Đức Tin Thử Thách
[Ôn lại vài điều quan trọng về bối cảnh thư: tác giả, hoàn cảnh] Thư Gia-cơ không giải thích những vấn đề thần học cao siêu, sâu nhiệm, nhưng viết về những vấn đề thực tế và quan trọng cho đời sống đạo của người tin Chúa, đặc biệt trong hoàn cảnh thử thách, khó khăn.
Chủ đề chính của thư (đã giải thích trong bài giảng trước): đức tin thật phải chứng minh qua hành động. Đoạn KT 1:2-4 cũng dạy về một khía cạnh vô cùng quan trọng về đức tin, liên quan đến những hoàn cảnh khó khăn, thử thách mà các tín đồ DT đang trải qua: đức tin thật (của người trong Chúa) phải được thử nghiệm, tôi luyện qua thử thách.
Đức tin của người tin Chúa không phải như một cây cột khi đóng xuống đất sẽ ở cùng một vị trí và theo thời gian cũng chỉ là một vật thể chết. Đức tin là rê của cây, theo thời gian sẽ xuống sâu hơn, tăng trưởng lớn hơn.
Tựu chung có 2 quan điểm chính về thử thách trong đời sống
Đối với những người vô thần, vô đạo, chỉ tin cuộc đời trên đất này là tất cả, không có cuộc sống đời đời bên kia cánh cửa của sự chết, thì thử thách trong đời sống (còn gọi là những điều không may, điều rủi) hoàn toàn không có ý nghĩa, mục đích gì cả. Người mạnh, người khôn thì sẽ vượt qua, kẻ yếu, người dại sẽ bị nuốt sống bởi những thử thách trong đời. Thử thách là một phương cách tự nhiên theo luật tiến hóa để đào thải kẻ yếu đuối và gạn lọc lại để người mạnh sẽ sống!
Một quan điểm rất phổ thông với các tôn giáo khác: luật nhân quả, gieo gì gặt nấy. Làm tội thì chắc sẽ gặp điều xấu. Đây cũng chính là quan điểm của 3 bạn Gióp: họ tin rằng bởi vì Gióp hay các con phạm tội nặng cùng ĐCT nơi những thảm cảnh mới xảy ra.
KT bác bỏ 2 quan điểm trên. 2 câu chuyện trong PA Lu-ca và Giăng dẫn chứng điều này:
có vài người ở đó thuật lại cho Đức Chúa Jêsus về việc Phi-lát giết những người Ga-li-lê, khiến máu của họ hòa lẫn với sinh tế họ đang dâng. 2Ngài đáp: “Các ngươi tưởng những người Ga-li-lê đó phạm tội nặng hơn tất cả người Ga-li-lê khác vì họ bị đau khổ như thế sao? 3Ta bảo các ngươi, không phải; nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn thì tất cả sẽ bị hư mất như vậy. 4Hay là mười tám người kia bị tháp Si-lô-ê ngã xuống đè chết, các ngươi tưởng họ tội lỗi hơn mọi người khác cư ngụ ở thành Giê-ru-sa-lem sao? 5Ta bảo các ngươi, không phải; nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn thì tất cả sẽ bị hư mất như vậy.” (Lu-ca 13:1-5); 1Đang khi đi đường, Đức Chúa Jêsus thấy một người mù từ lúc mới sinh. 2Các môn đồ hỏi Ngài: “Thưa Thầy, ai là người đã phạm tội, người nầy hay cha mẹ anh ta, khiến anh ta mới sinh ra đã bị mù?” 3Đức Chúa Jêsus đáp: “Không phải vì anh nầy, hay cha mẹ anh đã phạm tội; nhưng để công việc của Đức Chúa Trời được tỏ ra trong anh ta. (Giăng 9:1-3)
KT dạy đối với những người trong Chúa thử thách, khó khăn xảy ra trong đời sống đều ở trong sự tể trị của ĐCT và nhằm đem lại lợi ích cho người đức tin đã được thử thách. Thử thách mang một ý nghĩa, có mục đích và thậm chí có giá trị và đem lại lợi ích cho người thuộc về ĐCT.Gia-cơ dạy rõ điều này nên viết trong thư gởi các tín hữu DT tại Giê-ru-sa-lem, trong xứ Giu-đe và các thành phố khác về sự thử thách: Thưa anh em của tôi, hãy xem sự thử thách trăm chiều xảy đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn, 3vì biết rằng sự thử thách đức tin anh em sinh ra kiên nhẫn. 4Nhưng sự kiên nhẫn phải phát huy hết hiệu lực của nó, để chính anh em được trưởng thành, hoàn hảo, không thiếu sót điều gì. (1:2-4)
