Matt 4:17: Từ lúc đó, Đức Chúa Jêsus khởi giảng dạy rằng: Các ngươi hãy ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần.
Lu-ca 3:23: Khi Đức Chúa Jêsus khởi sự làm chức vụ mình thì Ngài có độ ba mươi tuổi.
Nếu những gì ĐCJC đã làm chỉ là khởi đầu thì công việc vẫn còn đang tiếp tục. CV chính là tiếp tục của công việc của ĐCJC, bởi quyền năng ĐTL qua các môn đồ
2. Đức Thánh Linh. cho đến ngày Ngài được cất lên trời, sau khi Ngài cậy Đức Thánh Linh mà răn dạy các sứ đồ Ngài đã chọn
v2 – dạy, v5 – báp-tem,
v8 – quyền năng dynamis, bài cầu nguyện chung nước, quyền, vinh hiển đều thuộc về Cha
Matthew 28:18-20 exousia – thẩm quyền.
Mục đích của sự ban cho này để làm gì? Để làm chứng về ĐCJC
Mọi người đều sững sờ, nói cùng nhau rằng: Ấy là đạo gì đó? Người lấy phép (exousia) và quyền (dynamis) đuổi tà ma, và chúng nó liền ra! (Lu-ca 4:36)
v16 – soi dẫn, mặc khải để Đa-vít viết ra lời, ý Chúa
CV 1:8 - Thế nào là làm chứng về ĐCJC? Điều kiện, tiêu chuẩn, khả năng gì? Không giải thích rõ trong lời phán, mạng lệnh này. ĐCJC ra lệnh và để HT, tín đồ tìm cách để thực hiện. Ngoại trừ một điều ban cho: Đức Thánh Linh.
Tại sao? Phong tục, tập quán, ngôn ngữ thay đổi; xã hội thay đổi. Nên đừng quá khe khắc, độc đoán về cách thức thực hiện.
3. Sự sống lại – 25 lần trong CV
1:3 – nhiều chứng cớ hiễn nhiên, chắc chắn, không sai tekmērion
1 Cor 15:1-2 – Giải thích về Tin Lành
1:21 – một điều kiện quan trọng được chọn làm sứ đồ: chính mắt thấy sự sống lại của ĐCJC. Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự Chúa sống lại.
Làm chứng về Chúa = làm chứng về sự Chúa sống lại (1:22)
25 lần dùng trong CV
Trong các bài giảng, lời làm chứng: 2:24, 32; 3:15; 5:30; 10:40; 13:30–37
4. Sự thăng thiên
5. Lời chia sẻ của Phi-e-rơ
Ngay cả sự phản bội của Giu-đa cũng đã được tiên tri trong CU. Sự soi dẫn của ĐTL cho Đa-vít khi viết lời KT
Trích KTCU. TT 69:25, TT 109:8
v12-14 – Sự chờ đợi trong vòng 10 ngày từ khi ĐCJC thăng thiên cho đến ngày nhận được quyền năng TL là thể hiện của sự vâng phục mạng lệnh ĐCJC trong v4.
Đây là thời gian 1) thông công, 2) cầu nguyện, 3) học KT (Phi-e-rơ trích dẫn KTCU), 4) chọn người lãnh đạo
Feb 10, 2022 - CV2
Bắt thăm
Urim & Thummim
Người ta bắt thăm để quyết định, nhưng kết quả do Chúa mà đến. (CN 16:33 – BPT)
“Where both candidates appeared equally worthy, as in the present case, and human judgment cannot determine which is to be preferred, it cannot be said that it was wrong to decide it by lots. Thus were avoided any of the evil consequences which might have happened by one party being preferred before the other. S. Augustin observes, that in a doubtful case, where neither part is bad, to decide by lots is not in itself wrong.”
"Khi cả hai ứng cử viên đều có vẻ xứng đáng như nhau, như trong trường hợp hiện tại, và phán đoán của con người không thể xác định cái nào được ưu tiên, không thể nói rằng việc quyết định nó bởi rất nhiều là sai. Do đó, đã tránh được bất kỳ hậu quả xấu xa nào có thể xảy ra bởi một bên được ưu tiên hơn bên kia. S. Augustin nhận xét, rằng trong một trường hợp nghi ngờ, nơi không có phần nào là xấu, để quyết định bởi rất nhiều là bản thân nó không sai.
