Đến Với Nguồn Sáng Thế Gian
Đoạn phim ngắn chúng ta vừa xem là một phần sứ điệp từ phi thuyền Apollo 8 trong đêm Giáng Sinh cách đây 54 năm về trước (24/12/1968). Phi thuyền Apollo 8 trực tiếp truyền hình và truyền thanh sứ điệp này cho toàn thế giới đang khi bay quanh quỉ đạo mặt trăng. Từ vị trí mà trái đất hoàn toàn nằm trong bóng tối, vài phút sau đó họ thấy mặt trời dọi chiếu trên trái đất. Qua ánh sáng mặt trời, các phi hành gia thấy được trái đất tròn với biển xanh, các lục địa cùng mây trắng. Lúc đầu chỉ một phần trái đất. Dần cả trái đất như một trái banh tròn sáng rực từ khung kính nhỏ của chiếc phi thuyền Apollo 8. Phi hành gia William Anders đã chụp tấm hình này và đặt tên là Earth Rise (Trái Đất mọc), một trong những tấm hình nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20.
Sứ điệp GS cho toàn cầu của ba phi hành gia Apollo 8 là Frank Borman, James Lovell và William Anders là lời ĐCT trong KT: 10 câu KT đầu tiên về sự sáng tạo của ĐCT như chúng ta đã nghe. Và theo lời KT sự sáng tạo đầu tiên của ĐCT là sự sáng: Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng. (STK 1:3) Chúng ta không ngạc nhiên vì điều này: Bởi vì nếu không có sự sáng, cả vụ trụ gồm hàng tỉ tỉ hành tinh và trái địa cầu này sẽ bị bao trùm bởi bóng tối dầy đặc, sẽ hoàn toàn không có sự sống.
Khi nghĩ về ý nghĩa và giá trị quí báu và quan trọng của sự sáng, hầu hết mọi người đều đồng ý về bốn điểm sau đây:
Ánh sáng là nguồn của sự sống. Không ai có thể phủ nhận điều này. Không có sự sáng thì không có sự sống. Địa cầu sẽ là một hành tinh chết nếu thiếu đi ánh sáng của mặt trời. Loài người và tất cả các loài sinh vật, cây cỏ cũng sẽ chết nếu không có sự sáng.
Ánh sáng là nguồn an ninh, bảo vệ. Trong đêm tối, ánh sáng đem đến sự bảo vệ, an toàn. Ánh sáng giúp chúng ta thấy được, biết được nguy hiểm quanh mình. Ánh sáng của đóm lửa ngăn cản các loài thú dữ, thú độc đến gần trong đêm tối. Trong hang động tối tăm, nhờ ánh sáng mà chúng ta tránh được những loài rắn rít độc hại. Nếu không có ánh sáng thì dù khi rắn độc ở sát bên mình chúng ta vẫn không biết được; đến khi biết được thì đã quá muộn vì bị cắn!
Ánh sáng là nguồn hy vọng. Tôi và qv đều có những đêm dài không ngủ được. Thao thức vì những lo lắng, buồn phiền vì công việc, gia đình, vì những đau khổ, mất mát trong đời sống. Trong những đêm dài đó, chúng ta mong ánh sáng của một ngày mới chóng đến. Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng (TT 30:5).
Ánh sáng là nguồn, là biểu tượng của chân lý, lẽ thật. Con người không chỉ có thể xác, nhưng còn có tâm linh. Con người không chỉ cần ánh sáng từ mặt trời để sống, nhưng còn cần ánh sáng tâm linh. Tâm linh con người cần ánh sáng của chân lý, lẽ thật để nhận biết, phân biệt đúng sai, phải quấy. Xã hội, quốc gia cũng cần có ánh sáng của lẽ thật. Không lẽ thật, quan hệ giữa người và người chỉ là giả dối; con người trở nên độc ác, tàn nhẫn. Không có ánh sáng tâm linh, đạo đức do ĐCT ban cho, chúng ta sẽ sống trong bóng tối dầy đặc của tội lỗi. Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, Ánh sáng cho đường lối tôi. (TT 119:105)
Từ xưa đến nay, bao nhiêu lãnh tụ tôn giáo, triết gia, vĩ nhân, lãnh đạo quốc gia nhận rằng họ biết lẽ thật, chân lý. Chỉ có ĐCJC nhận rằng Ta là đường đi, là lẽ thật, là sự sống. ĐCJC tự nhận Ngài là Nguồn Sáng Thế Gian, là Ánh Sáng của Sự Sống.
Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống. (Giăng 8:12)
Đương khi ta còn ở thế gian, ta là sự sáng của thế gian. (Giăng 9:5)
Ta là sự sáng đã đến thế gian, để ai tin ta, chẳng ở nơi tối tăm nữa. (12:46)
Các môn đồ xác nhận về Ngài chính thật là NSTG: Trong Ngài có sự sống, sự sống là ánh sáng cho loài người. 5Ánh sáng soi trong bóng tối, nhưng bóng tối không tiếp nhận ánh sáng. (Giăng 1:4-5)
Thật đây là một lời tự nhận không tiền khoáng hậu, có một không hai trong suốt lịch sử nhân loại. Nhiều lãnh tụ tôn giáo, triết gia nhận họ biết chân lý, biết sự sáng nhưng không ai tự nhận mình là sự sáng thế gian cả.
XÁC THẬT LỜI TỰ NHẬN CỦA CHÚA
Tuy nhiên không phải ai cũng tin lời của ĐCJC khi nghe Ngài tự nhận của ĐCJC là chân lý, là NSTG, Rất nhiều người hoài nghi. Một số qv đây cũng có thể hoài nghi lời tự xưng của ĐCJC.
Có ba giả thuyết về lời tự nhận của ĐCJC: 1) Ngài là kẻ nói dối, kẻ giả mạo; 2) Ngài là kẻ điên khùng, không biết mình nói gì; 3) Ngài thật là NSTG.
Làm thế nào để chúng ta biết hoặc Chúa Giê-xu nói dối, hoặc Chúa là người điên khùng hay xác nhận lời của ĐCJC đáng tin, là thật? Cũng không khác gì khi qv kiểm chứng lời nói của một người. Chủ yếu qua ba cách.
Cách thứ nhất là lắng nghe, xét đoán cách cẩn thận lời của người đó xem có đáng tin và trung thật hay không. Chúng ta cũng xem xét tính hạnh, đời sống đạo đức của người đó xem thế nào: Họ có sống như họ nói hay không? Lời nói của họ có đi đôi với hành động hay không? Họ đối xử với những người chung quanh thế nào? ĐCJC tự nhận Ngài là Nguồn Sáng Thế Gian. Không mấy người trong lịch sử nhân loại (ngoại trừ những người điên dại không biết mình nói gì) tự nhận là Nguồn Sáng Thế Gian nên lời tự nhận này của ĐCJC càng đáng để xem xét, phân tích, kiểm chứng. Bởi vì hễ lời tuyên bố, lời tự nhận càng to lớn thì việc xét nghiệm phải càng kỹ lưỡng, cẩn thận hơn.
Cách thứ hai để kiểm chứng lời nói của một người là qua lời làm chứng của những người đáng tin cậy. Khi những người chúng ta tin tưởng, kính trọng, những người chúng ta biết có uy tín, nói điều gì đó hay xác nhận với chúng ta về một điều gì đó, chúng ta tin lời cho dù không tự mình kiểm chứng. Đây là cách thức phổ thông hơn hết trong mọi lãnh vực của đời sống. Con cái tin lời cha mẹ, ông bà. Học sinh tin lời dạy, kiến thức truyền đạt từ thầy cô, từ sách vở giáo khoa được viết bởi các giáo sư có kiến thức về ngành học. Bệnh nhân tin lời bác sĩ. Tín đồ tin lời mục sư. Bởi vì không ai đủ khả năng, thời gian để kiểm chứng lại mọi lời của mọi người. Điều này đặc biệt đúng khi viết về những sự kiện lịch sử, những điều đã xảy ra trong quá khứ. Khoa học không thể chứng minh lời tự xưng của ĐCJC là Nguồn Sáng Thế Gian. Chúng ta biết, tin hay không căn cứ vào những lời ghi lại trong 4 sách PA, qua các thư tín của các sứ đồ, qua các tài liệu lịch sử trong thời điểm đó.