Trong bản tiếng Hy-lạp Gia-cơ dùng 2 từ khác nhau thử thách câu 2 trăm bề (peirasmos) trials và thử thách trong câu 3 (dokimion) testing. Tất cả bản dịch VN đều dịch cả 2 câu 2 và 3 là thử thách, thử nghiệm nhưng thực ra là 2 từ hoàn toàn khác nhau:
Từ thử thách câu 2 (peirasmos) có nghĩa là khó khăn, gian nan, thậm chí mất mát, hoạn nạn. Gồm 2 nghĩa: 1) nói đến những cám dỗ trong lòng người gây ra phạm tội như trong 1 Tim 6:9 Còn những ai ham giàu có thì rơi vào sự cám dỗ, mắc vào cạm bẫy, sa vào những tham muốn dại dột và nguy hại, là những điều nhận chìm con người trong sự hủy diệt và hư mất; 2) Những hoạn nạn từ ngoài, cụ thể như sự bắt bớ của chính quyền đối với các sứ đồ thời đó như trong 1 Pet 4:12: Thưa anh em yêu dấu, khi lửa thử thách đến để thử nghiệm anh em thì đừng ngạc nhiên như mình gặp một việc khác thường. Trong đoạn KT 1:2-4 ý nghĩa chính là thử thách từ bên ngoài xảy đến. Cho đến 1:12-15 Gia-cơ mới viết về những cám dỗ nội tâm gây ra tội lỗi.
Từ thử thách câu 3 (dokimion) là một từ chỉ được dùng trong 1 Pet 1:6-7: Hãy vui mừng về điều ấy, dù bây giờ anh em còn chịu đau buồn trong ít lâu bởi muôn vàn thử thách; 7để đức tin của anh em sau khi được thử nghiệm sẽ quý hơn vàng – BHĐ; hay tôi luyện (BD2011). Từ này nói về kết quả của sự thử thách, thử nghiệm, tôi luyện nhằm để xem đức tin có thật hay không. Từ này nói về quá trình tinh luyên qua lửa của vàng hay bạc.
Vậy câu 2-3 có ý như sau: anh em có thể vui mừng vì biết rằng những thử thách trăm bề xảy đến là phương tiện, cách thức ĐCT dùng như lửa dùng để tôi luyện, sạn lọc những cặn bả của đức tin để đức tin trở nên ròng (như vàng bạc nên ròng). Ý nghĩa chính không phải chỉ để thử nghiệm xem có đức tin hay không, nhưng cũng để đức tin đã có ngày càng mạnh mẽ hơn. Đức tin phải được tôi luyện, cũng như vàng, bạc quí báu lấy từ mỏ lên phải được gạn lọc để trở nên ròng.
Lời dạy của Gia-cơ cũng giống như lời dạy của PL trong thư Rô-ma: Không những thế, chúng ta cũng vui mừng trong gian khổ nữa, vì biết rằng gian khổ sinh ra kiên nhẫn, 4kiên nhẫn sinh ra nghị lực, nghị lực sinh ra hi vọng, 5và hi vọng không làm chúng ta hổ thẹn, vì tình thương của Đức Chúa Trời tuôn đổ vào lòng chúng ta bởi Đức Thánh Linh là Đấng đã được ban cho chúng ta. (Rô-ma 5:3-5)
Trong câu 2, lời Gia-cơ là một lời dạy bảo cần phải làm theo: hãy xem. Từ xem thuộc về thể bắt buộc, như một mạng lệnh cần phải làm theo, chứ không phải muốn nghe thì nghe, muốn làm hay không cũng được. Gia-cơ không viết: hãy xem sự thử thách trăm chiều[nếu] xảy đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn. Ông khẳng định rõ một điều là tất cả mọi người tin Chúa ở tại bất cứ nơi nào, trong bất cứ thời đại, thế hệ nào cũng đều sẽ trải qua thử thách, khó khăn. Không ngoại lệ.
Gia-cơ không đề nghị người nghe nên làm theo; ông ra lệnh để làm theo. Ông không viết: Thưa anh em của tôi, [nếu có thể được, khi nào đủ sức lực từ ĐTL, nếu hoàn cảnh cho phép], hãy xem sự thử thách trăm chiều xảy đến cho anh em như là điều vui mừng trọn vẹn.