Được dùng trong KTCU trong nhiều trường hợp khác nhau:
Chọn vật để làm sinh tế - Lev 16:7-8
Chia phần đất – Josh 18:8-10
Sau-lơ chọn làm vua – 1 Sam 10
Thủy thủ xem ai là tội phạm đem lại cơn bão – Giô-na
Phân bố trách nhiệm trong việc phục vụ đền thờ - 1 SK 24:31, 1 SK 25:8, 26:14
Chọn ai ở nơi nào – Nê-hê-mi 11:1
Câu hỏi vậy tại sao HT hôm nay không bắt thăm để chọn người lãnh đạo?
HT Chúa đã được ban cho ĐTL
“Indeed, there is never another recorded use of anyone in Christ’s church going before the Lord to cast lots. We have been given God’s Word, and His Holy Spirit resides in us, so we do not rely on merely rolling dice” (Bruce Waltke - Finding the Will of God, 48).
Lãnh đạo được bổ nhiệm (CV 14:23, Tít 1:5)
3 phép lạ, sự kiện mầu nhiệm thay đổi hoàn toàn niềm tin và cuộc đời các môn đồ:
1) Sự sống lại. Suốt 40 ngày ĐCJC đã hiện ra cho nhiều môn đồ tại nhiều nơi khác nhau Ngài tỏ mình đang sống bằng nhiều chứng cớ rõ ràng cho họ thấy (1:3 – BHĐ) nhiều bằng cớ vững chắc chứng tỏ Ngài đang sống (BDY). Chú ý đang sống -> ĐCT hằng sống (living God)
2) Sự thăng thiên. Trước ĐCJC giới hạn trong hình thể con người: mệt, đói, chỉ ở một nơi một lúc… nhưng sự thăng thiên khiến Ngài hoàn toàn không còn những giới hạn đó. ĐCJC giờ cùng một bản thể với ĐCC: toàn năng, toàn quyền (omnipotent), toàn tại (omnipresent), toàn tri (omniscient), siêu việt (transcendent) – vượt trên tất cả các loài tạo vật. Sau khi thăng thiên, ĐCJC có thể hiện diện ở mọi nơi trong cùng một lúc, có thể lắng nghe lời cầu nguyện của tất cả môn đồ từ bất cứ nơi nào trên toàn thế giới, dù trong phòng kín, trong tù ngục, hay dưới lòng biển sâu (như Giô-na)… Đây là ý nghĩa của Ma-thi-ơ 28:18 Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.
3) Sự ban cho ĐTL.
Tất cả môn đồ đều chờ cho đến khi nhận được sự ban cho này trước khi bắt đầu chia sẻ TL.
It seems to me to be simply ludicrous to suggest that such men, without learning, without any influence or authority, without any money behind them, with none of the means of propaganda that we are familiar with today, that such men by their own efforts and abilities could succeed in doing what we read of in the pages of this book. How did it come about? There is only one answer. The world was turned upside-down not because of what they did, but because of what God did to them, in them, and by means of them. And that is the essential message concerning the Christian church—her meaning, her function, her message, her purpose. (468)
True Christianity is always the activity of God. "Suddenly there came a sound from heaven as of a rushing mighty wind"—God.
Xem Boice – That Incendiary Fellowship, Acts 38-45
Gió thổi ào ào
Lưỡi lửa
Bài giảng của Phi-e-rơ
- Trích dẫn từ KTCU – Giô-e, TT
- Những sự kiện đang xảy ra đã được tiên tri hàng trăm năm trước đó.
Why did Peter preach? It was in order to give an explanation. The people in Jerusalem were suddenly confronted by a group of men and women, some of whom they may have already known, and who were obviously very simple people—fishermen and others—who were suddenly entirely changed. Something astounding had happened to them, and the people of Jerusalem "were all amazed and marveled, saying one to another, Behold, are not all these which speak Galileans? And how hear we every man in our own tongue?" ( Acts 2:7-8 ). Some said the disciples were full of new wine. The crowd was confronted by a phenomenon, an experience, a change in the lives of men and women. So the question was: What has done this? And in his sermon Peter gave the answer to that question.
