Đừng Sợ! Ta Báo Cho Các Ngươi Một Tin Mừng Lớn
Đêm nay là đêm Giáng Sinh. Đêm mà hằng tỉ người trên thế giới kỷ niệm sự kiện Jesus ra đời. Dù là người tin Chúa hay không tin Chúa thì đêm GS, mùa GS luôn luôn mang lại một không khí, một ý nghĩa vô cùng đặc biệt. Rất nhiều quốc gia, dân tộc dù không theo đạo Chúa vẫn kỷ niệm GS. Không ai có thể nói xứ VN là xứ theo đạo Chúa, nhưng trong đêm GS hằng trăm ngàn người đổ ra đường đón mừng GS! Đây là hình của một cây GS làm bằng các vỏ đạn bom tại thành Aleppo, xứ Syria, nơi mà cuộc nội chiến đã giết trên 200K người. Tại xứ Sri Lanka, một quần đảo nhỏ phía năm xứ Ấn độ, nơi mà 70% dân số theo Phật giáo nhưng họ vẫn đang dựng một cây GS nhân tạo cao nhất thế giới gần 200ft, khoảng 20 tầng lầu cao [hình].
Nếu hỏi GS có gì đặc biệt với qv hiện diện tại đây, thì qv trả lời thế nào? Hình ảnh gì thường đến trong tâm trí, trong suy nghĩ của qv, cảm xúc gì qv có trong đêm, trong mùa GS? Các em nhỏ thì nghĩ rằng đây là mùa của quà tặng, mùa của cây noel, của đồ trang trí, mùa được nghĩ học, mùa có tuyết trắng. Người lớn thì nói đây là mùa của hy vọng, mùa của tin yêu, mùa của sự ban tặng, mùa của hòa bình.
48 năm trước đây trong ngày trước GS (Christmas Eve) lần đầu tiên trong lịch sử, phi thuyền Apollo 8 của HK bay quanh quỉ đạo của mặt trăng. (Qv chắc nhớ 7 tháng sau Apollo 9 đáp người đầu tiên lên mặt trăng.) Để kỷ niệm GS, 3 phi hành gia trong phi thuyền Apollo 8 đã gởi một sứ điệp rất đặc biệt từ quỉ đạo mặt trăng về trái đất. Sứ điệp đó là đoạn KT theo STK viết về sự sáng tạo trời đất của ĐCT. Và đây là sứ điệp lịch sử đó [video].
Tại sao GS lại có một ý nghĩa đặc biệt đến nỗi từ không gian cách trái đất 250K dặm, 3 phi hành gia HK đã gởi sứ điệp đặc biệt? Tôi sẽ giải thích cho qv qua đoạn KT sau đây: [Đọc Lu-ca 2:11-14].
Nhiều người nghĩ rằng GS mang ý nghĩa đặc biệt bởi vì Chúa giáng trần để đem lại hòa bình trên đất, và bình an cho tâm hồn. Họ dựa theo một câu KT đã đọc qua: 14 Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người! (Lu-ca 2:13-14). Có đúng vậy không?
Một câu chuyện thật, một sự kiện lịch sử có một không hai, xảy ra trong đệ nhất thế chiến ngay trong ngày GS: Dù mấy giờ trước đó quân đội Đức và đồng minh là Pháp và Anh là kẻ thù tìm mọi cách để giết nhau thì trong đêm GS và ngày GS họ hòa hợp, trao đổi bánh kẹo, thuốc lá và cùng nhau hát các bài hát GS. Đối với những người lính trong thời chiến tranh này, qv nghĩ họ mong ước gì? Ước nguyện to lớn nhất của họ trong mùa GS là gì? Là hòa bình. Không còn chiến tranh, thù hận, giết hại lẫn nhau.
Có thế hệ nào, có dân tộc nào lại không mong ước hòa bình? Chúng ta ước mơ hòa bình trên thế giới, bình yên, hòa thuận trong gia đình, với mọi người. Nhưng đến nay ước mơ này cũng chỉ là mơ ước. Chiến tranh vẫn đầy dẫy trên thế giới. Gia đình vẫn đỗ vỡ. Quan hệ, tình cảm rạn nứt, tan vỡ. Rồi mỗi GS đến, chúng ta lại mơ ước hòa bình.
Chẳng phải ĐCT hứa ban bình an, hòa bình hay sao? Chẳng phải lời thiên sứ phán: Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người! hay sao? Thật ra lời KT thế này: Nguyện vinh hiển thuộc về Ðức Chúa Trời trong cõi trời chí cao, Nguyện bình an đến với những người được Ngài ban ơn dưới trần thế.
Ai là người Chúa thương, được ơn? Có phải những người ăn hiền ở lành, tu tâm dưỡng tánh, làm việc công đức? Tôi có một ngạc nhiên cho qv: theo lời dạy KT câu trả lời là không. KT dạy người được Chúa thương là người đã nhận được sự bình an, hòa bình với ĐCT. Họ là những người đến tìm con trẻ Jesus hạ sinh trong chuồng chiên, đặt nằm trong máng cỏ, và tin nhận Con đó là Cứu Chúa của đời họ.
