Giữ Trọn Đức Tin – Phần 2
Chúng ta sẽ tiếp tục 2 Ti-mô-thê 4 từ câu 9-22. Đây là một trong những đoạn KT cảm động nhất nhưng cũng hết sức đau lòng khi suy gẫm về những ngày cuối đời, về những lời cuối cùng của PL viết cho người con tinh thần thân yêu nhất. PL là người được xem là quan trọng hơn hết, chỉ sau ĐCJC trong lịch sử HT. Tôi xin được dùng vài phút để tóm tắt lại bối cảnh của lá thư này.
2 Tim là lá thư cuối cùng trong số 13 thư sứ đồ PL được ĐTL khải thị để viết ra cho các hội thánh và tín đồ trong những ngày tháng đầu tiên sau khi HT được thành lập tại Giê. Có ai ngờ rằng mãi 2000 năm sau, hàng tỉ tín đồ như tôi và qv đây vẫn còn nghe, đọc, học, nhớ và suy gẫm các thư tín này. Quả thật đúng như lời ĐCJC phán Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi. (Ma-thi-ơ 24:35)
[Tóm tắt bối cảnh thư 2 Ti-mô-thê]
Trong 2 Tim 4:1-8 PL cho biết mục đích của cuộc đời ông là rao giảng Tin Lành dù gặp thời hay không gặp thời, giữ trọn đức tin, hoàn tất cuộc chạy để nhận được mão triều thiên Chúa ban. PL cũng biết thời gian còn lại trên đất không bao lâu. PL cũng khuyên Tim: hãy tiết độ trong mọi sự, chịu đựng gian khổ, làm công việc của nhà truyền giảng Tin Lành và chu toàn chức vụ của mình. (4:5)
Bài giảng hôm nay dựa theo phần cuối của thư từ câu 9 đến 22. Trong đoạn KT này PL dạy cho Timothy biết rằng hầu việc Chúa là một việc khó khăn, nhất là trong quan hệ với người. Nhưng dù khó khăn đến mấy PL vẫn vững tin ĐCJC vẫn luôn ở cùng. Đây là lý do PL giữ trọn đức tin cho đến cuối.
Đến cuối đời người điều quan trọng nhất không phải là vật chất nhưng là quan hệ. Tình yêu thương, lòng quan tâm quan trọng ngàn lần hơn vật chất. Đến lúc đó không ai nghĩ về bao nhiêu căn nhà mình có, bao nhiều tiền trong bank, nhưng về những người thân yêu nhất trong đời. Và câu hỏi quan trọng nhất là: Vợ có thương chồng, chồng có thương vợ, con cái với cha mẹ, bè bạn, hàng xóm, những người làm việc chung, tín hữu cùng trong hội thánh có thương mến nhau cách chân tình hay không?
Trọng tâm của đoạn KT này không phải để PL khoe khoan thành tích đã được: bao nhiêu HT đã thành lập, bao nhiêu nơi đã rao giảng TL… Nhưng là về quan hệ với những người PL cùng hầu việc Chúa trước khi bị giam trong ngục tối. Trong đoạn KT này PL nhắc đến tên 18 người, chưa kể những người PL gọi là anh em. Ti-mô-thê, Đê-ma, Cơ-rết-xên, Tít, Lu-ca, Mác, Ti-chi-cơ, Ca-bút, A-léc-xan-đơ, Bơ-rít-ca và A-qui-la, Ô-nê-si-phô-rơ, Ê-rát, Trô-phim, Ơ-bu-lu, Bu-đen, Li-nút, Cơ-lau-đia và các anh em.
18 tên được nhắc đến trong 13 câu KT đủ để cho chúng ta biết điều gì là quan trọng đối với sứ đồ PL trong lúc cuối đời. [Trong thư Rô-ma 16 PL nhắc đến tên của 30 tên chưa kể đến tên của mẹ hay chị các tín đồ!] 17 trong 18 người này là những người đồng công phục vụ Chúa với PL. Chúng ta có thể gọi đây là nhóm nồng cốt dưới sự lãnh đạo của PL.