Feb 17, 2022 - CV2
Exaltation – Tôn vinh, vinh hiển
Passover was not the only spring festival celebrated under the covenant, for the Israelites also commemorated the Feast of Firstfruits and the Feast of Weeks, or Pentecost. The Feast of Firstfruits actually took place during the week-long Passover celebration (Lev. 23:4–8), on the first day after the Sabbath that occurred in the midst of the week (vv. 9–11). Pentecost occurred fifty days after that Sabbath (vv. 15–16) and marked the culmination of what started at the Feast of Firstfruits….
Fifty days after the Feast of Firstfruits was the Feast of Weeks, or Pentecost (from the Greek term pentekostos, or fiftieth), which was the grand celebration at the end of the grain harvest.
https://www.ligonier.org/learn/devotionals/firstfruits-and-pentecost
There is a confusion on the Feast of First Fruits. Some sources identify Feast of First Fruits with Pentacost or Feast of the Weeks. This seems to be based on Ex 23:14-16. However, FFF was a part of the Passover celebration (see above note from Ligonier). The reason for identifying FFF with Pentacost or Feast of the Weeks because Pentacost which occurs 50 days from Passover is the culmination (cao điểm, đỉnh cao) of FFF.
Passover, the Feast of Unleavened Bread, and the Day of First Fruits are actually three distinct holidays this week. In these three festivals, justification, sanctification, and glorification are discussed. All three of these have already been fulfilled by Yeshua…
The resurrection of Christ, then, coming on the first Sunday after Passover, is the first offering of first fruits, followed by the celebration of first fruits on the day of Pentecost fifty days later, when the first fruits of the new creation are harvested. https://www.chicagojewishnews.com/what-is-the-jewish-feast-of-firstfruits/
Pentecost concluded the Feast of Weeks, which began with a day for the offering of first fruits on the first Sabbath after Passover (Lev. 23:10-11), and ended fifty days later, with what came to be known as the primary celebration of firstfruits (Num. 28:26, Lev. 23:17). Firstfruits were offered both as a thanksgiving for the faithfulness of God in the past, a celebration of God’s provision in the present, and as a promising sign of the future harvest which was to come.
Secondly, though the Feast of Weeks per se does not feature prominently in the New Testament, the concept of firstfruits is used a number of times. Paul refers to the resurrection of Christ itself as the first fruits of the coming general resurrection in 1 Corinthians 15:20-23. In Romans 8 he speaks of Christians having “the first fruits of the Spirit” (8:23) and thus joining with all creation in groaning for the fullness of the coming bodily redemption. James 1:18 identifies those who have experienced the new birth as “a kind of first fruits” of God’s creatures, and Revelation 14:4 identifies the 144,000 as those who “have been redeemed from humankind as first fruits for God and for the Lamb.”
https://jamespedlar.ca/2011/02/17/pentecost-as-a-firstfruits-festival/
Lễ ngũ tuần – 1 trong 3 lễ lớn và quan trọng nhất của dân DT – PT 16:16, Xuất 23:14-16. Giữa lễ vượt qua và lễ lều tạm. 50 ngày từ lễ Vượt Qua, cũng là kỷ niệm của ngày Mô-se nhận điều răn từ ĐCT tại núi Si-nai sau khi ra khỏi đất nô lệ Ai-cập.
Còn gọi là lễ mùa gặt (Xuất 23:16) vì kỷ niệm khi các ngươi đã hái hoa quả của công lao mình ngoài đồng rồi
Cũng gọi là lễ các tuần (Lev 23) vì cử hành 7 tuần sau lễ VQ, tức ngày thứ 50 sau lễ VQ khi mùa gặt bắt đầu. Đây là cao điểm của lễ trái đầu mùa, kỷ niệm chấm dứt của mùa gặt.
Sự sống lại của ĐCJC vào ngày đầu tuần sau lễ Vượt Qua tượng trưng cho trái đầu mùa, lễ trái đầu mùa. 50 ngày sau đó, vào ngày lễ Các Tuần tức cao điểm của ngày lễ trái đầu mùa ĐTL được ban cho.
Thình lình – thời điểm, phương cách, nội dung của sự việc xảy đến hoàn toàn tùy thuộc ĐCT. Việc ban cho ĐTL hoàn toàn không hề tùy thuộc vào các môn đồ.
