Cô-rinh-tô – Hội Thánh Nhiều Ân Tứ và Nan Đề: Nguyên Nhân Thư 1 Cô-rinh-tô và Nan Đề Chia Rẽ
Hội thánh tại thành phố Cô-rinh-tô được PL thiết lập trong chuyến truyền giáo thứ hai từ 49-50. PL ở tại thành phố đó 18 tháng để giảng TL. Thư 1C được viết vào khoảng năm 55 bởi sứ đồ PL trong chuyến truyền giáo thứ ba từ thành phố Ê-phê-sô. Lý do, nguyên nhân gì PL viết thư 1 Cô-rinh-tô? Hai lý do chính: Thứ nhất khi nghe tin từ một số tín đồ về những nan đề trầm trọng trong HTC, một hội thánh chưa tròn 3 tuổi Vì, hỡi anh em, bởi người nhà Cơ-lô-ê, tôi có được tin rằng trong anh em có sự tranh cạnh. (1 Cô-rinh-tô 1:11) Nhưng chia rẽ, tranh cạnh, bất hòa không phải là nan đề duy nhất PL nghe từ người nhà Cơ-lô-e.
Lý do thứ hai của 1C là để trả lời các câu hỏi của HTC trong thư đã viết gởi cho sứ đồ PL. Thư này được 3 tín đồ (Sê-pha-na, Phốt-tu-na và A-chai-cơ, 1C 16:17) đem đến cho PL khi ông đang ở thành Ê-phê-sô trong cuộc truyền giáo thứ ba.
Trong bài giảng trước tôi có giải thích rằng thư 1C gồm hai phân đoạn chính: Phần đầu từ đoạn 1 đến 6, PL viết về những vấn đề đang xảy ra trong HTC; Phần thứ hai từ đoạn 7 đến cuối thư đoạn 16 nhằm trả lời các câu hỏi của HT đã viết trong thư gởi. 1C 7:1 Luận đến các điều hỏi trong thơ anh em (bản dịch cũ không chuẩn như BDM vì không phải PL nghĩ tốt hơn là nam không nên đụng nữ nhưng đó là câu hỏi của HTC); 8:1 Luận đến của cùng các thần tượng.
Vậy mục đích của thư 1C là nhằm giải thích và giải quyết rất nhiều nan đề và câu hỏi trong HTC ngày xưa. Những nan đề, câu hỏi này cũng là của tất cả HT qua suốt các thời đại, đặc biệt liên hệ trực tiếp và cụ thể đến HT thế kỷ 21 trên toàn thế giới. Bài giảng rồi tôi có nêu ra ít nhất 15 vấn đề PL nêu ra trong lá thư này.
Trong bài giảng này tôi muốn cùng qv đọc 1C 1:1-13. Đoạn KT này gồm 2 điểm chính: 1) Lời chào thăm và cảm tạ của PL cùng hội thánh; 2) Nan đề về sự chia rẽ trong hội thánh.
LỜI CHÀO THĂM VÀ CẢM TẠ
Sứ đồ PL viết 13 thư trong số 26 thư/sách KTTU. Trong số 13 thư đó chỉ có 4 thư viết gởi cho cá nhân, như Ti-mô-thê, Tít và Phi-lê-môn. 9 thư còn lại cho các hội thánh. Hầu hết các thư gởi cho các hội thánh gồm cả 1C đều có một thể thức giống nhau trong phần đầu và phần cuối của thư. Phần đầu thư gồm có lời xác nhận người viết, đối tượng của thư (người nhận là ai), lời chào thăm và cảm tạ Chúa. Phần cuối gồm có lời chào thăm và chúc phước.
Thư 1C bắt đầu với lời: Phao-lô, theo ý Đức Chúa Trời, được gọi làm sứ đồ của Đức Chúa Jêsus Christ, cùng Sốt-then, anh em chúng tôi, 2 gởi cho Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta: 3 nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, Cha chúng ta, và bởi Đức Chúa Jêsus Christ!