Trong thư có khoảng 50 lần Gia-cơ đưa ra những lời dạy bảo cần phải làm theo (mạng lệnh) không điều kiện, không “nếu có thể” hay “khi hoàn cảnh cho phép”. Điều này giúp chúng ta hiểu được mục đích của thư: Thư Gia-cơ không phải là thư giải thích những lời dạy thần học sâu nhiệm (như Rô-ma hay Ê-phê-sô) nhưng để nhắc dạy tín đồ những điều thực tế, cụ thể nhưng quan trọng phải làm theo trong đời sống người theo Chúa.
Trọng tâm của cả thư Gia-cơ nhằm dạy: đức tin thật phải chứng minh qua hành động. Trong đoạn 1, Gia-cơ dạy đức tin thật phải được thử thách, tôi luyện qua thử thách để ngày càng mạnh mẽ, vững chắc hơn. Không người nào ĐCT dùng trong KT lại không chịu thử thách. Khi môi miệng một tín đồ tuyên xưng thế này nhưng lại hành động hoàn toàn trái ngược lời tuyên xưng thì lời tuyên xưng chỉ là đầu môi chót lưỡi, là giả dối, không thật. Khi đức tin chưa được thử thách, thì không thể biết rõ đức tin thật giả thế nào.
Nhiều người nói rằng: tôi cũng thường đi nhà thờ, cầu nguyện, dâng hiến, phục vụ. Tôi đã từng tin Chúa nhưng bây giờ thì không rồi. Khi hỏi tại sao? Họ trả lời rằng vì thử thách, khó khăn, khổ nạn. Rất nhiều người tin Chúa tin rằng nếu là con cái của ĐCT thì sẽ được nhiều ơn phước. Một số mục sư dạy rằng Chúa là nguồn phước vô tận, người Cha luôn luôn bảo vệ, ban ơn lành, thêm tài sản, thêm thành công, tăng sức khỏe. ĐCT và đức tin vào Ngài là sự bảo đảm chắc chắn của một cuộc đời hoàn toàn phước hạnh.
Khi thiếu thốn, kêu cầu danh Chúa thì sẽ được ban cho đầy đủ. Khi thất bại, cầu nguyện cùng Ngài, thì cục diện sẽ đổi mới chuyển sang thành công, thắng lợi. Khi đau bệnh, dùng đức tin để bày tỏ, thì Cha thiên thượng sẽ chửa lành. Không còn đau khổ, mất mát với ĐCT và đức tin tuyệt đối vào Ngài. Lý do Chúa không trả lời điều mong mỏi, là bởi vì chúng ta không hiểu cách để cầu xin, hay không biết cái chìa khóa thiêng liêng để mở cửa trời đầy ơn phước. Hoặc chúng ta chưa đủ đức tin. Hoặc chúng ta không hoàn toàn vâng phục Chúa.
Nhiều tôn giáo cũng dạy nếu cúng tế rộng rãi, ăn hiền ở lành, làm việc công đức thì chắc ông Trời sẽ đãi lại qua nhiều ơn phước, sẽ tránh được thử thách, khổ nạn. Một số tín đồ cũng tin điều này! Bánh ít trao đi, bánh qui trao lại! Nói cách khác, nếu làm đúng theo ý của thần, thì thần sẽ không để khó khăn xảy ra trong đời; nhưng nếu không làm theo ý của thần, khổ nạn sẽ xảy đến.
KT dạy dù yêu mến ĐCT thế nào, phục vụ Chúa đến mức nào, đức tin người tin Chúa chắc chắn sẽ chịu thử thách. Làm sao MS có thể cả quyết điều này? Bởi vì tất cả anh hùng, liệt nữ đức tin ghi lại trong KT đều chịu thử thách đức tin. Ngay cả ĐCJC!