Sự cứu rỗi (Ê-phê-sô 2:8-9), sự gìn giữ cho đến ngày cuối (Phil 1:6, 1 Giăng 2:19 – sự bảo toàn các thánh đồ), sự ban cho ĐTL (CV 2:2) – hoàn toàn duy ân điển bởi đức tin
Chú ý sự ví dụ về 2 hình ảnh: như tiếng gió thổi ào ào (2:2), như lưỡi bằng lửa hiện ra (2:3). Chính vì như nên chúng ta không thể tìm được 1 so sánh nào chắc chắn về sự ban cho ĐTL.
Về gió, lửa và tiếng nói (speech) –
Gió
John Stott cho rằng 3 điều này biểu tượng cho năng quyền (power), thánh khiết (purity) và toàn cầu (universality) p. 45/315 ebook on Acts
Boice thảo luận rất nhiều về biểu tượng gió và lửa. Xem Boice – That Incendiary Fellowship, Acts 38-45. Từ thần linh (spirit) cũng được dùng để viết về gió hay hơi thở. Vậy theo Boice, gió trong 2:2 cũng có nghĩa là thần linh.
Dẫn chứng từ KT: STK 1:1-2 – thần ĐCT = hơi thở của ĐCT; hơi thở của ĐCT khiến con người từ bụi đất trở nên loài sống và giống như hình ĐCT (STK 2:7); ĐCJC và Ni-cô-đem (Giăng 3:5-8) – ĐCJC dùng ví sự vận hành của ĐTL như gió.
Tóm lại CV 2 nói lên sự ban cho quyền năng của ĐTL để HT có sự sống và được sinh mới để thực hiện ĐML.
Boice cũng thảo luận về đầy dẫy TL. 14 lần trong KTTU: 4 trước Ngũ tuần nên như thời CU + 1 trong Ê-phê-sô + 9 trong CV. Luôn đi liền với việc làm chứng về ĐCJC đúng như sau khi được ĐTL các môn đồ làm chứng cho mọi dân tại Giê-ru-sa-lem
Lửa –
STK 15 – giao ước của ĐCT cùng Áp-ra-ham tức giao ước một chiều, không điều kiện
Sự hiện diện của ĐCT tại núi Si-nai khi Mô-se nhận 10 điều răn
vì Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt. (Hê-bơ-rơ 12:29)
Lửa đem lại ánh sáng và sức nóng cũng như TL đem lại ánh sáng cho thế gian tăm tối và sức nóng trong lòng những người tin nhận ĐCJC
Lửa cũng là biểu tượng của sự tinh luyện. Các kim loại quí báu chỉ có thể trở nên ròng qua lửa.
Tiếng nói
CV 2:4 - Glōssa – không phải tiếng lạ, nhưng là ngôn ngữ của các nước, các vùng, các dân khác nhau. Tất cả các bản dịch ngoại trừ BDY dịch là ngôn ngữ khác, BDY ngoại ngữ. Không bản dịch nào dùng tiếng lạ hay ngôn ngữ lạ
PL viết rõ trong 1 Cô-rinh-tô 14:2,4,13-14, 19, 27 về ngôn ngữ không rõ (unknown tongue) dịch là tiếng lạ, ngôn ngữ lạ
Bạt-thê, Mê-đi, Ê-la-mít – Iran ngày nay
Mê-sô-bô-ta-mi – Iraq, Kuwait và vùng phía đông của Syria
Giu-đia – Judea – gồm 3 vùng: Nam gọi là Giu-đê gồm Giê-ru-salem, bắc của Giu-đê là Samaria, và bắc của Samaria là vùng Ga-li-lê.
After conquering Israel, the Romans created the Roman province of Judea, which included Samaria, Judea and Idumea, which is a non-Jewish region just south of Judea. So, “Judea” referred to both an Israeli region and a Roman province that was about three times larger than Judea, the region. The “land of Judea” (John 3:22) refers to the region, so Jesus and His disciples had left Jerusalem but hadn't gone far.
https://www.bibleversestudy.com/johngospel/john3-judea.htm
Cáp-ba-đốc, Bông, A-si – xứ Turkey (Ba Tư) ngày nay
Phi-ri-gi, Bam-phi-ly – thuộc xứ Turkey
đất Li-by gần Sy-ren – phía bắc Phi Châu
Bằng chứng đầu tiên sau khi ĐTL được ban cho: làm chứng về ĐCJC cho đến tận cùng trái đất
Lu-ca nhấn mạnh ý các dân đều nghe và hiểu trong câu 6, 8, 11
Tại Ba-bên, ngôn ngữ trở nên một chướng ngại, khiến các dân tản lạc. Trong ngày Ngũ tuần khi ĐTL được ban cho, ngôn ngữ đem lại Tin Lành khiến các dân hiệp một.