PL xác nhận cùng HTC rằng chức vụ sứ đồ là do sự kêu gọi của ĐCT, chớ không phải của loài người. Thư này được viết không chỉ bởi PL nhưng cũng bởi 1 môn đồ khác tên Sốt-then. Theo CV 18:17 thì khi làm chứng tại thành Cô-rinh-tô, PL bị dân DT chống đối và đưa ông ra tòa để tổng trấn Ga-li-ô xử. Họ hy vọng PL sẽ bị bỏ tù hay trục xuất khỏi thành phố, nhưng Ga-li-ô không can thiệp. Dân chúng giận cá chém thớt, đem người quản lý nhà hội DTG ra đánh đòn. Người đó là Sốt-thên. Từ một người được chọn làm quản lý nhà hội, Sốt-thên trở thành người tin Chúa và cùng PL hầu việc Chúa.
Chú ý câu 2: Thư gởi cho Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô. HT là HT của ĐCT tại thành Cô-rinh-tô, chứ không phải của PL hay của A-bô-lô hay Phi-e-rơ, hay một giáo phái nào. HT cũng không phải là một ngôi thánh đường nhưng là những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm thánh đồ, lại cho mọi người bất luận nơi nào, cầu khẩn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, là Chúa của những người ấy và của chúng ta.
Theo CVCSĐ 18 khi mới đến thành Cô-rinh-tô, PL giảng TL tại một nhà hội DT. Sau khi bị chống đối, KT viết: Phao-lô ra khỏi đó, vào nhà một người tên là Ti-ti-u Giút-tu, là kẻ kính sợ Đức Chúa Trời, nhà người giáp với nhà hội. Bấy giờ Cơ-rít-bu, chủ nhà hội, với cả nhà mình đều tin Chúa; lại có nhiều người Cô-rinh-tô từng nghe Phao-lô giảng, cũng tin và chịu phép báp-tem. (18:7-8).
Vậy HTC bắt đầu tại nhà của một tín đồ tên Giút-tu. Thật vậy khi đọc các thư tín TU, chúng ta sẽ thấy hội thánh Chúa nhóm tại nhà của các tín đồ, như trong thư gởi hội thánh Rô-ma, PL viết về hội thánh nhóm tại nhà của 2 vợ chồng Bê-rít-sin và Aquila, là 2 người PL gặp khi mới đến thành phố C.
Nếu có dịp đến thành phố La-mã (Rome) hôm nay qv có thể đi đến một nơi ngoại ô gọi là Via Appia Antica, hay là Con Đường Appian Xưa. Đây là nơi các tín đồ Cơ Đốc ngày xưa đào các đường hầm dưới đất để chôn người đã mất và cũng có những phòng để thờ phượng khi làm tang lễ, gọi là Catacomb. Khi các tín đồ nhóm nhau lại tại phòng nhóm dưới đất, đó chính là HT ĐCT.
HT Chúa cũng có thể ở trong một phòng giam, một căn chòi nhỏ, trên một chiếc ghe, chiếc thuyền, giữa rừng sâu, nơi mà những người cầu khẩn danh ĐCJC qua sự thờ phượng và thông công với nhau, dù chỉ vài ba người. Vậy chúng ta chớ nghĩ về hội thánh ĐCT như là một building, một nhà thờ to lớn vài trăm, vài ngàn người.
KT cũng dạy rằng không phải tất cả mọi người kêu cầu danh ĐCJC đều thuộc về Chúa. ĐCJC kể câu chuyện ngụ ngôn về cỏ lùng và lúa mì (Ma-thi-ơ 13:24-30) cho biết tín đồ thật và giả lắm khó nhận diện. Chúa cũng cảnh cáo đến ngày cuối, nhiều người sẽ ngạc nhiên vì Chúa sẽ nói với họ: Ấy vậy, các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được. 21 Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.
22 Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhân danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhân danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? 23 Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta! (Ma-thi-ơ 7:20-23). Muốn biết cây phải xem trái. Người tín đồ thật sự phải có sự đổi mới, sống làm theo lời dạy KT qua sự hướng dẫn của ĐTL.