Trong số 18 người PL liệt tên không phải tất cả đều là bạn hữu thân thiết, trung thành. Câu 9 bắt đầu với lời kêu gọi Tim Hãy cố gắng đến với ta thật sớm (BHĐ). Lý do gì? vì Đê-ma, do ham mê đời nầy, đã lìa bỏ ta và đi qua Tê-sa-lô-ni-ca. Trước khi nói về Đê-ma tôi muốn cùng qv suy nghĩ về Ti-mô-thê, người nhận lá thư trong tù lúc cuối đời của PL.
ĐCT đem Tim đến với PL trong chuyến truyền giáo thứ 2. Tín đồ của cả hai hội thánh tại hai thành phố khác nhau (Lít-trơ & Y-cô-ni) đều khen ngợi. (nếu muốn biết rõ hơn về 3 chuyến truyền giáo của PL, về các nhân vật trong thư, về địa điểm qv có thể tham gia lớp học CV môi thứ 3). Từ đó Tim trở nên người con trong Chúa rất yêu dấu, rất tín cẩn của PL, đến nỗi lá thư cuối đời PL viết gửi cho Tim.
PL mở đầu thư 2 Ti-mô-thê với lời thân thiết với Tim: cả ngày lẫn đêm ta ghi nhớ con không thôi trong khi cầu nguyện. 4 Vì ta nhớ đến nước mắt con, muốn đến thăm con quá chừng, để được đầy lòng vui vẻ. 5 Ta cũng nhớ đến đức tin thành thật của con, là đức tin trước đã ở trong Lô-ít, bà ngoại con, và trong Ơ-nít, mẹ con, ta chắc rằng nay cũng ở trong con nữa (2 Tim 1:3-5)
Mấy câu KT này đủ để cho chúng ta biết về tình cảm của PL với Tim và của Tim với PL sâu đậm thế nào. Dù thư viết rõ rằng trong thời gian lao tù này chỉ còn Lu-ca thỉnh thoảng đến thăm, nhưng cũng không thay được quan hệ với Tim. Dù là một người còn trẻ tuổi (1 Tim 4:2) nhưng được PL ủy thác một trách nhiệm lớn: quản nhiệm HT Ê-phê-sô.
Tim có 2 tính hạnh vượt trổi hơn mọi tài năng, ân tứ: 1) phục vụ vì lòng yêu mến ĐCJC (Phi-líp 2:19-23) Vì không có ai đồng tâm tình với tôi để thật sự lo lắng cho anh em như Ti-mô-thê. 21Ai nấy chỉ quan tâm đến lợi ích riêng của mình chứ không quan tâm đến lợi ích của Đức Chúa Jêsus Christ (20-21); 2) trung tín và có đời sống gương mẫu: Vậy, tôi lấy điều đó khuyên anh em: Hãy bắt chước tôi. 17 Vì cớ đó, tôi đã sai Ti-mô-thê, là con yêu dấu của tôi, cùng là trung thành trong Chúa, đến cùng anh em; người sẽ nhắc lại cho anh em biết đường lối tôi trong Đấng Christ, và tôi dạy dỗ cách nào trong các Hội thánh khắp các nơi. (1 Cô-rinh-tô 4:16-17). Đức tin, tính hạnh của Tim cũng như tấm gương phản ánh đức tin, tính hạnh của PL. Hê-bơ-rơ 13:23 còn cho biết có lúc Tim còn bị tù đày.
PL mong Tim hãy gấp rút mà đến với ông vì biết rằng ngày qua đời đã gần. 2 lần trong đoạn 4 PL nhắc Tim hãy hết sức cố gắng mà đến với ông ngay lập tức và trước khi mùa đông đến. Hãy cố gắng đến với ta thật sớm.(2 Tim 4:9) Câu 21 cho biết thêm 1 chi tiết: Con hãy cố gắng đến trước mùa đông. Trong ba tháng mùa đông tàu bè không thể đi trong vùng biển Địa Trung Hải vì sóng to gió lớn, thời tiết xấu. KT không cho chúng ta biết Tim có đến trước mùa đông hay không nhưng chúng ta biết chắc Tim rồi sẽ đến với PL dù PL còn sống hay đã chết, hoặc trên đất này hay trên thiên đàng sáng láng.