Tại Ba-bên con người tự hào, kiêu ngạo vươn lên tận trời. ĐTL được ban cho sau khi ĐCJC từ trời hạ thế làm người và trở lại về trời.
March 24, 2022
CV 3-4
The Sadducees are often compared to other contemporaneous sects, including the Pharisees and the Essenes.
Josephus, writing at the end of the 1st century CE, associates the sect with the upper social and economic echelon of Judean society. As a whole, they fulfilled various political, social, and religious roles, including maintaining the Temple in Jerusalem. The group became extinct some time after the destruction of Herod's Temple in Jerusalem in 70 CE.
The Sadducees did not believe in resurrection, whereas the Pharisees did. In Acts, Paul chose this point of division to gain the protection of the Pharisees. (Acts 23:6-9)
The Sadducees also rejected the notion of spirits or angels, whereas the Pharisees acknowledged them. (Acts 23:8)
Luke 12:12 Khi người ta đem các ngươi đến nhà hội, trước mặt quan án và quan cai trị, thì chớ lo về nói cách nào để binh vực mình, hoặc nói lời gì; 12 bởi vì chính giờ đó Đức Thánh Linh sẽ dạy các ngươi những lời phải nói.
CV 8
May 12, 2022
Đoạn KT chuyển tiếp từ Jerusalem sang Sa-ma-ri. Trung tâm của việc truyền giảng TL là Sa-ma-ri và những nơi xa. CV 1:8
1-2: Ê-tiên bị giết. HT bị Sau-lơ bắt bớ. Tín đồ tản lạc khắp nơi.
3-25: Phi-líp giảng TL tại Sa-ma-ri. Câu chuyện về thuật sĩ Si-môn. S. là tín đồ hay không là tín đồ? Bài học về tín đồ non nớt. Thống kê từ bài giảng của J.M. Boice về phần trăm thành viên HT so với dân số quốc gia xưa và nay.
Khái niệm sai lầm về ĐTL.
Thái độ hoàn toàn thay đổi của Phi-e-rơ & Giăng với dân sự Sa-ma-ri khi tương phản với Lu-ca 9:49-55 gọi lửa từ trời xuống diệt họ!
26-40: Phi-líp & hoạn quan Ê-thi-ô-pi
ĐCT gọi Phi-líp từ thành Sa-ma-ri đến một nơi hẽo lánh, vắng vẻ. Phi-líp vâng phục sự kêu gọi. Thay vì so sánh với các sứ đồ tại Jer. Phi-líp phục vụ tại bất cứ nơi nào Chúa gọi và với bất cứ ai.
KTCU là bóng, KTTU là hình. Ê-sai 53 ứng nghiệm trong ĐCJC.
Chú ý các thành phần tin Chúa: Si-môn, thuật sĩ; hoạn quan Ê-thi-ô-pi vô danh
Câu hỏi về cái chết của Ê-tiên. Tại sao? Nghịch lý: Ê-tiên có lẽ là người tài giỏi, đầy ơn nhất trong số 7 chấp sự + thực hiện phép lạ + giảng giỏi + hữu dụng cho công việc Chúa, cho HT đầu tiên tại Jer. Vậy tại sao ĐCT lại lấy Ê-tiên đi khi ông còn quá trẻ, đang đạt nhiều thành quả cho công việc Chúa?
Ê-sai 55:8 Đức Giê-hô-va phán: Ý tưởng Ta không phải là ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải là đường lối Ta.
Tại sao ĐCT lại để cho sự bắt bớ lớn xảy ra cho HT đầu tiên?
