Đừng Để Rễ Cay Đắng Mọc Ra
Khá coi chừng kẻo có kẻ trật phần ân điển của Đức Chúa Trời, kẻo rễ đắng châm ra, có thể ngăn trở và làm ô uế phần nhiều trong anh em chăng. (Hê-bơ-rơ 12:15)
Hãy thận trọng để trong anh chị em đừng có ai hụt mất ân sủng của Đức Chúa Trời; đừng để rễ cay đắng mọc ra gây rối và do đó làm ô uế nhiều người. (BDM) Hãy coi chừng, kẻo có ai trật phần ân sủng của Ðức Chúa Trời, kẻo rễ đắng đâm ra và gây rối, rồi lan ra làm ô nhiễm nhiều người. (BD2011) Hãy đề cao cảnh giác để khỏi trật phần ơn phước của Đức Chúa Trời. Đừng để điều cay đắng đâm rễ trong anh chị em, gây trở ngại và làm hoen ố nhiều người. (KTHĐ)
Đây là câu KT gốc của bài giảng hôm nay và mấy tuần lễ tới về rễ cay đắng. Rễ cay đắng đầu tiên tôi muốn chia sẻ là về sự cay đắng vì bị người khác làm tổn thương, thiệt hại, mất mát (tiền của và danh dự) nhưng không thể bỏ qua, không thể tha thứ.
KT dùng hình ảnh của rễ khi nói về sự cay đắng rễ cay đắng. Chúng ta thấy hết cả cây, nhánh, trái nhưng không thấy hay không thể thấy hết rễ. Cây càng to lớn, rễ càng rộng và sâu. Sự cay đắng trong lòng cũng như rễ: không thấy được, không biết được nhưng với thời gian sẽ càng rộng hơn, sâu hơn. [Dây leo bám lấy cây cổ thụ + loại cỏ leo quấn quanh thân và các nhánh làm cây không lớn được rồi chết đi.]
Đời Xuân Thu (722-479 trước D.L.), hai nước Ngô và Việt đánh nhau. Sau trận đại bại tại Cối Kê, vua Việt là Câu Tiễn phải mình trần sang lạy vua Ngô là Phù Sai xin hàng. Ngô vương bắt vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin, có quan Tướng Quốc là Phạm Lãi theo hầu. Cả ba đều bị giam trong ngục đá. Hằng ngày vợ chồng Câu Tiễn và Phạm Lãi phải cắt cỏ, hốt phân ngựa, gánh nước rửa dọn chuồng ngựa, kiếm củi nấu cơm... Suốt thời gian ba năm, chúa tôi sống một cách vô cùng vất vả cực nhọc, những vẫn bền chí đợi thời. Một hôm vua Ngô đau, Câu Tiễn nghe theo lời của Phạm Lãi là chịu nếm phân của vua Ngô để được vua Ngô tin kẻ hàng giữ dạ trung thành. Nhờ đó mà cả ba được phóng thích về nước. Được trở về cố quốc, nhớ đến nỗi thất bại nhục nhã và bị giam cầm làm nô lệ, Câu Tiễn vô cùng căm uất, lòng canh cánh mưu toan báo thù. Nghe lời khuyên của tướng quốc Phạm Lãi nên Câu Tiển lúc nào cũng tự hành xác mình để nhớ về mối hận không thể nào quên được. Câu Tiển bỏ cả giường nệm, lấy gai lấy củi lót nằm. Quả mật luôn luôn treo ở chỗ ngồi, chỗ nằm, thỉnh thoảng lại nếm một ít như để nhắc lại nỗi tủi nhục, khổ đau. Đêm nào cũng sùi sụt khóc. Khóc chán lại thở dài. Hai chữ "Cối Kê" lúc nào cũng lẩm nhẩm ở miệng. Sau đó Câu Tiển hồi phục lại được đất nước từ nhà Ngô.
Câu Tiển nếm mật đắng để giữ lòng căm thù, cay đắng với kẻ thù. Từ cay đắng trong Hê-bơ-rơ 12:15 còn có nghĩa là mật đắng hay rễ cây đắng, hay rễ cây sinh ra trái đắng. KT cũng dùng từ này để nói về sự căm hờn, hận ghét chỉ chờ cơ hội để trả thù.
