Có Ai Quan Tâm?
Một nan đề trầm trọng trong hội thánh, gia đình hay cả xã hội nhưng ít được nói đến, ít ai chú ý đến là sự thờ ơ, dững dưng, lãnh đạm trước những sự việc xảy ra chung quanh hay đối với những người chung quanh mình. “I don’t care” (indifference, apathy), tôi không cần biết là một thái độ hết sức đáng sợ, có thể gọi là nguy hiểm. Đây là thái độ của một người bất cần, ai làm gì thì cứ làm, thấy cũng chớp mắt, nghe không cần hiểu, ai buồn giận, ai sống chết mặc họ, miên sao đừng đụng đến tôi là được rồi.
Một học sinh không thông minh lắm vẫn có thể được bù lại bằng sự nổ lực, cố gắng nhiều lần hơn so với người thông minh hơn mình. Có điểm thấp vẫn có thể thay đổi nếu chịu khó học thêm. Nhưng nếu một học sinh vào lớp, thầy cô nói gì, dạy gì mặc kệ, I don’t care, tôi không cần biết thì làm sao có thể tiếp thu kiến thức, học được điều gì mới mẻ.
Thử nghĩ 1 gia đình, cha mẹ không ngó ngàn gì đến con cái, mặc vợ vợ sống, mặc chồng chồng sống, mạnh ai ai làm, mai ai ai sống, không ai quan tâm đến ai thì sao có thể gọi là gia đình? Cũng vậy nếu tín đồ không ai quan tâm đến ai thì sao có thể gọi là hội thánh? [công xưởng, cửa tiệm]
Người không có khả năng chúng ta còn có thể huấn luyện, chỉ dạy. Người rụt rè, nhút nhát, hay lo sợ còn có thể khuyến khích, động viên. Ngay cả người biến nhác cũng có thể thay đổi khi ý thức được điều họ muốn làm, thích làm. Nhưng người thờ ơ, dững dưng, có thái độ bất cần, ai làm gì mặc ai thì tôi không biết làm sao để thay đổi? Một tác giả đã nhận xét Tội nặng nhất đối với những người chung quanh chúng ta không phải là thù ghét họ nhưng là dững dưng với họ. Đây là tính chất chính yếu, cốt lõi của sự bất nhân. Đó là người thấy người quanh mình đau đớn, thiếu thốn, nhưng dững dưng, có thể xoay mặt bỏ đi mà trong lòng không hề ái náy, ray rứt, hay khó chịu.
[Các anh của Giô-sép]
Cũng chính vì vậy ĐCJC khi phán dạy cùng 7 hội thánh vùng Tiểu Á ghi lại trong Khải Huyền, Chúa cảnh cáo hội thánh La-đi-xê Ta biết công việc của ngươi; ngươi không lạnh cũng không nóng. Ước gì ngươi lạnh hoặc nóng thì hay! 16 Vậy, vì ngươi hâm hẩm, không nóng cũng không lạnh, nên ta sẽ nhả ngươi ra khỏi miệng ta. (KH 3:15-16). Qv có thể tưởng tượng đến hình ảnh của một người trong hội thánh đó khoanh tay trước ngực, miệng nhết nụ cười bất cần, mà nói: vậy thì sao? tôi không cần ai, ngay cả ĐCT nhắc nhở, dạy bảo!
Vào đầu thế kỷ 19 (1831) một người Pháp trẻ tuổi, thuộc dòng vương tước, quí tộc tên Alexis de Tocqueville đến xứ HK để tìm hiểu về đất nước mới này. Lúc ấy HK chỉ mới 55 tuổi, ngắn hơn cuộc đời của một người! Ông đi khắp xứ trong vòng hai năm. Khi trở về viết một quyển sách mà mãi đến hôm nay vẫn còn được đọc trong các lớp trung và đại học, Democracy in America (Nền Dân Chủ Tại HK). Ba điều ông nhận xét về quốc gia mới thành lập này: sự quí chuộng tự do, ảnh hưởng của tôn giáo (niềm tin) trong đời sống dân chúng và sự tình nguyện phục vụ của dân chúng. Về ảnh hưởng của niềm tin và sự tình nguyện phục vụ, Tocqueville viết: Tôi phải nói rằng tôi đã thấy người HK đề cao sự hy sinh thực sự cho phúc lợi công cộng; và tôi cũng đã nhận thấy hằng trăm trường hợp mà dân chúng luôn luôn trung tín tương trợ cho nhau. Trong trí của dân chúng HK, khái niệm về tôn giáo và tự do kết hợp với nhau một cách hết sức mật thiết [gắn liền với nhau, không thể tách rời] đến nỗi không thể nào có một điều mà lại không có điều kia.