Cách thứ ba là qua sự báo trước, tiên tri. Hơn 700 năm trước khi ĐCJC giáng sinh, một tiên tri tên Ê-sai đã viết về sự sáng lớn đến từ một con trẻ sinh bởi một nữ đồng trinh. Câu KT rất quen thuộc trong mùa Giáng Sinh: Dân đi trong nơi tối tăm đã thấy sự sáng lớn; và sự sáng đã chiếu trên những kẻ ở xứ thuộc về bóng của sự chết. (Ê-sai 9:1) 700 năm trước khi ĐCJC giáng sinh, một tiên tri khác tên Mi-chê báo trước rằng Ngài sẽ sinh tại làng Bết-lê-hem.
Đây là một điều hết sức đặc biệt về lời tự nhận của ĐCJC là NSTG. KT đã tiên tri hàng 700 năm trước khi ĐCJC giáng sinh về Ngài là ai, sinh tại đâu, và nhiều chi tiết khác nữa.
Vậy trước khi qv từ chối lời của ĐCJC, tôi tha thiết kêu gọi qv hãy dành chút thời gian để tìm hiểu. Suy xét về cuộc đời, phẩm hạnh của ĐCJC, về lời dạy của Ngài. Suy xét về lời làm chứng về Chúa trong KT và về những tiên tri mầu nhiệm hàng trăm nay trước khi Chúa giáng sinh.
ĐẾN VỚI NGUỒN SÁNG THẾ GIAN
KT ghi lại 2 câu chuyện về sự giáng sinh của ĐCJC. Cả hai đều vô cùng quen thuộc. Câu chuyện thứ nhất là về sự Chúa sinh ra trong chuồn chiên máng cỏ thấp hèn (Lu-ca). Trong đêm Chúa giáng sinh, thiên sứ hiện ra cùng những người chăn chiên đang thức đêm canh giữ bầy chiên nơi đồng và báo cho họ tin mừng. Sau khi nghe tin đó, những người chăn chiên tìm đến nơi con trẻ Giê-xu mới sinh để thờ lạy.
Câu chuyện thứ hai là về các bác sĩ từ phương đông xa xôi theo ánh sao tìm đến để dâng của lễ quí báu và để thờ lạy con trẻ Giê-xu (Ma-thi-ơ).
Trong hai câu chuyện đó, chúng ta nhận thấy có hai nhóm người: nhóm người đến tìm thờ lạy con trẻ mới sinh và nhóm người từ chối không đến. Những người chăn chiên và các bác sĩ phương đông là những người đến tìm con trẻ. Vua Hê-rốt và các lãnh đạo tôn giáo là những người không đến tìm.
Cả hai nhóm người này đều biết về sự Chúa giáng sinh. Những người chăn chiên biết qua lời báo của thiên sứ đang khi họ ngoài đồng canh giữ bầy chiên. Các bác sĩ từ phương đông biết khi nhìn thấy ngôi sao sáng lạ lùng trên bầu trời đêm: ngôi sao sáng đó báo tin vua dân Giu-đa mới sinh ra đời. Các lãnh đạo tôn giáo biết khi họ đọc lời tiên tri đã viết từ trong KTCU viết về Đấng Mê-si-a. Vua Hê-rốt biết vì các lãnh đạo tôn giáo và các bác sĩ đến từ phương đông báo cho biết.
Tất cả đều biết tin Giê-xu giáng sinh. Nhưng chỉ có những người chăn chiên và các bác sĩ từ phương đông tìm đến để thờ lạy.
Những người chăn chiên. Họ còn được gọi là bọn chăn chiên. Đây là những người thuộc tầng lớp thấp hèn nhất, nghèo khó, ít học thức nhất trong xã hội thời đó. Họ sống với bầy chiên ngoài đồng. Quần áo, mình mẩy họ dơ dái, hôi hám. Nghề của họ bị dân chúng thời đó khinh thường, xem rẽ. Họ phải thức đêm để bảo vệ, canh giữ bầy chiên khỏi thú dữ. Đời sống họ khổ cực, đầy nỗi khó khăn, như một người chăn chiên khác trong KT than vãn: ngày chịu nắng nồng, đêm giá buốt, ngủ nào có yên giấc (STK 31:40).