Chúng ta không mất nước như Câu Tiển; không phải nếm phân Câu Tiển. Nhưng tất cả chúng ta đều có những mất mát, tổn thương, hoặc do chính mình gây ra, hoặc do người khác gây ra. Mất tiền của, tài sản, mất tiếng tăm, danh dự, bị người ta xem thường, nói xấu, vu oan. Thậm chí chỉ một vài câu nói, câu trả lời không đúng cũng khiến tự ái, tức giận rồi sinh ra chua chát, cay đắng. Càng nghĩ về lỗi người gây cho mình, càng nghĩ về sự mất mát, càng tức giận, càng chua chát, càng cay đắng.
Có thể sự hờn giận bắt đầu từ những việc rất nhỏ, thậm chí như 2 vợ chồng trong một câu chuyện: Một câu chuyện (Love in time of cholera – Yêu trong kỳ bệnh dịch) kể về một cuộc hôn nhân tan vỡ bởi vì một cục xà-bông tắm. Người vợ có trách nhiệm giữ nhà cửa được ngăn nắp gồm cả việc mua giấy chùi tay, giấy đi cầu và xà-bông tắm. Một ngày nọ, người vợ quên thay cục xà bông tắm đã gần hết với một cục mới. Người chồng trách vợ sao không có xà-bông mới bằng cách phóng đại hóa lỗi này: “Gần cả tuần nay tôi tắm không có xà-bông” Vì lòng tự ái, người vợ không nhận đó là lỗi mình dù thật sự chính bà đã quên điều đó. Rồi trong suốt 7 tháng họ giận nhau, mỗi người ngủ riêng một phòng, và không ai nói chuyện với ai khi ăn chung. Tác giả viết “Dù cho đến lúc già yếu, hai vợ chồng vẫn hết sức cẩn thận không nói về chuyện này. Bởi vì như một vết thương chưa bao giờ thật sự lành, nó sẽ chảy máu trở lại như mới bị thương hôm qua”.
Chúng ta hỏi làm thế nào một cuộc hôn nhân tan vở bởi vì một cục xà-bông? Bởi vì không ai nhận lỗi của mình: “Dừng lại. Điều này không thể tiếp tục. Tôi xin lỗi. Xin tha thứ cho tôi”. Chúng ta cũng hỏi có thật một quan hệ bị rạn nứt, tan vỡ bởi vì một điều nhỏ nhặt như một cục xà-bông tắm? Có không? Có chứ.
Những điều vô lý này không chỉ xảy ra giữa vợ chồng, trong gia đình, ngoài xã hội, nhưng xảy ra rất thường trong hội thánh. Tín đồ này hờn giận tín đồ kia chỉ vì quên không chào: Thấy tôi mà họ làm ngơ, khinh khỉnh bỏ đi! Biết đâu họ đang suy nghĩ về việc gì đó nên dù đi ngang nhưng thật sự không thấy mình? Hay giận nhau vì một cái nhìn, một lời nói.
Rồi sự buồn phiền, hờn giận, trách móc đó âm ỉ như than cháy trong lòng để lâu ngày sinh ra cay đắng, than trở thành một ngọn lửa phừng ngày càng lớn hơn, nóng hơn, thiêu đốt lòng mình. Cây cổ thụ to lớn đến mấy cũng bắt đầu từ một hột giống nhỏ. Rễ cay đắng theo thời gian càng sâu, càng rộng, càng chằn chịt đến nỗi dù có đốn cây mà còn rễ thì cây rồi cũng sẽ mọc lại. Rễ cay đắng của sự thù hận, của sự không tha thứ cũng vậy.
Ma-thi-ơ 18:21-35 kể về câu hỏi của Phi-e-rơ và câu trả lời của ĐCJC về sự tha thứ. Phierơ hỏi Chúa Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng? Chúa trả lời thế nào? Ta không nói cùng ngươi rằng: đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy. Rồi Ngài kể cho Phierơ và các sứ đồ khác một câu chuyện ngụ ngôn về hai người đầy tớ. Một người nợ vua đến hàng ngàn ta-lâng (hàng triệu bạc) xin vua tha nợ. Vua động lòng tha hết nợ cho người. Nhưng sau khi được tha nợ khi ra ngoài thấy người nợ họ vài trăm đồng đơ-ni-ê (vài đồng) lại nắm bóp cổ mà đòi phải trả nợ. Rồi còn hăm he nếu không trả sẽ bỏ tù. Khi nghe vậy vua nổi giận và nói: Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đă tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi cầu xin ta; ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đă thương xót ngươi sao?