Về Đê-ma: Câu 9 bắt đầu với lời kêu gọi Tim Hãy cố gắng đến với ta thật sớm (BHĐ). Lý do gì? vì Đê-ma, do ham mê đời nầy, đã lìa bỏ ta và đi qua Tê-sa-lô-ni-ca. Nếu Giu-đa Ít-ca-ri-ốt đã lìa bỏ Chúa thì Đa-ma cũng đã lìa bỏ PL. Tên Đê-ma được nhắc đến trong 2 thư tín viết khi PL bị giam lỏng tại thành La-mã. 2 trong số 4 thư (Ê-phê-sô, Phi-líp, Cô-lô-se và Phi-lê-môn) đó là Cô-lô-se và Phi-lê-môn. Trong 2 thư đó PL đều nhắc đến Đê-ma như sau: Lu-ca, là vị bác sĩ yêu quý, chào thăm anh em; Đê-ma cũng vậy. (Cô-lô-se 4:14); Mác, A-ri-tạc, Đê-ma và Lu-ca, những bạn đồng lao của tôi cũng vậy. (Phi-lê-môn 1:24).
Vậy trong suốt 2 năm trời PL bị giam lỏng tại thành La-mã thì Đê-ma vẫn còn là bạn đồng lao không chỉ với PL nhưng với tất các anh chị em tín hữu phục vụ Chúa cùng PL. Nhưng khi PL bị bắt lại và bỏ vào ngục tối lần cuối trong đời, Đê-ma lại lìa bỏ PL đang khi người sứ đồ trung tín này cần sự yên ủi khích lệ nhất. Điều gì xảy ra trong tấm lòng, con tim của Đê-ma trong những tháng năm đó? Đê-ma ham mê đời nầy, bỏ PL để đi đến Tê-sa-lô-ni-ca. Có gì ở thành Tê-sa mà Đê-ma quyết định bỏ PL? Có một bóng hình của người đẹp nào đó quyến rũ? Hay đó là quê nhà mà ông muốn trở về để sống đời bình an?
KT không cho biết lý do gì; nên những điều này cũng chỉ là giả thuyết. Một điều chắc chắn là Đê-ma ham mê đời nầy. Từ đam mê này cũng chính là từ agape – yêu mến - như Giăng 3:16. Khi ma quỉ cám dỗ ĐCJC: Ma quỷ lại đem Ngài lên đỉnh núi cao, chỉ cho Ngài thấy tất cả các vương quốc trên thế gian với sự huy hoàng của chúng, 9và nói: “Nếu ngươi sấp mình thờ lạy ta, ta sẽ cho ngươi tất cả những thứ nầy.” (Ma-thi-ơ 4:9) Ham mê, yêu mến đời này có nghĩa là gì? Là sấp mình thờ lạy ma quỉ để được tất cả vật chất với sự huy hoàng của nó.
Ham mê, yêu mến đời này có nghĩa là gì? Chớ yêu thế gian cùng những gì trong thế gian. Nếu ai yêu thế gian thì sự kính yêu Đức Chúa Cha không ở trong người ấy. 16Vì mọi sự trong thế gian như dục vọng của xác thịt, ham muốn của mắt, và sự kiêu ngạo về cuộc sống, đều không đến từ Đức Chúa Cha mà đến từ thế gian (1 Jn 2:15-16).
Dục vọng của xác thịt là những ham muốn, đam mê làm thỏa mản xác thịt; ham muốn của mắt là về vật chất thấy được như của cải, nhà cửa; kiêu ngạo của đời là sự hảnh diện về bằng cấp, tài sản, địa vị. Nếu tấm lòng của chúng ta ham muốn đời này hơn sự tái lâm của ĐCJC để đón con dân Ngài về trời, thì chúng ta cũng yêu mến, ham muốn như người đời không tin Chúa.