Chú ý từ tất cả tín hữu đều bị tan lạc. Và khi bị tan lạc, họ làm gì? đi từ nơi nầy đến nơi khác truyền giảng Tin Lành. (c4). Đây mới là thái độ của người tín đồ. Thay vì cay đắng, buồn giận, trách móc ĐCT, thay vì thương thân trách phận vì bị bắt bớ, họ rao giảng TL tại mọi nơi họ đến.
Thái độ thật của tín đồ khi bị bắt bớ: cay đắng, oán hận kẻ bắt bớ mình? Trả thù, ăn miếng trả miếng? Thay vào đó họ vẫn tiếp tục tin cậy Chúa và tiếp tục thực hiện mạng lệnh Chúa giao.
Xem CV 11:19-20: 19Bấy giờ, những người bị tản lạc do cơn bắt bớ xảy đến sau vụ Ê-tiên đi đến Phê-ni-xi, đảo Síp và An-ti-ốt, nhưng họ chỉ giảng đạo cho người Do Thái mà thôi. 20Tuy nhiên, một vài người trong số họ quê ở đảo Síp và Sy-ren đến An-ti-ốt cũng giảng Tin Lành cho cả người Hi Lạp nữa, rao truyền Chúa là Đức Chúa Jêsus cho họ.
Môt bài học lớn khác từ cái chết của Ê-tiên. ĐCT dấy lên một người hầu việc khác đầy khả năng, ân tứ, trung tín để tiếp tục công việc. Tất cả tín đồ đều có thể thay đổi bởi ĐCT – All members are dispensable to God. Nên đừng quá tự phụ rằng không ai có thể thay thế tôi!
CV 9
July 14, 2022
v5 - Quan điểm đúng về HT. HT không phải là một tổ chức do con người tạo nên, nhưng do chính ĐCJC tạo nên. Chính Chúa đề cập đến HT đầu tiên trong Matt 16:18, 18:17 (giải quyết bất hòa); CV 2:41, 47 ĐCT thêm tín đồ vào HT… 112 lần trong KTTU
Khi Sau-lơ bắt bớ tín đồ trong HT tức là bắt bớ chính ĐCJC. Khi tín đồ hay MS có vấn đề bất đồng với HT thì không có nghĩa là HT sẽ bị bỏ đi, không cần thiết hay quan trọng (the church is not dispensable!)
v6 - vào trong thành, người ta sẽ nói cho ngươi mọi điều phải làm. ĐCT hướng dẫn từng bước một. Có thể bước này không sáng tỏ bước tới: người ta là ai? Mọi điều phải làm là điều gì? Làm ở đâu, cho ai? Khi nào? Với ai? Nhưng con đường của người công chính như ánh sáng bình minh; Chiếu sáng rạng rỡ cho đến giữa trưa. (CN 4:18)
v7 – có tương phản với CV 22? Nghe hay không nghe? Nghe tiếng nhưng không hiểu lời nói.
Nghe tiếng động, tiếng nói nhưng không hiểu ý nghĩa, nội dung của tiếng nói đó. Xem Encyclopedia of Bible Difficulties, Gleason L. Archer, p. 382.
v8-9 - mắt dẫu mở, nhưng không thấy chi cả; người ta bèn cầm tay dắt người đến thành Đa-mách. Trong đời mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên là chuyện bình thường. PL cửi ngựa oai nghi, mạnh mẽ đem theo lệnh bắt tín đồ tại thành Đa-mách. Nhưng chính ĐCJC đã phá bỏ dự tính đó để hạ thấp PL. Một bài học là chớ tự cao về thành quả hôm nay vì không biết ngày mai sẽ thế nào!
v10 – ĐCT dùng một tín đồ bình thường để đến cùng PL, trấn an và làm lễ báp-tem cho ông. Chỉ một PL trong đời tín đồ cũng đáng cho mọi khó khăn, thất bại trong con đường hầu việc.