Một ta-lâng tương đương với 1 năm hay hơn 1 năm làm việc. Giả sử một người làm $10K/năm. 10K ta-lâng tương đương với 100 tỉ. Người nợ vua 10K ta-lâng không phải là người chỉ làm công, nhưng có lẽ là quan chức trong triều được vua giao cho một trách nhiệm quản lý rất lớn, rồi ông làm cho thiệt hại, mất mát. Như hôm nay một bộ trưởng nắm quyền một ngân sách hằng 100 tỉ mỗi năm lại làm mất mát.
KT viết khi người nợ này van lạy chủ thì chủ tha hết nợ: Chủ bèn động lòng thương xót, thả người về, và tha nợ cho. (v27) Nhưng rồi người được vua tha thứ làm gì? Người đầy tớ ấy đi ra thấy một người đầy tớ khác mắc nợ mình một trăm đồng đê-na-ri, liền bắt lấy, nắm cổ đòi: "Hãy trả nợ đây! 29 Người đầy tớ kia quỳ xuống năn nỉ: "Xin anh hoãn lại cho tôi, tôi sẽ trả hết. 30 Nhưng người đầy tớ ấy không chịu, bắt anh đầy tớ kia bỏ tù cho đến khi trả hết nợ.
1 đê-na-ri = 1 ngày làm việc. Nếu một người làm $10K/năm thì một ngày làm việc khoảng $30 nếu tính một tuần làm 6 ngày, 1 năm làm 56 tuần, không vacation, không nghĩ vì bệnh hoạn. $30 so với 100 tỉ thì như một giọt nước trong hồ lớn. Vậy đó mà buộc phải trả cho hết. Tàn nhẫn đến nỗi bắt người đó bỏ vào tù cho đến khi trả hết nợ. Được tha thứ rất nhiều, nhưng lại buộc người nợ ít hơn phải trả mình cho hết.
Ai là người nợ chủ 10K ta-lâng? Đây là hình ảnh của ĐCT tha thứ cho tội của tôi và qv. Tội chúng ta với Chúa quá lớn, chỉ đáng chịu hình phạt đời đời trong địa ngục. Vì lòng thương xót, Chúa thả chúng ta để có thể về thiên đàng, Chúa tha hết nợ để chúng ta nhận sự tha thứ, sự bình an, tình yêu thương, ân điển từ ĐCJC.
Ai là người thiếu 100 đê-na-ri? Người phạm lỗi cùng chúng ta. Người không tha thứ, người có lòng cay đắng để nỗi muốn giam người nợ mình là người được Chúa tha thứ nhưng không tha thứ cho anh em mình. Rồi ĐCJC kết luận: Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy. (18:35).
ĐCJC dạy các môn đồ rất nhiều về sự tha thứ. Chúa dạy về sự tha thứ trong bài cầu nguyện chung. Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi; 13 Xin chớ để chúng tôi bị cám dỗ, mà cứu chúng tôi khỏi điều ác! [Vì nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha đời đời. A-men.] 14 Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. 15 Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi (Ma-thi-ơ 6:12-15) Từ tội lỗi trong câu Xin tha tội lỗi chúng tôi trong bài cầu nguyền chung thực nghĩa là nợ. Xin tha các nợ của chúng tôi nhưng chúng tôi tha những người thiếu nợ chúng tôi.