Thư 1C được viết gởi cho Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô. Trên HK, hôm nay có 5 giáo phái TL lớn nhất ngoài Công Giáo. Lớn nhất là Báp-tít với gần 39 triệu tín đồ; sau đó là Pentecostal (14 triệu), Lutheran (8 triệu), Trưởng Lão (Presbyterian) (6 triệu), và Giám Lý (Methodist) (5.5 triệu). Tất cả HT thuộc 5 giáo phái này và cả các HTCG, dù thuộc giáo phái lớn nhất hay nhỏ nhất, dù là HT vài chục ngàn người hay vài chục người, đều là HT của ĐCT nếu có những người cầu khẩn danh ĐCJC và đã được nên thánh trong ĐCJC, những người cùng tin vào những niềm tin chính yếu trong KT.
Cầu khẩn danh ĐCJC tức là xác nhận rằng mình là người có tội và không thể tự cứu nên chỉ được cứu qua ân điển bởi đức tin vào sự chịu chết chuộc tội và sự sống lại của ĐCJC. Được nên thánh có nghĩa là có sự hiện diện của ĐTL trong lòng và được ĐTL thay đổi đời sống.
Niềm tin chính yếu của HTĐCT dù là hệ phái nào có thể tóm lại trong bài tín điều các sứ đồ đã được viết từ hội nghị Nicene vào năm 325. Bài tín điều các HTVN thường đọc đơn giản hơn Nicene creed.
Tôi tin Đức Chúa Trời Toàn Năng là Cha, là Đấng dựng nên trời đất.
Tôi tin Giê-xu Christ là Con Độc Sinh của Đức Chúa Trời và Chúa chúng ta. Ngài được thai dựng bởi Thánh Linh, sinh bởi nữ đồng trinh Ma-ri, chịu thương khó dưới tay Bôn-xơ Phi-lát, bị đóng đinh trên thập tự giá, chịu chết và chôn. Ngài xuống âm phủ, đến ngày thứ ba, Ngài từ kẻ chết sống lại. Ngài thăng thiên, ngồi bên hữu Đức Chúa Trời Toàn Năng là Cha. Từ đó Ngài sẽ trở lại để đoán xét kẻ sống và kẻ chết. Tôi tin Thánh Linh. Tôi tin hội thánh phổ thông, sự cảm thông của thánh đồ, sự tha tội, sự sống lại của thân thể và sự sống đời đời.
[ Bài tín điều Nicene giải thích rõ hơn về ĐCJC: God of God, Light of Light, true God of true God, begotten and not made; of the very same nature of the Father, by Whom all things came into being, in heaven and on earth, visible and invisible.
Who for us humanity and for our salvation came down from heaven, was incarnate, was made human, was born perfectly of the holy virgin Mary by the Holy Spirit.
By whom He took body, soul, and mind, and everything that is in man, truly and not in semblance.]
Mạng web hội thánh bày tỏ niềm tin vào sự cứu rỗi và KT như sau: Chúng tôi tin vào sự cứu rỗi đến từ Ðức Chúa Jê-sus Christ, qua ân điển của Thượng Ðế chứ không phải qua công sức và việc lành của loài người.
Chúng tôi tin Kinh Thánh là lời hằng sống và tuyệt đối của Thượng Ðế. Kinh Thánh khải thị ý chỉ và mục đích của Thượng Ðế cho loài người; giải thích về phương cách cứu rỗi qua Ðức Chúa Jê-sus Christ cho nhân loại. Chỉ qua sự hiểu biết lời Kinh Thánh, chúng ta mới có thể biết ý chỉ và mục đích của Thượng Ðế hầu sống đẹp lòng Ngài.