v16 – có phục vụ nào lại không tốn kém, không phải trả một giá đắt cho sự phục vụ? Khi nhận chức vụ, nhận tránh nhiệm phục vụ, hầu việc Chúa chúng ta cần ý thức rõ giá phải trả và giá chấp nhận trả. Lu-ca 14:25-33. Giá đắt PL trả cho sự phục vụ 2 Cô-rinh-tô 12:8-10 (gai trong thân); 11:22-33
Đây thật là một điều đáng khâm phục trong cuộc đời PL. Ông cân nhắc giữa những gì thấy được và không thấy được; giữa tạm bợ và trường cữu (2 Cor 4:16-18)
PL cũng hiểu rõ giá trị của hoạn nạn, thử thách trong đời sống – Rom 5:3-4
Tại sao PL? PL là sản phẩm của hai phong tục, hai văn hóa, hai ngôn ngữ chính trong thời đó: Hy Lạp & Do Thái. Từ trước khi tin Chúa, PL đã là một người nhiệt tâm với công việc ông tin tưởng, phải làm, một người dấn thân, hoàn toàn tập trung vào điều ông tin là quan trọng và cần thiết Phi-líp. ĐCT biết người Chúa gọi có thể hoàn tất công việc Chúa giao
v21-22 – Khi mới đọc qua, chúng ta thường nhầm nghĩ PL lập tức trở nên thông thạo về TL, về sứ điệp TL, về mọi giáo điều
Theo Chuck Smith có khoảng thời gian 2-3: Now between verse 21 and verse 22, there is a gap of time that isn't indicated in our text. But at this point according to the Galatian epistle, Paul left Damascus, not conferring with flesh, but to really just wait upon God and to really get his full instructions. He went down to the wilderness area of the Sinai, and there for two to three years he was just waiting upon the Lord, being instructed by the Lord concerning the way of truth in Jesus Christ.
Now Paul stayed at Tarsus for up to ten years. Just how long, we are not certain, but most scholars believe that his going back to Tarsus, he remained in obscurity for ten years more.
https://www.blueletterbible.org/Comm/smith_chuck/c2000_Act/Act_009.cfm?a=1027021
Tôi cũng không lên thành Giê-ru-sa-lem, đến cùng những người đã làm sứ đồ trước tôi, song tôi đi qua xứ A-ra-bi; sau rồi trở về thành Đa-mách. 18 Kế đó, mãn ba năm, tôi lên thành Giê-ru-sa-lem, đặng làm quen với Sê-pha, và tôi ở với người mười lăm ngày; 19 nhưng tôi không thấy một sứ đồ nào khác, trừ ra Gia-cơ là anh em của Chúa. (Ga-la-ti 1:17-19)
See also: http://www.jesuswalk.com/paul/02_arabia.htm - tài liệu này cũng ước tính khoảng thời gian PL ở trong xứ Cilicia (Gal 1:21) từ 35-46 AD tức 10-11 năm.
The 10 years time Paul stayed unknown at Tarsus was also discussed by Boice in his commentary on Acts, Paul the Unknown. Boice argued that for a good 10 years Paul was unknown even after the first trip to Jerusalem (after 3 years in Arabia).
https://www.blueletterbible.org/study/paul/timeline.cfm - About 9-10 years in Tarsus (37-47)
https://www.ccel.org/contrib/exec_outlines/paul/paul_01.htm
http://www.biblecharts.org/paulahebrewofthehebrews.html
http://www.ristosantala.com/rsla/Paul/paul01.html
Muốn hầu việc Chúa phải cần chuẩn bị, cần thời gian, cần được thử thách, rèn luyện
Để có một PL HT cần những A-na-nia và Ba-na-ba, nhất là Ba-na-ba.
July 21, 2022
Vai trò của đồng vắng trong đời sống tâm linh, trong quan hệ với Chúa.
DSK 1:1 – Và ĐCT phán cùng Mô-se trong đồng vắng Si-nai
Mô-se – 40 năm trong đồng vắng. Câu hỏi mẹo: Mô-se sống bao nhiêu năm trong đồng vắng? Câu trả lời: 40 + 40 = 80. 2/3 cuộc đời Mô-se sống trong đồng vắng!
Dân sự Chúa – 40 năm trong đồng vắng
ĐCJC – 40 ngày & đêm chịu cám dô trong đồng vắng – Ma-thi-ơ 4, Mác 1, Lu-ca 4
Bài giảng Cảm tạ Chúa vì đồng vắng – 23/08/2020
ĐCT tìm thấy (found) dân sự Ngài trong đồng vắng – PT 32:10. Tìm thấy đây có nghĩa gì? Tại sao trong đồng vắng?
Mục đích đồng vắng? PT 8:2-3 để hạ ngươi xuống và thử ngươi, đặng biết điều có ở trong lòng ngươi, hoặc ngươi có gìn giữ những điều răn của Ngài hay chăng.