NĂM CÂU CHUYỆN VỀ ĐAU KHỔ VÀ THA THỨ
Tôi muốn kể cho qv 5 câu chuyện về mất mát, đau khổ và tha thứ:
Chuyện 1: Vào Chúa nhật ngày 8-1-1956 năm giáo sĩ trẻ tuổi người Mỹ bị giết, đâm chết với giáo, bởi những người thuộc một bộ lạc tên Aucas, xứ Ecuador. Đây là một bộ lạc chưa bao giờ nghe về TL của ĐCJC. Lý do các giáo sĩ bị đâm chết là bởi vì một người họ tiếp xúc đầu tiên nói dối với những người trong bộ lạc về họ. Một trong 5 giáo sĩ đó tên Jim Elliot. Khi chết ông để lại vợ và một con gái. Hai năm sau đó bà Elizabeth, vợ của giáo sĩ Jim Elliot, và đứa con gái cùng với người chị của một trong giáo sĩ bị đâm chết tên Rachel Saint trở lại và sinh sống trong vòng bộ lạc này. Qua sự làm chứng của họ hầu hết người trong bộ lạc tin Chúa, cả người nói dối về 5 giáo sĩ khiến họ phải chết. Chỉ một điều duy nhất khiến người vợ và người chị của 2 người bị chính dân Aucas giết không những tha thứ nhưng còn sinh sống trong vòng dân này và làm chứng cho họ: Điều đó là tình yêu thương của ĐCJC.
Chuyện 2: Năm 1860 một người ngoại quốc đi thuyền vào xứ Đại Hàn. Tàu bị chìm nên ông phải nhảy xuống nước và đi vào bờ. Trên tay ông đầy KT. Khi dân bản xứ thấy người da trắng kỳ lạ này, họ đánh và đâm ông cho đến chết. Khi bị đánh, bị đâm ông dúi KT vào tay của những người giết ông. Ngày hôm nay, tại nơi ông chết, người dân dựng nên một ngôi nhà tưởng niệm lớn và đẹp tên Thomas Memorial Chapel để tưởng nhớ Robert J. Thomas, người giáo sĩ đầu tiên đến Đại Hàn. Lý do gì ông Thomas lại dúi KT vào tay những kẻ giết ông? Tình yêu của ĐCJC.
Chuyện 3: Tháng 1 năm 1995 tờ báo lớn nhất của thành phố New York có một bài viết về một phụ nữ tên Amy Federic và gia đình bà. Bà Amy có một cuộc đời đầy những mất mát, đau khổ. Bà lập gia đình năm 26 tuổi. Vài tuần sau đó chồng mới cưới mắc bệnh ung thư lá lách. 3 tháng sau đó chồng bà mất. Bà chỉ còn lại gia đình và rất gần gũi với gia đình. Một năm sau đó, trong chuyến xe điện trên đường đi làm về Long Island từ Manhattan, một người đàn ông thình lình bắn xả vào những người ngồi trong xe. Bà Amy là 1 trong 6 người bị bắn chết. Gia đình tặng những bộ phận trong người của bà Amy cho 3 người. Cả 3 được cứu. Gia đình của 3 người được cứu này trở nên bạn thân với gia đình bà Amy. Tờ NY Times viết: Thay vì trở nên cay đắng [như nhiều người gặp hoàn cảnh như bà Amy], gia đình bà tha thứ. Những người Cơ Đốc tái sinh (born-again Christians), họ nói dịu dàng về người đàn ông bắn chết bà (Ferguson): Chúng tôi câu nguyện rất nhiều cho linh hồn ông ấy. Thái độ của những người Cơ Đốc này làm kinh ngạc những người quanh họ. Một trong 3 người được tặng organ nói: tôi nghĩ tôi không thể tha thứ được! MS Keller khi kể câu chuyện này trong bài giảng có lời như sau: Gia đình này nhìn qua kẻ giết người để thấy sự chết, nhìn qua kẻ độc ác để thấy sự độc ác, và thay vì trút cơn giận của họ trên kẻ giết người, kẻ độc ác thì cơn giận của họ đổ trên sự chết và độc ác. Kết quả là thay vì để cơn giận trở nên cay đắng làm chủ đời sống và giam họ vào ngục tù của quá khứ, họ dùng cơn giận đó để làm những việc vô cùng cao cả.