Đây là những niềm tin, giáo điều trọng yếu của mọi người thuộc về HTĐCT, dù là Báp-tít, Ngũ Tuần, Trưởng Lão, Giám Lý, hay CMA, hay CG. Dù ở Cô-rinh-tô, Ê-phê-sô, Giê-ru-sa-lem ngày xưa, hay Albuquerque, Sài Gòn, Hà Nội ngày nay. Và đây cũng là điều HT chúng ta tại đây tin. Ai xem trọng giáo phái hơn lời dạy KT là người chưa hiểu rõ lời Chúa. Ai tự hào về giáo phái mình hơn sự nhận biết Chúa là người chưa hiểu rõ lời Chúa. Ai nghĩ rằng HT này là của tôi, của gia đình tôi, của giáo phái tôi, là người chưa hiểu rõ lời Chúa.
Khi PL viết về các tín đồ trong HTC và cả tại các nơi khác, ông gọi họ là những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm thánh đồ. Được nên thánh chứ không phải tự nên thánh; và câu này cũng có ý rằng trong quá trình, đang xảy ra, chứ không phải đã hoàn tất. Chúng ta được gọi là thánh đồ không phải vì là người thánh khiết, công khiết, không tội, nhưng bởi vì sự công chính, thánh khiết, vô tội của ĐCJC. KT dạy khi chúng ta thật sự ý thức xưng mình là người có tội và đặt niềm tin vào sự cứu rôi của ĐCJC thì chúng ta được mặc lấy sự công chính của Đấng vô tội.
Tôi hằng vì anh em tạ ơn Đức Chúa Trời, bởi cớ anh em đã được Đức Chúa Trời ban ơn trong Đức Chúa Jêsus Christ; 5vì chưng anh em đã được dư dật về mọi điều ban cho, cả lời nói và sự hiểu biết, 6 như lời chứng về Đấng Christ đã được vững bền ở giữa anh em. 7 Anh em đang trông đợi kỳ Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta hiện đến, cũng chẳng thiếu một ơn nào.
Dù là một hội thánh nhiều nan đề, dù một số tín đồ trong hội thánh vẫn còn non nớt trong đức tin, trong sự hiểu biết lời Chúa, thậm chí một số gây khó khăn cho PL, nhưng ông vẫn cảm tạ Chúa về các tín hữu trong HTC. Khi nghĩ đến HT tại đây, khi cầu nguyện cho con cái Chúa trong hội thánh, tôi hình dung đến từng khuôn mặt, có khi giọng nói. Các anh chị em và gia đình trong HT này đã trở nên những người thân thương của chúng tôi trong gia đình Chúa. Và cũng như PL tôi cảm tạ ĐCT về các anh chị em, là những người đã cùng chúng tôi làm công việc Chúa. Các anh chị em cầu nguyện, động viên, khích lệ, nâng đỡ, yêu thương chúng tôi. Tôi cảm tạ Chúa vì những điều này. Các anh chị em hòa thuận, yêu mến, tương trợ nhau trong tình yêu thương của Đấng Christ: tôi cảm tạ Chúa vì những điều này.
Câu 4-5, 7 cho thấy HTC là một HT đầy ân sủng Chúa ban, đã được dư dật về mọi điều ban cho, cả lời nói và sự hiểu biết, chẳng thiếu một ơn nào. Dư dật mọi ơn cả trong lời nói (nói tiếng lạ và giảng dạy) và sự hiểu biết. Có lẽ vì lý do này mà trong 1 Cor 13 khi viết về tình yêu thương PL có lời: Dầu tôi nói được các thứ tiếng loài người và thiên sứ, nếu không có tình yêu thương, thì tôi chỉ như đồng kêu lên hay là chập chỏa vang tiếng. 2 Dầu tôi được ơn nói tiên tri, cùng biết đủ các sự mầu nhiệm, và mọi sự hay biết.
1 HT đầy ơn, đầy hiểu biết nhưng cũng đầy nan đề! Lý do? Vì hễ càng hiểu biết nhiều, được ơn nhiều thì dễ sinh ra kiêu ngạo, tự phụ, không muốn nghe ai, không muốn thay đổi vì nghĩ mình đúng, phải trong mọi điều. Ân tứ tôi quan trọng hơn của anh chị, hiểu biết tôi sâu nhiệm hơn anh chị. Sự kiêu ngạo khiến thiên sứ trở thành Sa-tăng chống nghịch lại ĐCT. Đây là một trọng tội. Cầu xin ĐTL dạy dỗ, nhắc nhở để mỗi chúng ta không phạm trọng tội này.