Diễn tiến theo thời gian:
PL được thư cho phép của thầy tế lễ cả bắt tín đồ tại thành Đa-mách
Trên đường đến thành, gặp ĐCJC. Mù lòa. Chờ Ananias tại nhà Giu-đa
Ananias đến cầu nguyện cho được sáng mắt. Làm lễ báp-tem cho Phao-lô
Ở lại thành nhiều ngày.
Dân thành âm mưu giết Phao-lô. Môn đồ cứu ông 9:23-25, 2 Cô-rinh-tô 11:32-33
Giữa 9:25 và 9:26 là một khoảng thời gian 3 năm Ga-la-ti 1:15-17
Sau 3 năm, PL đến Giê-ru-sa-lem. Ba-na-ba giới thiệu với các sứ đồ. Dù sau 3 năm tín đồ tại thành Jer vẫn còn nghi ngờ PL!
Các môn đồ đưa PL trốn khỏi Jer, đến Xê-xa-rê rồi về Tát-sơ
Ở tại vùng Sy-ri và xứ Si-li-si: Sau lại, tôi đi qua các miền thuộc xứ Sy-ri và xứ Si-li-si, 22 bấy giờ tôi còn là kẻ lạ mặt trong các Hội thánh tại xứ Giu-đê, là các hội ở trong Đấng Christ (Ga-la-ti 1:21-22). PL vô danh (Paul the Unknown – Boice, chapter 18 Saul’s First Preaching, loc 3700)
Đây là khoảng thời gian gần 10 năm trời!
The narrative in Acts passes over an important period in Saul's development, his time in Arabia, which would have occurred between verses 25 and 26 of Acts 9. We also need to work in the fact that Paul is in Damascus twice -- immediately after his conversion and then three years later after a time in Arabia. So we're not sure which visit to Arabia occasioned his being lowered over the wall. 2. Paul in Arabia, Tarsus, and Antioch (33-46 AD) -- Apostle Paul: Passionate Discipleship (jesuswalk.com)
Chú ý những động từ Lu-ca dùng về PL trong việc chia sẻ TL.
At once he began to preach (9:20) proving that Jesus is the Messiah. (9:22)
Sau 3 năm tại Jer: So Saul stayed with them and moved about freely in Jerusalem, speaking boldly in the name of the Lord. 29He talked and debated with the Hellenistic Jews. Đây cũng là những người buộc tội, vu oan và ném đá Ê-tiên đến chết: những người “bạn cũ” của PL! (xem CV 22:17-18)
CV 22:17-18 cho biết thêm một chi tiết quan trọng: Đến lúc trở về thành Giê-ru-sa-lem, tôi đương cầu nguyện trong đền thờ, thì bị ngất trí; 18 thấy Đức Chúa Jêsus phán cùng tôi rằng: Hãy vội vàng, lập tức ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem; vì họ sẽ chẳng nhận lời ngươi làm chứng về ta đâu. Ngất trí = xuất thần = thấy một dị tượng (BPT) = ekstasis. Từ dùng khi Phi-e-rơ nhận khải tượng từ ĐCT trong CV 10:10, 11:5. ĐCT bảo PL đừng tiếp tục giảng TL cho những người Giu-đa này tại thành Jer.
Cũng trong thời gian khoảng 10 năm này, PL nhận khải tượng về tầng trời thứ ba 2 Cô-rinh-tô 12:2-4. 2 Cô-rinh-tô viết từ Ê-phê-sô khoảng năm 55 (53 theo John McRay). Trừ lại 14 năm tức khoảng 39-41, tức trong khoảng thời gian tại xứ Sy-ri và xứ Si-li-si.
PL nhận khải thị trực tiếp từ ĐCJC – Ga-la-ti 1:11-12
Câu chuyện về sự cứu rỗi của PL trong đoạn 9 bắt đầu với câu chuyện PL rời Jerusalem với lệnh bắt tín đồ từ thầy tế lễ cả, và kết thúc với câu chuyện PL rời Jerusalem như một người đào tẩu (chạy trốn để giữ tính mạng) (John Stott – Boice)
Vai trò quan trọng và cần thiết của A-na-nia và Ba-na-ba
