơm lên chân Chúa. Lắm khi lời nói không có nhiều ý nghĩa bằng việc làm. Qua hành động người đàn bà đó nói lên sự xấu hổ, ăn năn thật sự về đời sống, việc làm. Những giọt nước mắt chân thành thống hối đó ĐCT giữ lại ở nơi đặt biệt như tác giả TT viết: Chúa đếm các bước đi qua đi lại của tôi: Xin Chúa để nước mắt tôi trong ve của Chúa, Nước mắt tôi há chẳng được ghi vào sổ Chúa sao? (TT 56:8). KT cũng ghi lại chính ĐCJC cũng đã khóc hai lần: khi đứng trước mồ La-xa-rơ và khi vào thành Giê-ru-sa-lem.
Người phụ nữ này nhìn thấy gì ở ĐCJC? Simôn, người Pha-ri-si nhìn thấy một tiên tri. Bà nhìn thấy một nguồn hy vọng, một Đấng Cứu Rỗi, một người cảm thông cho hoàn cảnh, thân phận, Đấng tha tội lỗi cho bà. Thuốc thơm chỉ dùng trong hai trường hợp: hoặc liệm xác chết, hoặc thể hiện lòng quí trọng, yêu mến với người sống. Hành động bà đem bình thuốc thơm đến để xức chân cho Chúa nói lên lòng quí trọng của bà đối với Chúa. Hơn thế nữa lấy chính nước mắt và tóc mà lau chân là một hình ảnh khiêm nhu của một đầy tớ. Thời đó không có giầy, chỉ có dép. Khi đi đường, bụi bám vào chân dơ bẩn nên khi khác vào nhà việc đầu tiên chủ làm là sai đầy tớ rửa chân cho khách.
MS Tim Keller giải thích về bình thuốc thơm của người phụ nữ xấu nết này là bình dầu thơm đeo nơi cổ của một người bán thân dùng cho “nghề nghiệp” của họ để thu hút “khách hàng”. Trong thời đó, người phụ nữ đoan trang, đạo đức không xỏa tóc ngoài công chúng. Chỉ có những người phụ nữ lã lơi, hay những người bán thân mới xỏa tóc dài trước đàn ông. Vậy đây là một người phụ nữ bán thân. Bà dâng cho Chúa tất cả những gì bà dùng để kiếm sống, dù tội lỗi, bằng bình thuốc thơm. Cũng là một ý ăn năn về cuộc đời tội lỗi của mình. Bà dâng tất cả những gì có được như người đàn bà góa dâng 2 đồng xu.
Mỗi chúng ta, tôi & qv đều có những bình thuốc thơm đeo cổ như người phụ nữ. Bình thuốc thơm đeo cổ có thể là sắc đẹp, thông minh, tài sản, chức vị: điều chúng ta sẽ đem đổ dưới chân của một người nào đó hay một mục đích nào đó. Có người đổi sắc đẹp để lấy danh vọng, chức vị. Có người lại đổi chức vị để lấy sắc đẹp, tình dục. Có người đổi cả sức lực tuổi xuân để đổi lấy thành công. Mọi người đều có bình thuốc thơm đeo cổ và mọi người đều đem nó đổ vào chân một người, một mục đích nào đó. Ai chiếm hữu đời sống qv? Ai chiếm hữu con tim qv?
Người phụ nữ tội lỗi đem bình thuốc thơm đổ lên chân Chúa, đổ nước mắt lên chân Chúa, lấy tóc lau chân Chúa: Một hành động bày tỏ lòng yêu kính, quí mến, tôn sùng, hoàn toàn tin tưởng, phó thác cả cuộc đời cho Ngài.
Người Pha-ri-si nhìn người khác thấy có tội, nhìn người qua cặp kính luật pháp. Người phụ nữ không dám nhìn ai cả chỉ biết nhìn vào chính cuộc đời tội lỗi, nhơ nhớp của mình mà khóc ăn năn. Bà cũng không dám nhìn mặt Chúa chỉ nhìn chân Chúa vì biết mình thấp hèn, tội lỗi. Chính bởi lòng ăn năn, thống hối, sự khiêm nhường đó đã khiến ĐCJC yêu thương và tha thứ tội cho bà.
[ĐCJC đối xử với phụ nữ - con gái của Áp-ra-ham]
ĐCJC kể một câu chuyện về hai người đến đền thờ thành Giê-ru-sa-lêm để dâng của lễ. Người Pha-ri-si ngưỡng mặt lên cao, áo ông chắc phải may vạc trước dài lắm và vạt sau ngắn nhiều mà cầu nguyện: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. (Lu-ca 18:11-12) Còn người thu thuế khi đứng ở xa không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà than khóc: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! (13). Chúa kết luận thế nào? Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên. (18:14)
1 Các ngươi đừng đoán xét ai, để mình khỏi bị đoán xét. 2 Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy. 3 Sao ngươi dòm thấy cái rác trong mắt anh em ngươi, mà chẳng thấy cây đà trong mắt mình? 4 Sao ngươi dám nói với anh em rằng: Để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt anh, mà chính ngươi có cây đà trong mắt mình? 5 Hỡi kẻ giả hình! Trước hết phải lấy cây đà khỏi mắt mình đi, rồi mới thấy rõ mà lấy cái rác ra khỏi mắt anh em mình được. (Ma-thi-ơ 7:1-5)
ĐCJC luôn luôn có lòng thương xót cho những người thật sự ăn năn, biết tội mình. Nhưng Ngài luôn luôn lên án, buộc tội những người nghĩ rằng họ công chính, hơn mọi người như những người Pha-ri-si.
Đức Chúa Jêsus phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi. (Ma-thi-ơ 21:31) Các ngươi đây là ai? Là các thầy tế lễ cả và các trưởng lão, những người nghĩ mình công chính, đạo đức, thánh khiết.