8 Ngài sẽ khiến anh em được vững bền đến cuối cùng, để khỏi bị quở trách trong ngày của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta. 9 Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài đã gọi anh em được thông công với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta. Dù con người bất tín, nhưng ĐCT van luôn thành tín nếu chúng ta không thành tín, song Ngài vẫn thành tín, vì Ngài không thể tự chối mình được. (2 Tim 2:13).
NAN ĐỀ CHIA RẼ TRONG HỘI THÁNH
Hỡi Anh em, tôi nhơn danh Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta, khuyên anh em thảy đều phải đồng một tiếng nói với nhau, chớ phân rẽ nhau ra, nhưng phải hiệp một ý một lòng cùng nhau. 11 Vì, hỡi anh em, bởi người nhà Cơ-lô-ê, tôi có được tin rằng trong anh em có sự tranh cạnh. 12Tôi có ý nói rằng trong anh em mỗi người nói như vầy: Ta là môn đồ của Phao-lô; ta là của A-bô-lô, ta là của Sê-pha, ta là của Đấng Christ. 13 Đấng Christ bị phân rẽ ra sao? Có phải Phao-lô đã chịu đóng đinh trên cây thập tự thế cho anh em, hay là anh em đã nhơn danh Phao-lô mà chịu phép báp tem sao?
Sau lời chào mừng và cảm tạ, PL đi thẳng vào nan đề thứ nhất mà ông đã nghe: tín đồ trong hội thánh chia năm sẻ bảy thành nhóm này, nhóm khác. Trong đoạn 3:1-9, PL cho biết thêm chi tiết về tình trạng chia rẽ này: không chỉ chia nhóm nhưng tín đồ còn có sự ghen ghét và tranh cạnh với nhau. PL gọi các tín đồ này là con đỏ trong Đấng Christ.
Sự tranh chấp, chia rẽ trong hội thánh là một nan đề trầm trọng và phổ thông trong vòng các hội thánh, dù ở đâu, trong thời kỳ nào, dù lớn hay nhỏ, dù tín đồ thuộc thành phần trí thức, giàu có hay lao động, nghèo khó. Cô-rinh-tô không phải là hội thánh trong thời kỳ đầu tiên có nan đề này. Như HT Phi-líp cũng có tín đồ không thuận nhau: Vậy thì, hỡi anh em rất yêu rất thiết, là sự vui mừng và mão triều thiên cho tôi, kẻ rất yêu dấu ơi, hãy đứng vững trong Chúa. 2 Tôi khuyên Ê-yô-đi và khuyên Sin-ty-cơ phải hiệp một ý trong Chúa. 3 Hỡi kẻ đồng liêu trung tín, tôi cũng xin anh giúp hai người đàn bà ấy, nhân hai bà ấy cùng tôi đã vì đạo Tin Lành mà chiến đấu (4:1-3)
ĐCJC biết trước điều này nên trong đêm cuối cùng với các môn đồ, Ngài cầu nguyện nhiều lần (ít nhất 4 lần) về sự hiệp một, như Ba Ngôi ĐCT là một. Lạy Cha thánh, xin gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con, để họ cũng hiệp làm một như chúng ta vậy. (Giăng 17:11)
Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến... Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương Con. (20-23
Làm sao để HT tránh tình trạng chia rẽ, nhóm này nhóm khác, để có sự hiệp một? Mỗi tín đồ trong HT phải là người hòa thuận. MS Rick Warren kể một câu chuyện về một tín đồ. MS hỏi tại sao ông không tham gia vào HT. Ông nêu ra lý do HT nhiều người đạo đức giả, chê HT này, chê tín đồ HT nọ, trách họ thiếu sự đoàn kết, hiệp một. Rồi ông nói với MS khi nào tìm một HT thật sự thì ông mới đi. MS Warren nói với ông, khi nào ông tìm được HT tuyệt hảo đó thì ông đừng đến. Người tín đồ ngạc nhiên hỏi tại sao. MS Warren trả lời bởi vì ông sẽ làm cho HT đó mất toàn hảo khi ông tham gia vào. MS kết luận theo như lời của MS Charles Spurgeon từ trước đó: Ngày mà chúng ta tìm được một hội thánh toàn hảo, hội thánh đó sẽ mất đi sự toàn hảo ngay lúc chúng ta dự vào.