Chuyện 4: Simon Wiesenthal là người sống sót trại tàn sát của Đức Quốc Xã với người DT trong thế chiến II. Ông viết một quyển sách tựa là The Sunflower: On the Possibilities and Limit of Forgiveness (Hoa Hướng Dương: Về Những Điều Có Thể và Giới Hạn của Sự Tha Thứ). Tựa sách dựa theo điều ông thấy trên mộ của những người lính ĐQX là hoa hướng dương. Trong sách ông kể một câu chuyện của chính ông như sau: Ông bị bắt làm tù nhân và chờ chết. Chính mắt ông nhìn thấy lính Nazi giết người bà trên cầu thang trong nhà bà. Ông cũng chứng kiến cảnh mẹ ông bị giải lên toa xe lửa đặt nghẹt người phụ nữ Do Thái chở đến các trại tập trung chờ ngày bị giết. Tổng cộng 89 bà con, thân quyến của ông Simon chết dưới tay của lính Đức. Khi bị bắt ông tìm cách để tự tử nhưng không thành công. Một ngày lúc độ giữa trưa khi ông đang quét dọn rác từ một bệnh viện nơi chứa xác các lính Đức, thình lình một y tá đến. “Có phải anh là người Do Thái?” Người y tá đó hỏi một cách do dự. Sau khi nghe trả lời, bà ra dấu cho ông đi theo. Cậu thanh niên Simon đi theo người y tá lên một cầu thang rồi đi đến cuối một hành lang. Ở đó là một căn phòng tối tăm, ẩm thấp. Trong căn phòng tối tăm đó chỉ độc nhất một người lính Đức bị thương như sắp chết. Cả mặt ông quấn bằng vải chỉ chừa ra miệng, mũi và mắt. Rồi người nữ y tá đóng cửa phòng để lại một mình cậu thanh niên DT với người lính Đức sắp chết. Người lính Đức này biết mình sắp chết nên trối với Simon về một tội ác dày vò lương tâm như một vết mực đen không tẩy được. Tội đó là hắn cùng một vào người lính Đức khác đốt một nhà kho dù biết trong đó có 300 người DT kể cả một số trẻ em. Khi những người DT tìm cách nhảy ra khỏi kho thì họ bắn sẻ từng người một. Người lính Đức sắp chết này xin ông Simon tha thứ cho hắn về tội ác tầy trời đó. Sau khi nghe hết câu chuyện ông không hề trả lời chỉ lẳng lặng bỏ đi.
Đây cũng chính là câu hỏi ông nêu ra trong sách: ông có nên tha thứ cho người lính Đức đó không. Trong bản in mới nhất sách có kèm theo 53 bài trả lời cho câu hỏi có nên tha thứ hay không. Tôi đếm trong số 53 người thì có 10 người trả lời là tha thứ, 34 không tha thứ, và 9 người còn lại hoặc trả lời không biết phải làm thế nào. Qv trả lời thế nào? Theo qv thì người tin Chúa nếu làm theo lời ĐCJC dạy thì có nên tha thứ hay không?
Chuyện 5: Kể trong Ma-thi-ơ 18:21-35
TẠI SAO PHẢI THA THỨ?
Chúng ta hỏi: tại sao tôi phải tha thứ cho anh A, chị B khi lỗi của họ quá nhiều? Tha thứ, bỏ qua rồi họ vẫn tiếp tục phạm tội. Hoặc chúng ta nói rằng: họ là những người đạo đức giả nên không cần gì tha thứ cả. Có ích lợi gì tha thứ cho một người không biết lỗi, cũng không biết nhận lỗi? Mỗi người trong chúng ta đều có thể tìm biết bao nhiêu lý do để tiếp tục lên án, buộc tội người này, người nọ, tiếp tục giữ sự hờn giận, cay đắng trong lòng mình.
Lời Chúa dạy rất rõ tại sao chúng ta phải tha thứ: bởi vì chính ĐCT đã tha thứ cho chúng ta. ĐCJC dạy các môn đồ trong bài cầu nguyện chung: Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi. Nói đơn giản hơn sự tha lỗi của ĐCT với tội chúng ta đòi hỏi chúng ta phải tha lỗi cho người làm lỗi cùng chúng ta. Cũng chú ý sau khi Chúa dạy bài cầu nguyện chung, Ngài chỉ giải thích một điều. Điều đó là về sự tha thứ: Vả, nếu các ngươi tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ tha thứ các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi (Mathiơ 6:14-15).
Hai câu KT này gồm 2 phần. Cả 2 phần đều có điều kiện và lựa chọn: nếu làm điều này thì sẽ được Chúa ban cho; nếu không làm điều này thì sẽ không nhận được điều Chúa ban cho. Tha thứ sẽ được nhận tha thứ; không tha thứ sẽ không được tha thứ. Sách Mác giải thích rõ hơn về lời dạy này Khi các ngươi đứng cầu nguyện, nếu có sự gì bất bình cùng ai, thì hãy tha thứ, để Cha các ngươi ở trên trời cũng tha lỗi cho các ngươi. Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi ở trên trời cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi. (Mác 11:25). Vậy KT cũng dạy rằng nếu không tha thứ thì ĐCT cũng sẽ không nghe và nhậm lời cầu nguyện của chúng ta.