ĐCJC NHÌN CẢ HAI NGƯỜI MẮC NỢ
Câu hỏi của Chúa cho người Pha-ri-si cũng chính là câu hỏi cho tất cả chúng ta: Đoạn, Ngài xây lại người đàn bà mà phán cùng Si-môn rằng: Ngươi thấy đàn bà nầy không? (7:44) Dĩ nhiên Si-môn thấy người đàn bà qua mắt nhìn, dĩ nhiên mọi người trong buổi ăn đó cũng đều thấy bà. Nhưng họ có thật sự thấy không?
Một câu chuyện trong Tam Quốc Chí kể về Tào Tháo. Chúng ta hay nghe câu “nghi ngờ như Tào Tháo” vì có lý do. Một ngày Tháo phải đến tá túc tại nhà của một người vì bị Khổng Minh đánh bại bỏ chạy. Khi đến đó Tháo nghe có tiếng xì xầm nơi nhà sau, thấy cha con trong nhà đi ra rồi đi vào, lại thấy họ lấy dao. Sau đó lại nghe tiếng dao mài. Tào Tháo liền sai lính giết hết cả nhà. Hóa ra chủ nhà đi ra, lấy dao mài để giết súc vật làm cơm đãi Tào Tháo. Khi biết mình hiểu lầm và đã giết hết cả nhà, Tào Tháo nói: “Thà ta phụ người còn hơn để người phụ ta!” Người tin Chúa phải là người thà bị người phụ còn hơn phụ người.
Một bài học từ câu chuyện này là những điều chúng ta tưởng mình nghe, nhìn thấy là đúng nhưng thật sự chưa hẳng vậy. Lắm lúc chúng ta hiểu lầm cho dù tưởng rằng nghe đúng, nhìn đúng. Tín đồ có thể hiểu lầm nhau khi nhìn thấy một hành động, cử chỉ mình không thích rồi gán cho người kia động cơ mà họ không hề có. Hầu hết chúng ta đều nghĩ rằng nhận xét của mình đúng, phải lẽ. Mấy ai nghĩ rằng điều nhìn thấy, nghe nói chưa hẳn thật sự là chủ ý của người khác. Lắm khi giận hờn nhau vì những việc hiểu lầm như không chào hỏi nhau, khi được đóng góp ý kiến về việc làm gì đó. Điều tốt nhất là hỏi lại: có phải anh chị làm điều này hay không? Nếu có xin giúp tôi hiểu lý do gì làm như vậy? Cũng có khi bên ngoài người ta nói với nhau: không có chuyện gì đâu; chuyện nhỏ, không có gì đáng giữ bụng. Nhưng lời nói đó không thật sự phản ánh điều suy nghĩ trong lòng.
Si-môn nhìn Chúa, nhìn người đàn bà nhưng thấy, hiểu không đúng. ĐCJC không chỉ thấy bên ngoài, nhìn thấy những giọt nước mắt, tóc lau chân, dầu xức lên, nhưng biết cả suy nghĩ bên trong. Chúa nhìn qua buổi ăn, người trong bàn, nhìn qua cái vỏ Pha-ri-si của Si-môn, nhìn thấu suốt người phụ nữ xấu nết này. Chúa nhìn thấy một người thật sự ăn năn, thống hối; người muốn thay đổi cuộc đời, muốn được tha thứ, yêu thương.
Lời cuối cùng của Chúa cùng bà: Đức tin của ngươi đã cứu ngươi; hãy đi cho bình an. (7:50) Dĩ nhiên Si-môn không phải là người Pha-ri-si duy nhất trong thành phố có cái nhìn không thiện cảm, khi dễ với bà. Chắc sẽ có nhiều người Pha-ri-si khác cũng suy nghĩ như Si-môn và đánh giá người đàn bà cách khắc nghiệt. Chắc cũng có nhiều người xa tránh bà; hễ bà đi đến đâu thì họ dời đi nơi khác. Vậy làm sao bà có thể đi cách bình an khi chung quanh vẫn còn có sự đoán xét, xa lánh, khinh dễ?
Bình an đây chắc chắn không tùy thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài nhưng đến từ ý thức rằng bà đã được ĐCJC tha thứ tội. Bình an này đến từ tâm hồn kinh nghiệm được tình yêu thương, sự tha thứ của Chúa, cho dù bên ngoài hoàn cảnh có thể vẫn như nguyên. Đây cũng là bài học cho mỗi chúng ta và cho hội thánh Chúa tại đây: nếu ĐCT đã tha thứ cho chúng ta, cho anh chị em chúng ta thì lý do gì chúng ta lại tiếp tục làm khó dễ, gây khó khăn cho anh chị em trong Chúa. Có người nói rằng vì họ tội nhiều nên phải ăn năn ba năm trước khi tôi chấp nhận! Hội thánh phải là nơi người có tội đến để nhận sự tha thứ, tình yêu thương không phải chỉ từ Chúa nhưng từ mỗi người và mọi người trong hội thánh.
Hằng tuần chúng ta đọc bài cầu nguyện chung. Trong đó có lời dạy: Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi (Ma-thi-ơ 6:12). Sau đó ĐCJC lập lại: Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. 15 Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi. (6:14-15)
Chúa Jêsus nhìn người đàn bà có tội và động lòng thương xót. Bà nhìn thấy Chúa và tìm thấy sự cảm thông, hy vọng, sự tha thứ, hồi phục cuộc đời. Người Pha-ri-si nhìn thấy Jêsus nghĩ rằng đây là tiên tri, và nhìn người đàn bà chỉ nghĩ về tội của bà. Quí vị nhìn thấy gì?