Tựa chung có có 3 sự hòa bình dưới trần thế này: 1) Hòa bình giữa người và người, dân tộc, quốc gia này với dân tộc, quốc gia nọ; 2) Hòa bình trong tâm hồn một người; 3) Hòa bình giữa người và Trời. Mọi nỗ lực của loài người trong chính trị, khoa học, xã hội nhằm đạt được 2 sự hòa bình đầu tiên, và cho rằng sự hòa bình giữa người và Trời chỉ thuộc về tôn giáo, cho những người vẫn còn tin vào Trời. Nhưng KT dạy hễ khi nào loài người chưa hòa thuận cùng ĐCT thì hòa bình giữa người với người, bình an trong tâm hồn chỉ là ảo vọng, là chạy bắt bóng của hình. Có ai chụp bắt được bóng mình trên vách. Cũng vậy đó cho ai nghĩ rằng mình sẽ có hòa bình mà không cần đến Chúa.
Một điều ngăn trở qv tìm đến với Chúa để được sự hòa bình với Ngài theo đoạn KT này là sự sợ hãi. KT viết khi thiên sứ hiện ra, báo tin cùng những người chăn chiên ngoài đồng như sau: Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên. 9 Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi (Lu-ca 2:8-9) Câu dịch họ rất sợ hãi trong từ nguyên thủy là họ sợ hãi với sự sợ hãi vô cùng (mega fear) Không phải chỉ những người chăn chiên sợ hãi trước ĐCT, trước sự vinh hiển của ĐCT, nhưng mọi người đều sợ hãi trước Chúa.
Có mấy lần tôi đáp máy bay từ phi trường Reagan thủ đô DC trở về Albquerque tôi thấy có thượng nghị sĩ Tom Udal cũng đi cùng chuyến bay đó. Ông thuộc nhóm đầu tiên vào phi cơ và ưu tiên chọn ghế và thường ông chọn ghế sát đường đi. Tôi chú ý rằng hầu hết mọi người đều tránh ngồi hàng ghế đó. Lý do? Đơn giản bởi vì sợ ngồi gần thượng nghị sĩ! Khi đến gần người hết sức đẹp, chúng ta sợ vì không đẹp bằng. Gần người thông minh tuyệt đỉnh, sợ lộ ra sự thiếu kiến thức… Huống chi đến ĐCT!
Người VN chúng ta rất sợ Trời. Không riêng người VN nhưng tất cả mọi dân tộc đều sợ ông Trời. Chúng ta cúng kiến, mong Trời để yên cho mình sinh sống, làm ăn. Không ai muốn gần Trời. Tôi chưa bao giờ nghe một tôn giáo, triết lý nào nói rằng: tôi yêu thương Ông Trời! Ngoại trừ lời dạy từ KT, từ đạo Chúa.
Thiên sứ phán cùng những người chăn chiên, Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; 11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. 12 Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ.
Thiên sứ nói với họ Ta biết các ngươi vô cùng sợ hãi. Mọi người đều sợ hãi trước vinh hiển ĐCT, trước sự thật của ĐCT, trước sự hiện diện của Ngài. Nhưng ta có một tin vui mừng rất lớn để các người không còn sợ hãi khi đến gần ĐCT. Đấng từ trời cao đầy vinh hiển chính, Đấng tạo dựng mặt trăng, trái đất và vô số hành tinh trong vũ trụ bao la này đã giáng thế làm người, sinh ra trong một chuồng chiên tại một làng nhỏ tên Bết-lê-hem. ĐCT đã đến thế gian này cách nhu mì, khiêm nhường, thấp hèn để mọi người không còn phải sợ Ngài, mà có thể đến với Ngài để nhận được sự hòa bình với Chúa: Đây là sứ điệp Giáng Sinh.
GS cũng cho biết loài người sống trong sợ hãi. Sự sợ hãi đó bày tỏ rõ nhất khi con người đến gần ĐCT, gần sự thật của ĐCT, gần ánh sáng Trời. Khi ĐCT mới sáng tạo A-đam và E-va, họ bước đi trong vườn địa đàng với ĐCT lúc chiều mát. Họ yêu thích sự hiện diện của Đấng tạo dựng nên họ. Ánh sáng, vinh hiển của ĐCT mang đến sự vui mừng.
Rồi một ngày, KT viết, họ quyết định ĐCT không còn là chủ của đời sống họ; họ quyết định và hành động theo ý muốn của họ chứ không theo lời ĐCT. Từ ngày đó, quan hệ của họ với Chúa và với nhau hoàn toàn thay đổi. Bây giờ họ sợ ngay khi nghe tiếng chân Chúa. Họ trốn núp trong bụi cây. Khi Chúa gọi họ: A-đam, con ở đâu. A-đam trả lời: Con nghe tiếng Ngài trong vườn nên con sợ vì con trần truồng nên con trốn! Sự trần truồng này không chỉ về thể xác nhưng còn về lỗi lầm của họ với Chúa và với nhau.