VÍ DỤ THỨ NHẤT: ĐCJC
ĐCJC là người hoàn toàn vâng phục ĐCT. Cũng không thể nói Chúa không biết ý chỉ ĐCT. Thậm chí sau khi nhận lễ báp-tem, chính ĐTL trong hình chim bồ câu đậu trên Jesus, xác nhận Ngài là Ngôi Hai ĐCT và ĐC Cha nói lời này cùng Jesus:
Khi được báp-têm xong, vừa lúc Đức Chúa Jêsus lên khỏi nước, thì kìa, các tầng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài. 17Nầy, có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta hoàn toàn. (Ma-thi-ơ 3:16-17)
Có ai không muốn ĐCT gọi mình là Con yêu dấu của Ta? Nhưng có ai được ĐCT phán gọi là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng? Ai có thể làm đẹp lòng ĐCT hoàn toàn thánh khiết, tuyệt đối siêu phàm, huống chi đến mọi đàng. Có thể nói không ai toàn hảo dưới mắt ĐCT hơn ĐCJC.
Nhưng ngay sau khi được chính ĐCT tỏ lời yêu mến, đẹp lòng thì ĐTL đưa ĐCJC đến nơi đồng vắng, đặng chịu ma quỉ cám dỗ (4:1). Phép báp-tem bởi Giăng Báp-tít tại sông Giô-đanh là một hành động, sự kiện mà mọi người đều có thể thấy, nghe, biết đến. Sự cám dỗ trong đồng vắng là một sự kiện mà các sứ đồ biết được do chính ĐCJC kể lại. Trong đồng vắng, không ai thấy, nghe, biết về những cuộc đối thoại giữa ma quỉ và ĐCJC, về những điều Chúa trải qua. Dễ hành động đúng khi người ta chú ý. Khó ngàn lần khi một mình, không ai biết, nghe, thấy.
Chú ý trước khi ĐCJC bắt đầu hành đạo, giảng dạy về nước Trời, trước khi thực hiện một phép lạ nào thì việc đầu tiên là Ngài được đưa vào đồng vắng để chịu cám dỗ bởi ma quỉ. Thử nghĩ xem về người con rất yêu dấu, đẹp lòng ĐCT mọi đàng đối diện với ma quỉ (quỉ vương) một mình trong đồng vắng. Đây là cơ hội để ma quỉ đánh bại ĐCJC, tiêu diệt chương trình cứu rỗi của ĐCT cho loài người. Có thể nói cả chương trình cứu rỗi của ĐCT cho loài người từ sau khi A-đam và E-va phạm tội đến nay hoàn toàn tùy thuộc vào kết quả của sự cám dỗ, của cuộc chiến giữa ĐCJC và ma quỉ.
Không những vậy trước khi bị ma quỉ cám dỗ, Jesus nhịn ăn 40 ngày đêm và rất đói. Ngài trong tình trạng yếu đuối, thể xác đòi hỏi thức ăn. 40 ngày đêm một mình trong đồng vắng là một thời gian rất dài. Ngày nóng, đêm lạnh khiến cho thân xác mệt mỏi, rã rời, kiệt quệ ngay dù có thức ăn, nước uống. Huống chi 40 ngày đêm không thức ăn trong đồng vắng! Cả thể xác và tinh thần cũng đều kiệt quệ đến mức thấp nhất. Chính thời điểm kiệt quệ, yếu đuối nhất đó, ma quỉ cám dỗ Chúa.
Chúng ta có thể tự hỏi: ĐCT nào nở để con yêu dấu của Ngài trong cơn thử thách, trước cuộc chiến đấu hết sức cam go như vầy? Làm sao Jesus có thể thắng trước một kẻ thù đầy quyền lực và mạnh mẽ đến như vầy? Tại sao ĐCT lại để cho chương trình cứu rỗi của Ngài phải đối diện với một tình trạng lưỡng nan, nguy hiểm đến như vầy?
Vậy nếu qv đây hay bất cứ người nào muốn tin Chúa, chúng ta cần phải giải thích rõ cho họ: dù sau khi tin Chúa, dù sau khi theo Ngài, đức tin của anh chị, ông bà rồi cũng sẽ chịu thử thách. Nếu không chấp nhận được lời dạy này thì chắc chắn sẽ không thể theo Chúa, làm môn đệ Ngài. Thật đây là một lời dạy khó nghe và chấp nhận. Vì vậy ít ai muốn nói đến.
VÍ DỤ THỨ HAI: THI THIÊN 66
TT 66 giúp chúng ta hiểu rõ lời dạy của Gia-cơ về sự thử thách. TT 66 có lẽ được viết sau khi dân sự Chúa đã bị lưu đày sang xứ Ba-by-lôn trong 70 năm và nay được lệnh vua cho phép trở về để xây lại đền thờ thành Giê-ru-sa-lem. Tức sau sự thử thách vô cùng trầm trọng.