Từ STK đến KH có biết bao nhiêu câu chuyện về sự tha thứ. Áp-ra-ham tha thứ cho cháu mình là Lót khi vì lòng tham và chọn vùng đất màu mở, phì nhiêu quên đi tình nghĩa. Ê-sau tha thứ cho đứa em gian dối, thủ đoạn đã chiếm quyền trưởng nam là Gia-cốp. Giô-sép tha thứ cho các anh mình, những người đã tìm cách giết ông rồi bán ông đi làm nô lệ. Mô-se xin ĐCT tha thứ cho dân sự ích kỷ, mau bội ơn khi họ đúc con bò vàng thờ phượng lúc Mô-se lên núi nhận 10 điều răn. Khi nghe ĐCT đòi diệt hết đám dân này, KT viết: Môse trở lên đến ĐGHV mà thưa rằng: Ôi! Dân sự này có phạm một tội trọng, làm cho mình các thần bằng vàng; nhưng bây giờ xin Chúa tha tội cho họ! Bằng không Ngài hãy xóa tên khỏi sách Ngài đã chép đi (XEDTK 32:31-32). Còn gương tha thứ nào nữa? Đa-vít tha thứ cho vua Sau-lơ ngay khi bị bắt đuổi, tìm giết cách vô cớ.
Tại sao chúng ta không thể tha thứ? Bởi vì còn rất nghèo nàn về tâm linh, vì không có sự dư dật nhận được từ sự tha thứ của Chúa. Tôi giải thích cho qv. Giả sử một người mới mua một chiếc xe mới, sang trọng như Mercedes hay Lexus tốn 70K. Một người bạn hỏi mượn. Qv nghĩ người đó có cho mượn không? Tùy. Nếu là tỉ phú thì 70K chẳng nghĩa lý gì? Hễ càng giàu thì chiếc xe trị giá 70K càng không đáng bao nhiêu.
Tại sao chúng ta phải tha thứ? 1) Bởi vì ĐCT đã tha thứ cho chúng ta, 2) Bởi vì KT dạy rất rõ rằng là người tin Chúa chúng ta phải tha thứ, 3) Bởi vì nếu không tha thứ chúng ta sẽ không được tha thứ hay được Chúa nghe khi cầu nguyện.
Ngay cả các bác sĩ và tâm lý gia ngày nay cũng xác nhận về lợi ích của sự tha thứ. Sự thù hằn, cay đắng, giận dữ trong lòng khi không tha thứ sẽ gây ra căn thẳng (stress), áp huyết cao, mất ngủ, ăn không ngon, kháng thể trong người yếu đi, nhịp tim đập cao hơn khi nghĩ về người mình giận ghét. Sự tha thứ không chỉ đem đến lợi ích cho sức khỏe mà còn đem đến lợi ích cho quan hệ với người chung quanh mình. Người tha thứ có cảm nghĩ tích cực hơn, cởi mở hơn với hầu hết mọi người, thường tham gia vào các công tác tự nguyện gồm cả việc của hội thánh và các hội từ thiện.
Alexander III was Tsar of Russia from 1881-1894. His rule was marked by repression, and in particular by persecution of Jews. His wife, Maria Fedorovna, provided a stark contrast, being known for her generosity to those in need. On one occasion her husband had signed an order consigning a prisoner to life in exile. It read simply “Pardon impossible, to be sent to Siberia.” Maria changed that prisoners life by moving the comma in her husband’s order. She altered it to “Pardon, impossible to be sent to Siberia.”
In Christ God has changed the comma that stood against us. From “Pardon impossible, to send to Siberia” comes the good news of salvation: “Pardon, impossible to send to Siberia.” Sources: biography.com and Today in the Word, July 14, 1993.
Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt [buộc tội, kết án] nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Jêsus Christ. (Rô-ma 8:1)
Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. 34 Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Jêsus Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa. Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta. 35 Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? (Rô-ma 8:33-35)