Các bác sĩ từ phương đông. Hoàn toàn tương phản với những người chăn chiên. Đây là những người thông thái, học giả, những người trí thức. Họ am hiểu thiên văn, địa lý nên mới có thể đi từ xứ xa lần theo ngôi sao sáng ban đêm để đến xứ Giu-đa mà tìm con trẻ mới sinh. Đây cũng là những người giàu có. Có thể nghĩ việc, lấy vacation, hay đây là những người đã về hưu, hưởng tiền già dư dả nên mới có thời gian, đủ tiền bạc mà đi tìm vua dân Giu-đa mới sinh. Họ chấp nhận tốn kém thời gian, tiền của, công sức để đến tìm con trẻ mới sinh. Những người chăn chiên ở gần; các bác sĩ đến từ nơi xa.
Hai câu chuyện GS về những người chăn chiên và các bác sĩ từ phương đồng dạy tôi và qv một bài học: Dù là người dân giả tầm thường hay trung lưu, cao cấp, dù là người giàu hay nghèo, học ít hay học nhiều, dù ở gần hay ở xa, mọi người đều có thể tìm đến con trẻ mới sinh, đến NSTG. Việc tìm đến với ĐCJC, đến với NSTG là quyết định của mỗi cá nhân bất chấp địa vị, giàu nghèo, học thức.
Hai câu chuyện GS này còn dạy chúng ta một điều quan trọng nữa: Chính ĐCT sẽ chỉ đường, sẽ giúp những ai tìm kiếm Ngài theo cách thích hợp nhất để có thể tìm gặp Ngài. Thiên sứ hiện ra cùng các mục đồng; ánh sao cho các bác sĩ từ phương đông. Nếu ĐCT không chỉ đường, thì ai có thể biết mà tìm? Làm thế nào để loài người hữu hạn có thể tìm biết ĐCT vô hạn? Nếu ĐCT, Đấng Sáng Tạo muôn loài vật, Đấng siêu việt hàng triệu tỉ lần hơn so với con người chủ ý ẩn mình, thì làm thế nào loài người có thể tìm biết Ngài?
Mọi người không phân biệt giống người, địa vị xã hội, giàu nghèo, học thức đều có thể tìm đến và gặp Ngài. Và ĐCT hứa với những ai có lòng tìm kiếm Ngài, Ngài sẽ chỉ đường cho họ. ĐCT sẽ chỉ đường cho qv tìm đến để gặp biết Ngài như Chúa đã chỉ đường cho tôi tìm gặp Ngài 40 về trước. Có thể ĐCT giúp qv biết Ngài qua lời làm chứng của người bạn, một cuốn phim về cuộc đời ĐCJC, hay qua lời chia sẻ của tôi đêm nay. ĐCT hứa chắc chắn về điều này: Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng. (Jer 29:11)
Đây là hai điều tôi muốn qv ghi nhớ. Qv có thể đến với NSTG dù hiện tại hay quá khứ có tội lỗi thế nào. Nếu qv thật tâm tìm, Chúa sẽ chỉ đường.
Còn nhóm người quyết định không đến với con trẻ Giê-xu: vua Hê-rốt và những người lãnh đạo tôn giáo, họ là ai? Đây là những người thuộc thành phần cao cấp, quyền quí, thế lực, giàu có, thành phần cai trị dân chúng. Họ ở gần nơi Chúa sinh ra, chỉ cách đó độ 5 dặm đường, một tiếng đi bộ. Họ biết sự giáng sinh đã được KT viết trước đó hàng trăm năm. Họ biết chính xác nơi Chúa sinh ra. Họ có đầy đủ phương tiên, tin tức, chi tiết về sự giáng sinh. Nhưng họ không đến. Thậm chí Hê-rốt còn tìm cách để giết hại con trẻ Giê-xu.
Một thực tế có thể quan sát trong đời. Càng giàu có, quyền chức, học thức, người ta càng nghĩ họ không cần gì đến ĐCT, không cần NSTG vì chính họ đang đi trong ánh sáng: ánh sáng của thành công, của thịnh vượng, của giàu có.
Vấn đề không phải là phương tiện, thời gian, học thức, bằng cấp nhưng là tấm lòng có muốn tìm đến hay không. 24 năm đầu tiên trong cuộc đời, tôi hoàn toàn không muốn biết gì về ông Trời, Thượng Đế hay Chúa Giê-xu. Nhưng rồi tôi được Chúa gọi, không phải qua sự xuất hiện của thiên sứ hay ngôi sao sáng, như qua lời làm chứng đơn sơ của một người đàn ông trong tuổi 70 vừa mất vợ.