Mọi người đều muốn tìm đến một HT toàn hảo: MS giảng thật đầy ơn Chúa; ban thờ phượng tôn vinh những bài nhạc thật rung động lòng, chuẩn bị lòng cho sự thờ phượng; cơ sở khang trang, đầy đủ phòng nhóm cho từng lớp; mọi người vui vẻ, nồng nhiệt, thân thiện, chào hỏi nhau, đón mừng quan khách. Vấn đề là hội thánh như PL đã viết trong câu 2 gởi cho Hội thánh Đức Chúa Trời tại thành Cô-rinh-tô, tức là cho những người đã được nên thánh trong Đức Chúa Jêsus Christ, được gọi làm thánh đồ. HT là hội của những người đang trong quá trình nên thánh, còn đang được ĐTL sửa trách, dạy dỗ, thay đổi, vẫn còn là người có tội, có những tính xấu. Trong số đó có qv và tôi.
Vậy để có sự hiệp một trong hội thánh, tín đồ phải là người có lòng hiệp một; để hội thánh có tình yêu thương, tín đồ phải là người có tình yêu thương. Không phải chỉ một vài người, nhưng tất cả! Đây chính là điều khó vô cùng. Tại sao? Bởi vì trong số tín đồ, có người vẫn còn là con đỏ, có người vẫn còn là con trẻ, có người vẫn còn là thanh niên, và chỉ một số rất ít là cha mẹ thuộc linh. Nếu muốn hiểu rõ hơn tôi nói gì qv ghi danh học lớp môn đồ hóa với anh Tấn.
Và chính vì mỗi người đều không toàn vẹn, đều có tội nên phải học, nhớ và làm theo lời dạy này của PL viết cho HT Cô-lô-se: Vậy anh em là kẻ chọn lựa của Đức Chúa Trời, là người thánh và rất yêu dấu của Ngài, hãy có lòng thương xót. Hãy mặc lấy sự nhân từ, khiêm nhường, mềm mại, nhịn nhục, 13 nếu một người trong anh em có sự gì phàn nàn với kẻ khác thì hãy nhường nhịn nhau và tha thứ nhau: như Chúa đã tha thứ anh em thể nào, thì anh em cũng phải tha thứ thể ấy. 14 Nhưng trên hết mọi sự đó, phải mặc lấy lòng yêu thương, vì là dây liên lạc của sự trọn lành (binds them all together in perfect unity). (3:12-14)
Và cho HT Ê-phê-sô: Vậy, tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em, 2 phải khiêm nhường đến điều, mềm mại đến điều, phải nhịn nhục, lấy lòng thương yêu mà chìu nhau, 3 dùng dây hòa bình mà giữ gìn sự hiệp một của Thánh Linh. 4 Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh, như anh em bởi chức phận mình đã được gọi đến một sự trông cậy mà thôi; 5 chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp tem (4:1-5)
Sứ đồ Gia-cơ nhắc nhở tín đồ: Nhưng nếu anh em có sự ghen tương cay đắng và sự tranh cạnh trong lòng mình, thì chớ khoe mình và nói dối nghịch cùng lẽ thật. 15 Sự khôn ngoan đó không phải từ trên mà xuống đâu; trái lại, nó thuộc về đất, về xác thịt và về ma quỉ. 16 Vì ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác. (4:14-16)