Sự tự do, tôn giáo (niềm tin) và sự tình nguyện phục vụ là ba điều theo Tocqueville gắn liền một cách vô cùng mật thiết với nhau. Nhưng điểm khởi đầu của mọi sự phục vụ là lòng quan tâm. Tại sao? Bởi vì nếu không quan tâm thì sẽ không màng đến; nếu không màng đến thì làm thế nào có thể bỏ công sức, thời gian, tốn kém sức lực, tài của để phục vụ!
Vậy nếu đức tin và sự quan tâm thể hiện qua sự phục vụ trong niềm tin Cơ Đốc hoàn toàn không thể tách rời nhau. Khi một người nói tôi thật sự tin Chúa nhưng không hề tự nguyện làm điều gì đó cho ai, cho xã hội, cho hội thánh thì người đó hoặc chưa hiểu rõ lời KT dạy, hoặc tự dối mình. Tại sao tôi có thể khẳng định như vậy? Bởi vì chính lời ĐCJC đã dạy qua PL: Tôi đã từng chỉ dạy cho anh em trong mọi việc rằng chúng ta phải cần cù làm việc như thế để giúp đỡ những người đau yếu, và nhớ lại lời chính Chúa là Đức Chúa Jêsus đã phán: ‘Ban cho có phước hơn nhận lãnh.’ (CV 20:35).
Cũng chính ĐCJC dạy các môn đồ: Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc [phục vụ] mình, song để hầu việc [phục vụ] người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người. (Mác 10:45). Chính vì ĐCT quan tâm đến chúng ta nên Ngài mới sai Con Độc Sanh xuống thế để chịu chết cho tội lỗi chúng ta.
Nê-hê-mi là một người quan tâm. Ông quan tâm nên hỏi thăm về tình trạng của dân chúng tại xứ Giu-đê và tình trạng của thành Giê-ru-sa-lem dù cách xa hằng 800 dặm dù đang sống trong cung điện giàu sang, đầy đủ, sung sướng về vật chất. Vào tháng Kít-lêu (giữa tháng 11 đến 12) năm thứ hai mươi, khi tôi đang ở tại kinh thành Su-sơ, 2có một người trong anh em tôi tên là Ha-na-ni với vài người từ Giu-đa đến. Tôi hỏi thăm họ về những người Do Thái còn sót lại, tức là những người trở về từ lưu đày, và về thành Giê-ru-sa-lem. 3Họ nói với tôi rằng: “Những người còn sống sót sau lưu đày ở lại trong tỉnh bị hoạn nạn và tủi nhục lắm, còn tường thành Giê-ru-sa-lem thì đổ nát và các cửa thành đã bị lửa đốt cháy. (1:1-3)
Và khi nghe tình trạng của dân, của thành, quan tâm, lo lắng đến độ than khóc, đau buồn mấy ngày, kiên ăn, cầu nguyện cùng ĐCT: Khi nghe những lời ấy, tôi ngồi than khóc, đau buồn mấy ngày; tôi kiêng ăn và cầu nguyện với Đức Chúa Trời của các tầng trời (Nê-hê-mi 1:4)
Chúng ta hỏi Nê-hê-mi là ai, sống lúc nào, làm gì, tại sao lại quan tâm đến dân sự Chúa còn sống sót sau khi bị lưu đày và về tình hình của thành Giê-ru-sa-lem? Quan trọng hơn hết là điều này có liên hệ gì đến đời sống, đức tin, sự hầu việc Chúa của mỗi qv tại đây?