Tôi xin được đọc một đoạn KT rất quen thuộc và giải thích một điều cuối trước khi kết thúc. Vả, cũng trong miền đó, có mấy kẻ chăn chiên trú ngoài đồng, thức đêm canh giữ bầy chiên. 9 Một thiên sứ của Chúa đến gần họ, và sự vinh hiển của Chúa chói lòa xung quanh, họ rất sợ hãi. 10 Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân; 11 ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. 12 Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ (Lu-ca 2:8-12)
Nhiều người hỏi đạo Tin Lành là gì? Câu trả lời ngay trong lời của thiên sứ trong đêm ĐCJC giáng sinh: ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân. Tin Lành, tin mừng là NSTG đã đến, ĐCJC đã giáng sinh, Ngôi Hai ĐCT hạ thế làm người. Tin mừng đó sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân, không phải chỉ cho những người chăn chiên, các bác sĩ từ phương đông, cho Ma-ri, Giô-sép, nhưng cho muôn dân, cho người VN và người HK, người da vàng cũng như da trắng, cho người nghèo khó lẫn giàu sang. Tin lành sẽ là sự vui mừng lớn cho muôn dân.
Nhưng chú ý lời tiếp của thiên sứ: ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. 12 Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. Dù tin lành đến cho muôn dân, nhưng con trẻ đã sanh chỉ dành cho các ngươi, tức những kẻ chăn chiên, những người quyết định đi tìm con trẻ mới sanh. Và thiên sứ cũng chỉ cho họ dấu để nhận biết con trẻ, nhận biết NSTG.
Tin lành cho muôn dân, nhưng con trẻ sinh ra trong máng cỏ sanh cho các ngươi, sanh cho những ai đến tìm kiếm Ngài. Tin lành cho muôn dân và tin cho cho các ngươi, những người đến tìm kiếm con trẻ giáng sinh. Qv có thể nghe tin lành, biết tin lành, thậm chí hiểu tin lành, nhưng con trẻ chỉ sanh cho qv khi qv tìm đến Ngài. KT gọi việc con trẻ sanh cho chúng ta là tái sanh, là khi một người ý thức rằng NSTG không phải chỉ đến cho thế gian, cho muôn người nhưng cho chính tôi, cho chính tôi. Tôi cần tìm đến Nguồn Sáng đó để được sự sống mới.
Tôi kêu gọi qv hãy bắt chước những người chăn chiên, học làm theo các bác sĩ đông phương tìm đến nơi con trẻ Giê-xu giáng sinh. Hãy nhớ Chúa đã sanh cho các ngươi, những ai tìm kiếm Ngài.
Khi ĐCJC gọi các môn đồ đầu tiên, một người hoài nghi và khinh dễ khi nghe Giê-xu lớn lên từ làng Na-xa-rét. Anh vấn hỏi cách mai mỉa: Há có vật gì tốt ra từ Na-xa-rét được sao? (Giăng 1:46). Người bạn anh trả lời rất đơn giản: Hãy đến xem. Nghe lời bạn, anh tìm đến gặp ĐCJC để xem. Cuộc đời của anh hoàn toàn thay đổi sau khi gặp Chúa.
Những ai tìm đến và đón nhận NSTG, cuộc đời của họ hoàn toàn thay đổi. Cuộc đời tôi là một bằng chứng. Cuộc đời của Phao-lô là một bằng chứng, từ một kẻ tìm bắt giết người tin Chúa ông trở nên người hy sinh cả cuộc đời để công bố Tin Lành, công bố về NSTG. Hằng chục người đang ngồi đây có thể làm chứng điều này với những người hoài nghi. Hằng tỉ người tin Chúa là bằng chứng cụ thể về sự hiện hữu và quyền năng của ĐCJC như Nguồn Sáng trong cuộc đời.
Tôi kêu gọi qv cũng hãy tìm đến để xem con trẻ Giê-xu hạ sinh có thật là NSTG, là ánh sáng của sự sống, là đường đi, là lẽ thật, là sự sống, là Đấng Cứu Tinh cho muôn người và cho qv hay không. Hãy tìm đến máng cỏ, chuồn chiên để xem chính con trẻ đó có thể giúp qv thật sự thay đổi cuộc đời hay không.