Một số đông trong chúng ta sợ bị người chê quê mùa nếu tin Chúa. Sợ tin Chúa rồi sẽ mất hết cuộc sống tiện nghi, mọi thú vui đang theo đuổi. Chúng ta sợ bị người từ chối, xa lánh, lãng quên. Chúng ta sợ đỗ vỡ trong quan hệ. Muốn biết hai sự sợ hãi này hỏi những ai bị phụ tình, ai không có hạnh phúc trong gia đình; hỏi những người lớn tuổi nghe các con muốn bỏ họ vào viện dưỡng lão! Chúng ta sợ thất bại. Thất bại trong công việc làm, trong việc học, trong tình cảm, trong hôn nhân, gia đình. Chúng ta sợ tội ác, chiến tranh đang xảy ra hằng ngày quanh mình. Chúng ta sợ Trời, sợ người biết rõ lỗi lầm của mình.
Nếu có một máy để chiếu tất cả những suy nghĩ, ý muốn, dự tính của qv lên màn hình lớn tại Cotton Wood Mall hay Uptown Mall cho mọi người nhìn thấy, thì qv nghĩ sao?
Có lẽ vì những lý do này mà mọi người đều sợ ĐCT. Bởi vì có ai dấu được Chúa? Đến với Chúa là đến với sự thật, với Đấng không thể chấp nhận gian dối, lừa lọc, hai lòng. Đến với Chúa thì ánh sáng của sự thật sẽ cho thấy rất rõ mọi chi tiết của mỗi cặn bả, nhớp nhơ trong ý nghĩ, trong dục vọng của lòng người. Ai không sợ sẽ bị tiết lộ những điều này?
Cũng như A-đam và E-va lấy lá che thân sau khi phạm tội, mỗi người chúng ta cũng che đậy sự sợ hãi trong đời mình bằng lá cây với nhiều hình dạng, cách thức khác nhau. Lá của cây tự tin, của lòng kiêu hảnh. Lá của cây tiền tài, danh vọng; lá của cây địa vị, bằng cấp; lá của cây thành công. Nhưng có cây nào, lá nào xanh hoài không tàn úa. Những điều chúng ta dùng để che dấu những lo lắng, sợ hãi trong cuộc sống, trong tâm hồn rồi cũng không thể dấu hết được.
Chú ý lời phán của thiên sứ khi bảo những người chăn chiên đừng sợ không phải một học thuyết, một cách thức mới để tịnh tâm, trấn an tâm hồn. Nhưng là một Đấng Cứu Thế, là Christ, là Chúa. Tin mừng, Phúc âm của GS là sự chào đời của Đấng Cứu Thế đó. Và nếu ai đến với Đấng đó, ai tin nhận Ngài thì được hồi phục quan hệ với Ngài như trước khi A-đam, E-va chọn làm chúa cuộc đời họ. Khi quan hệ với ĐCT được hồi phục, chúng ta không còn sợ hãi với sự sợ hãi vô cùng khi đến gần Chúa. Không còn sợ phải bị buộc tội trong ngày phán xét cuối cùng. Vì tội lỗi được ĐCJC tha thứ.
KT giải thích thế này: 11 Chúa đã đến trong nước Ngài mà dân Ngài không nghênh tiếp, 12 nhưng những ai tiếp nhận Ngài, nghĩa là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho quyền trở nên con Đức Chúa Trời.13 Đây là những người không sinh ra theo huyết thống, ý phàm hay ý người, nhưng do chính Đức Chúa Trời sinh thành. (Giăng 1:11-13)
Phật dạy: Ta biết chính đạo, ta biết niết bàn, ta sẽ chỉ cho các con cách để đạt được, nhưng kết quả là do chính công đức của mỗi người. Khổng Lão dạy: phải tu thân, rồi mới có thể tề gia, rồi mới có thể trị quốc, bình thiên hạ. KT dạy: Vì ĐCT yêu thương thế gian… (Giăng 3:16)
Một tác giả viết thế này: Chú tâm vào cuộc đời này, chúng ta sẽ mất cả cuộc đời và thiên đàng. Chú tâm vào thiên đàng, chúng ta sẽ được cả cuộc đời này và thiên đàng. Tôi thêm lời giải thích thế này: Chú tâm vào hòa bình trong quan hệ và cho chính mình, chúng ta sẽ mất cả hai sự hòa bình đó và luôn cả hòa bình với ĐCT. Chú tâm vào hòa bình trong quan hệ với Chúa, chúng ta sẽ được cả hòa bình trong quan hệ, bình an cho tâm hồn, và cả hòa bình trong quan hệ với Chúa.
[Kêu gọi sau buổi nhóm có thể đến gặp tôi hay qv trong BĐH, hay với người đã mời qv đến đây để hiểu thêm về tin vui mừng thật sự của GS.]