Một khi người hầu việc Chúa ham muốn đời này thì hoặc sẽ thay đổi hội thánh, mục vụ theo xu hướng người đời hoặc cũng như Đê-ma, lìa bỏ PL, lìa bỏ mục vụ. Bao nhiêu người bỏ Chúa, bỏ hội thánh, bỏ đức tin, bỏ gia đình vì sự ham mê đời này hơn Chúa. Đây là nguyên nhân chính của bao nhiêu sự sa ngã. Hầu hết mục sư, người hầu việc Chúa sa ngã vì 2 điều: 1) dục vọng xác thịt, phạm tội tà dâm; 2) tham lam tiền bạc, thâm lạm tiền của HT, lừa dối tín đồ để lấy tiền của, làm giàu cho mình (1 Tim 6:10: lòng tham tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác).
Trong bước đường theo Chúa, khởi đầu không quan trọng bằng kết thúc. Có người bắt đầu rất tốt, hăng say làm việc Chúa, nhưng lại kết thúc như Đê-ma; nhưng cũng có người khi bắt đầu, phạm lỗi lầm, vấp ngã, thiếu sót nhưng lại kết thúc cách tốt đẹp. Cuộc đời của Đê-ma và Mác (Giăng Mác) là bằng chứng của điều này [giải thích về lỗi lầm của Mác – cũng bỏ PL và Ba-na-ba mà về lại Jerusalem]. ĐCT còn dùng Mác để viết lại cuộc đời, lời dạy của ĐCJC trong Phúc Âm Mác.
Trong mọi điều chúng ta có thể dự tính, chuẩn bị nhưng một điều không ai có thể dự tính hay tiên đoán trước được: điều đó là quan hệ, lòng dạ con người. Tại sao? Bởi vì như lời KT viết: Ý định trong lòng người như nước sâu, Nhưng người sáng suốt sẽ múc lấy. (CN 20:5-BDM) Tục ngữ VN chúng ta cũng có câu: Dò sông dò biển dễ dò. Nào ai có thước mà đo lòng người. Chỉ có ĐCT mới thật sự biết rõ những gì trong lòng dạ, tâm tưởng của con người.
Nhưng ai cho mình là người sáng suốt có thể múc lấy nước sâu của lòng người? Nếu có ai sáng suốt hơn tôi & qv thì người đó là sứ đồ PL. Nhưng chính PL cũng không hiểu hết được tấm lòng người như Đê-ma, là người được PL xem là bạn đồng lao cùng với các chiến sĩ đức tin như Lu-ca, Tít, nhưng rồi vì ham mê đời này mà lìa bỏ mục vụ. Hay như Alexander, người thợ đồng đã tìm đủ mọi cách thức để gây hại cho PL và phá hoại công việc truyền giảng TL.
Vì thời gian nên chúng ta sẽ không tìm hiểu tất cả 18 tên PL viết trong thư. Dù vậy không thể nào không nói về Alexander. A-léc-xan-đơ, thợ đúc đồng, đã làm hại ta nhiều lắm; Chúa sẽ báo trả hắn tùy theo việc hắn đã làm. 15Cả con cũng phải cảnh giác người đó, vì hắn quyết liệt chống đối lời rao giảng của chúng ta. (4:14-15)
Trong thư 1 Tim 1:20 PL căn dặn Tim về hai người phạm thượng mà PL đã phó cho Sa-tăn. Một người có tên A-léc-xan-đơ. CV 19:33 cũng có 1 người tên A-léc-xan-đơ tại thành Ê-phê-sô. Tên A-léc-xan-đơ là một tên rất, rất phổ thông thời đó, nên chúng ta không rõ có liên hệ gì đến A trong 1 Tim và CV 19 hay không. PL cho biết 2 chi tiết: người này đã làm hại ông rất nhiều và quyết liệt chống đối Tin Lành. Nhưng PL để việc trả thù cho ĐCT thay vì tìm cách ăn miếng trả miếng.