Lời mở đầu sách Nê-hê-mi, một ngày vào năm thứ 20 đời vua Ạt-ta-xét-xe của xứ Phe-rơ-sơ, một đế quốc hùng mạnh nhất thời đó, tức năm 445BC nhằm tháng Kít-lơ tức tháng 11-12 khi Nê-hê-mi đang ở kinh đô Su-sơ là nơi vua ngự mùa đông, một sự việc tưởng như hết sức bình thường xảy ra với ông. Sự việc gì? có một người trong anh em tôi tên là Ha-na-ni với vài người từ Giu-đa đến. Một anh em của Nê-hê-mi tên Ha-na-ni và một số người Giu-đa đến gặp (có thể chỉ đến thăm viếng) ông vào một ngày trong tháng 12 năm 445 BC. Người Giu-đa đây dĩ nhiên là người DT, nhưng còn có nghĩa là những người sinh sống tại vùng Giu-đa. Đây là những người bị lưu đày sang xứ Ba-by-lôn sau khi vua Nê-bu tàn phá thành Giê, đền thờ và cả bức tường thành.
Tôi tin rằng trước khi gặp Ha-na-ni và những người từ xứ Giu-đa, Nê-hê-mi có thể chỉ nghĩ rằng lần gặp gỡ này cũng như những lần thăm viếng trước đó. Nhưng ông và mọi người đến thăm ông không ngờ rằng cuộc gặp gỡ này lại thay đổi cuộc đời Nê-hê-mi, Ha-na-ni và những người Giu-đa, và thay đổi cả lịch sử của dân sự ĐCT là dân DT. Tại sao? Bởi vì Nê-hê-mi thật lòng quan tâm đến tình cảnh dân cư, thành phố nên Đức Chúa Trời đã dùng ông mà thay đổi lịch sử dân tộc DT.
Sau khi hỏi thăm và nghe về tình trạng dân cư và bức tường thành tại Giê, Nê đau buồn, than khóc rồi cầu nguyện cùng ĐCT. Nê là quan tửu chánh trong thời vua Ạt của xứ Phe-rơ-sơ. Sau 4 tháng suy nghĩ, cầu nguyện, cuối cùng Nê quyết định xin vua về Giê để xây lại bức tường thành đã đổ nát sau 140 năm dài.
ĐỨC CHÚA TRỜI DÙNG NÊ-HÊ-MI VÌ ÔNG THẬT LÒNG QUAN TÂM
Tên Nê-hê-mi có nghĩa là ĐCT yên ủi. Ông làm quan tửu chánh tức là người nếm rượu, thức ăn trước khi vua dùng. Đây là một vị quan hết sức tín cẩn với vua vì liên quan đến tính mạng của vua. Quan tửu chánh cũng thường là cố vấn cho vua, thường xuyên hiện diện với vua mỗi ngày. Nê-hê-mi giữ một chức vụ quan trọng, sống sung sướng, đầy đủ tại thủ Su-sơ. Một điều khác cần nhớ khi nghĩ về tấm lòng thật sự quan tâm của Nê-hê-mi với dân sự và thành Giê: ông sinh ra, lớn lên tại xứ xa vì cha mẹ ông chắc đã bị lưu đày sang xứ xa. Như một số con em chúng ta sinh ra, lớn lên tại HK mà có thật lòng nghĩ đến đồng bào, đất nước VN.
Vì quan tâm nên Nê-hê-mi hỏi thăm anh em về dân cư sống trong xứ Giu-đa và về thành Giê-ru-sa-lem. Và vì lòng quan tâm nên sau khi nghe rằng Những người còn sống sót sau lưu đày ở lại trong tỉnh bị hoạn nạn và tủi nhục lắm, còn tường thành Giê-ru-sa-lem thì đổ nát và các cửa thành đã bị lửa đốt cháy. (1:3) thì ông đau buồn, than khóc rồi khẩn thiết cầu nguyện cùng ĐCT.