TT 66 bắt đầu với lời ngợi ca, cảm tạ: Hỡi cả trái đất, hãy cất tiếng reo mừng Đức Chúa Trời. 2Hãy ca ngợi danh vinh quang của Ngài, Hãy ca ngợi và tôn vinh Ngài. (66:1-2). Lý do gì ngợi ca, cảm tạ? Câu 10-12: Chúa đã thử thách chúng con, Luyện chúng con như luyện bạc. 11Chúa để chúng con sa vào bẫy lưới, Chất gánh nặng trên lưng chúng con. 12Chúa để người ta cưỡi trên đầu chúng con; Chúng con phải đi qua lửa, qua nước, Nhưng Chúa đem chúng con ra nơi an toàn [giàu có] Tác giả TT nói rõ thử thách là từ ĐCT Chúa để!
Tại sao ĐCT lại làm điều này? Để tôi luyện như luyện bạc. Nấu bạc với lửa thật cao độ; lửa càng nóng, các chất dơ, bẩn, không ròng sẽ bị loại thải, cuối cùng chỉ còn lạc bạc ròng.
LÀM THẾ NÀO KHI ĐỨC TIN THỬ THÁCH?
Đức tin tăng trưởng theo 2 cách: chiều sâu và chiều ngang.
Chiều sâu – cá nhân. Như cây Terene [hình]. Thời xưa, sa mạc Ténéré vùng đông bắc xứ Niger, Phi Châu, là một rừng cây. Thời tiết thay đổi, mưa trở nên hiếm hoi và số cây giảm dần. Rồi rừng cây trở nên một sa mạc hoang vu, hiu quạnh. Đến thế kỷ 20, chỉ còn một cây sống sót. Cây đứng cô độc giữa một biển cát. Hơn 200 miles chung quanh cây từ bốn phía chỉ toàn là cát. Trong thời gian dài người ta thường hỏi làm sao cây có thể sống sót trong một sa mạc không nước như vầy? Năm 1939 một nhóm lính đào một cái giếng cạnh bên cây. Khi đào sâu họ khám phá ra nguyên nhân cây có thể sống sót qua nhiều thế kỷ. Rễ của cây đâm sâu hơn 110 feet vào nguồn nước ngầm bên dưới đất.
Chiều ngang – nương tựa vào gia đình, hội thánh. Như các cây redwood ở California [hình]. Cây redwood là đại cổ thụ trong những khu rừng dọc bờ biển miền Bắc California. Cây là một trong những sinh vật to lớn nhất trên thế giới. Một cây redwood có thể lớn với đường kính từ 8 đến 20 feet và cao hơn 350 feet. Rễ của cây sâu bao nhiêu? Một điều rất ngạc nhiên là rễ của cây chỉ sâu từ 5-6 feet. Tuy nhiên, rễ của cây lan ra rộng hơn 100 feet, đan vào rễ của những cây khác chung quanh. Rất khó để gió thổi trốc rễ cây vì tuy cạn nhưng rễ đan chặt vào rễ của bao nhiêu cây bạn cạnh bên
Hai loại cây này dạy chúng ta một điều quan trọng về sự nương cậy vào Chúa để đức tin ngày càng tăng trưởng và đứng vững trong thử thách trầm trọng. Một mặt, chúng ta ngày càng phải có quan hệ sâu đậm hơn với Đấng Christ. Chúng ta phải tiếp tục tin tưởng và cậy nhờ Chúa. Rễ của đời sống tâm linh phải luôn tìm kiếm Nước Hằng Sống. Mặt khác, hơn bao giờ hết chúng ta cần phải thông công, kết nối với anh chị em trong Chúa để được tương trợ, động viên, và thêm sức. Rễ tâm linh của chúng ta cần nối chặt với rễ tâm linh của các anh chị em trong hội thánh Chúa.
Vững tin vào Chúa và tương trợ vào nhau. Hai điều này sẽ giúp con cái Chúa trong hội thánh có thể đức tin đứng vững và đứng cao ngày càng tăng trưởng và đứng vững trong thử thách trầm trọng.