Bên cạnh sự vắng mặt của Tim, người con trong Chúa rất yêu dấu, PL lại còn bị bạn đồng lạo lìa bỏ vì ham muốn đời này. PL cũng bị người không tin Chúa làm hại và chống đối quyết liệt việc rao giảng TL. Cộng thêm vào nỗi cô đơn, đau buồn này là tất cả những người trong nhóm nồng cốt, ngoại trừ Lu-ca đều phải chia tay với PL vì công việc Chúa: Cơ-rết-xen sang Ga-la-ti, còn Tít thì đi Đa-ma-ti rồi. Chỉ còn một mình Lu-ca ở với ta… Ta đã sai Ty-chi-cơ đi Ê-phê-sô. (9, 12)
Trong công việc Chúa có lúc hợp rồi cũng có lúc tan. Có lúc anh chị em đồng công chúng ta cảm mến, yêu thương bên cạnh nên rất vui vẻ, phấn khởi. Nhưng cũng có lúc chúng ta không còn lại ai cả, cô đơn, lẽ loi, không ai chia sẻ niềm vui, nỗi buồn trong công việc Chúa.
Nhưng câu KT đáng buồn hơn hết như sau: Khi ta biện hộ cho mình lần thứ nhất, không có ai ủng hộ ta cả; tất cả đều bỏ rơi ta. (4:16). Theo luật pháp La-mã để kết trọng tội một người, người đó có được 2 lần để biện hộ cho mình (hoặc luật sư) gọi là prima actio và secunda actio. PL nói về phiên tòa thứ nhất trước khi bị kết án. Trong phiên tòa thứ nhất đó không có ai ủng hộ ta cả; tất cả đều bỏ rơi ta.
Không ai và tất cả. Không một người nào đến để ủng hộ, cổ võ, khích lệ, làm chứng cho PL gồm cả bác sĩ Lu-ca là người duy nhất còn ở lại thành La-mã với PL. Có thể họ sợ bị liên hệ đến tính mạng, có thể vì lý do nào đó chúng ta không biết. Không những không có ai ủng hộ ta cả mà còn tất cả đều bỏ rơi ta. Qv có thể hình dung được cảnh của phiên tòa thứ nhất.
PL lúc bấy giờ đã 60 ngoài – hôm nay còn trẻ nhưng thời đó là một người già, hơn nữa qua bao nhiêu gian nan trong chức vụ hầu việc Chúa, PL có lẽ rất ốm yếu, già nua tay chân mang xiềng xích bị giải đến tòa án trước một quan thẩm quán nào đó. Nhìn chung quanh PL không hề thấy một tín hữu nào trong HT La-mã, cũng không thấy Lu-ca hay một anh em nào cùng hầu việc Chúa với mình. Cô đơn, thất vọng, buồn lắm vì trong lúc cần nhất thì tất cả đều bỏ rơi ta. Từ bỏ rơi này cũng là từ dùng để viết về Đê-ma đã lìa bỏ PL. Nỗi cô đơn khi anh chị em đồng công phải đi đến nơi khác để giảng TL là một điều, nhưng nôi cô đơn, thất vọng khi bị tất cả bỏ rơi, không ai ủng hộ lớn đến bao nhiêu lần hơn!
Nếu qv đứng trong hoàn cảnh của PL qv sẽ nghĩ sao? Lên án, buộc tội tín đồ? Mất niềm tin vào những người đã bỏ rơi ông? Trách Chúa tại sao con trung tín hầu việc đến nỗi chịu xiềng xích nay trong phiên tòa đầu tiên này, không một người đến, tất cả đều bỏ rơi?
Nhưng lời kế vô cùng cảm động và cho biết về tính hạnh của PL, về bông trái TL trong PL hơn bao giờ hết Xin Chúa đừng chấp trách họ! PL cầu xin Chúa tha thứ, bỏ qua cho tất cả những người đã bỏ rơi ông trong giờ phút cần thiết nhất.