Trên thế giới chúng ta đang sống, đời sống như tôi và qv đang có chỉ trong vòng 1% tất cả dân số thế giới 8.2 tỉ tức khoảng 82 triệu. Các thế hệ trước sống trong hoàn cảnh khó khăn, chịu nhiều thử thách, hoạn nạn vì chiến tranh, nghèo đói, bị chèn ép nên mọi người phải chấp nhận. Nhưng thế hệ hôm nay lớn lên trong đất nước quá dầy đủ, thịnh vượng, muốn gì được nấy thì không hề biết đến, nói chi đến chấp nhận sự thử thách trong đời. Đây cũng chính là lý do tín đồ ngày nay cần nghe, đọc lời dạy của Gia-cơ về đức tin chịu thử thách hơn bao giờ hết.
Làm thế nào khi đức tin thử thách? Hai điều: 1) thay đổi quan điểm; 2) kiên trì
Thứ nhất: Thay đổi quan điểm xem thử thách như là điều vui mừng trọn vẹn, xem là điều đáng để vui mừng. Thật sao? Gia-cơ dạy thay vì chỉ chú tâm, tập trung mọi suy nghĩ, cố gắng, sức lực vào khó khăn hiện tại, chúng ta cần tập trung vào kết quả cuối cùng: kiên nhẫn, trưởng thành, trang bị cho mọi công việc. Ví dụ: người làm việc thấy mệt mỏi, chán ngán nhưng vân tiếp tục khi nghĩ về chuyến đi cruise sắp tới. Học sinh vùi đầu trong thư viện để học bài thi nghĩ về khi tốt nghiệp, ra trường làm việc.
Ví dụ về ĐCJC: Thế thì, vì chúng ta được nhiều người chứng kiến vây lấy như đám mây rất lớn, chúng ta cũng nên quăng hết gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương ta, lấy lòng nhịn nhục theo đòi cuộc chạy đua đã bày ra cho ta, 2 nhìn xem Đức Chúa Jêsus, là cội rễ và cuối cùng của đức tin, tức là Đấng vì sự vui mừng đã đặt trước mặt mình, chịu lấy thập tự giá, khinh điều sỉ nhục, và hiện nay ngồi bên hữu ngai Đức Chúa Trời. 3 Vậy, anh em hãy nghĩ đến Đấng đã chịu sự đối nghịch của kẻ tội lỗi dường ấy, hầu cho khỏi bị mỏi mệt sờn lòng. (Hê-bơ-rơ 12:1-3)
Ví dụ về Phao-lô: cây dầm trong thân thể ông: Để giữ tôi khỏi kiêu ngạo về những mặc khải diệu kỳ nầy, một cái dằm đã đâm vào xác thịt tôi; một sứ giả của Sa-tan đã đánh tôi để tôi đừng kiêu ngạo. 8Đã ba lần tôi cầu nguyện xin Chúa cho nó lìa xa tôi. 9Nhưng Chúa phán: “Ân điển Ta đầy đủ cho con, vì sức mạnh của Ta trở nên trọn vẹn trong sự yếu đuối.” Vì vậy, tôi rất vui mừng tự hào về những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. (2 Cô-rinh-tô 12:7-9)
Thứ hai: kiên nhẫn hypomonē. Trong TU, từ này nói lên đặc điểm của một người không bị chệch hướng khỏi mục đích cố ý của mình và lòng trung thành của anh ta đối với đức tin và lòng đạo đức ngay trong những thử thách và đau khổ lớn nhất (In the NT the characteristic of a man who is not swerved from his deliberate purpose and his loyalty to faith and piety by even the greatest trials and sufferings)
Vậy từ có nghĩa là đứng vững, không để điều gì có thể lay động bạn, bởi vì bạn có một sự điềm tĩnh và bình yên bên trong mà không hoàn cảnh nào bên ngoài kia có thể phá vỡ, và vì vậy không gì có thể lay động bạn. Vậy từ này nói lên một trạng thái nội tâm, một quyết tâm với ý chí để tiếp tục chịu đựng.
Hai điều ấy Đức Chúa Trời không thể nói dối — mà chúng ta là những người chạy đến ẩn náu nơi Ngài, được sự an ủi lớn và nắm chắc niềm hi vọng đã đặt trước mặt mình. 19Chúng ta giữ niềm hi vọng nầy như cái neo của linh hồn, vững vàng, chắc chắn và thấu vào phía trong màn (Hê-bơ-rơ 6:18-19)
Hai điều này là gì? Lời hứa và lời thề của ĐCT với chính Ngài vì không ai lớn hơn ĐCT. KT dạy đây là 2 điều đem đến hy vọng, và hy vọng là cái neo của linh hồn, vững vàng, chắc chắn và thấu vào phía trong màn.