Chắc rằng mỗi mục sư đều kinh nghiệm được bỏ rơi này. Dù có khóc thầm hay đau lòng đến mấy, KT dạy chúng ta phải tha thứ như PL đã tha thứ cho anh chị em đồng công trong Chúa. Không những tha thứ mà PL vẫn không trở nên cay đắng, chua chát, nghi ngờ động cơ mọi người mà lúc nào cũng mặc một cái áo giáp phòng thủ. Từ nay tôi không bao giờ tin tưởng bất cứ người nào! Mọi lời nói, lời hứa chỉ đều là giả dối!
Làm thế nào để PL có thể tha thứ, không cay đắng trong lòng? Vì ông biết chắc rằng: Nhưng Chúa đã đứng bên ta và ban năng lực cho ta để ta có thể rao truyền Tin Lành một cách chu toàn cho tất cả dân ngoại đều nghe, và ta đã được giải cứu khỏi hàm sư tử. 18Chúa sẽ giải cứu ta khỏi mọi điều ác và đem ta vào vương quốc thiên đàng của Ngài. (4:17-18)
Qv hỏi làm sao tôi có thể nói rằng PL thật sự tha thứ, thật sự không cay đắng trong lòng? Bởi vì PL vẫn gửi lời chào thăm đến các anh em đồng công dù tất cả đã lìa bỏ trong lần biện hộ thứ nhất: Kính gửi lời chào Pê-rít-sin và A-qui-la, cùng gia quyến Ô-nê-si-phô-rơ. 20Ê-rát còn ở Cô-rinh-tô, còn Trô-phim đang bị đau nên ta để ở lại Mi-lê. 21Con hãy cố gắng đến trước mùa đông. Ơ-bu-lu, Pu-đen, Li-nút, Cơ-lau-đia cùng tất cả anh em gửi lời chào thăm con. (4:19-21)
Tôi xin được tóm tắt với 7 bài học để áp dụng cho mỗi chúng ta:
Không một ai quan trọng đến nỗi ĐCT không thể thay thế được. Đừng bao giờ nghĩ rằng nếu tôi không có đó thì công việc sẽ không thành, HT sẽ tan rã. Sau khi PL và Phi-e-rơ, 2 trụ cột vĩ đại nhất trong HT Chúa bị chém đầu, HT đầu tiên vẫn tiếp tục phát triển. ĐCT sẽ gây dựng một đội ngũ khác để làm công việc Ngài. Sóng sau sẽ dồn sóng trước. Timothy, Mác, Tít, Ti-chi-ơ, ĐCT sẽ Pê-rít-sin và A-qui-la và bao nhiêu người khác PL viết trong thư sẽ tiếp tục truyền giảng TL, trang bị tín đồ, thành lập HT.
Coi chừng cám dỗ của đời này. Sau khi ma quỉ cám dô ĐCJC và thất bại, KT cho biết nó chờ một cơ hội khác. PL cũng cảnh giác: ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã. (1 Cô-rinh-tô 4:12)
Khởi đầu không quan trọng bằng kết thúc. Dẫn chứng qua 2 nhân vật Đê-ma và Mác. Hay như Sau-lơ, Giu-đa Ít-ca-ri-ốt
Chắc chắn sẽ có lúc bị chống đối như Alexander hay bỏ rơi như PL trong phiên tòa thứ I
Những người lãnh đạo trưởng thành có trách nhiệm tìm kiếm, đào tạo, trang bị những Ti-mô-thê và tạo cơ hội, điều kiện để phục vụ, tiếp nối công việc Chúa giao phó
Phải tha thứ. Tin rằng dù thế nào, Chúa vẫn giúp đỡ và thêm sức cho, giải thoát ta khỏi mọi điều ác và cứu vớt ta vào trong nước trên trời
Ngay cả PL cũng cần sự hiện diện, động viên, khích lệ của anh chị em trong Chúa và để chia sẻ, san sớt công việc vì không một người nào có thể làm tất cả mọi việc thì chúng ta cần điều này biết bao nhiêu. Hãy ghé vai chung gánh với nhau những nhiệm vụ lớn lao (Ga-la-ti 6:2 – BHĐ)