Thay vì thờ ơ, lãnh đạm trước tình cảnh của dân sự tại xứ Giu-đa, về tình trạng hoan tàn, đỗ nát của tường thành Giê, ông thật sự đồng cảm với cảnh khổ sở, tủi nhục của những người Nê-hê-mi chưa hề biết đến, về bức tường thành chưa bao giờ nhìn thấy. Thay vì chê bai, trách móc những người trước ông tại sao 140 năm qua mà không ai xây lại tường thành? Nê-hê-mi cầu nguyện xin Chúa tha thứ và xin Chúa dùng ông cho công việc xây lại bức tường thành đỗ nát, hoang vu.
Khi đọc Nê 3 chúng ta thấy ngay trong thời điểm đó, vua Phê-rơ-sơ đã bổ nhiệm các quan chức người DT để cai quản thành Giê và các vùng phụ cận. Nê-hê-mi không hề buộc tội những người lãnh đạo trước đó và ngay trong thì hiện tại rằng họ chỉ là những người vô dụng, bất tài, không biết lãnh đạo, hướng dẫn nên dân chúng mới lâm vào cảnh tủi nhục, khổ sở, và tường thành vẫn còn hoang tàn đến ngày nay.
Nê-hê-mi không chỉ xúc động nhất thời rồi quên đi. Ông khóc rồi cầu nguyện. Tại sao lại cầu nguyện? Bởi vì Nê-hê-mi biết chắc rằng nếu Đức Chúa Trời không vùa giúp thì chắc chắn mọi kế hoạch, dự tính, công trình đều sẽ thất bại. Sự cầu nguyện tự nhiên đối với Nê-hê-mi như hơi thở, như thức ăn, nước uống hằng ngày. Đoạn 13 của sách cùng ghi lại 4 lời cầu nguyện của Nê-hê-mi.
Chính hai điều: lòng quan tâm dẫn đến cảm xúc, mong ước thay đổi cục diện và hiểu biết lời Chúa dạy là chìa khóa mở cánh cửa thành công cho Nê-hê-mi. Dù hiểu biết cả KT nhưng lòng không nằm đúng chỗ thì có ích lợi gì cho Đức Chúa Trời? Chính vì tấm lòng thật sự quan tâm và muốn thay đổi cục diện tại xứ Giu-đê và tại thành Giê-ru-sa-lem, nên ĐCT chọn và dùng Nê cho công việc sửa sang, xây cất lại tường thành, dù ông là quan tửu chánh.
ĐTL có thể ban cho người có tấm lòng thật sự quan tâm đến công việc Chúa khả năng, ân tứ để thực hiện. Nhưng trước tiên phải có lòng quan tâm. Qua lời cầu nguyện trong đoạn 1 chúng ta thấy rất rõ tấm lòng quan tâm của Nê-hê-mi. Câu 6 ông dùng từ chúng tôi khi xưng nhận tội của dân Y-sơ-ra-ên: Xin mắt Chúa đoái thương và tai Chúa lắng nghe lời cầu nguyện của con là đầy tớ Chúa, đang ngày đêm cầu nguyện vì dân Y-sơ-ra-ên, là các đầy tớ Chúa ở trước mặt Chúa và xưng các tội của chúng con là dân Y-sơ-ra-ên đã phạm với Ngài. Thật, con và tổ phụ đã phạm tội.
Nê-hê-mi đồng hóa mình với dân Chúa. Người quan tâm là người biết cảm thông, biết đặt mình trong chỗ của người. Dĩ nhiên nói như vậy không có nghĩa là chúng ta đồng ý với những sai quấy, tội lỗi của người. Nhưng thay vì đầu tiên chỉ thấy cái sai, cái lỗi, cái tội của anh chị em mình thì cố gắng mà hỏi: nếu tôi sa vào hoàn cảnh, tình huống đó thì tôi có làm giống như anh chị em đó không?
Người quan tâm là người có mục đích để xây dựng chứ không phải lên án, buộc tội, trách móc rồi nói: tôi la trách, buộc tội là bởi vì tôi quan tâm! Khi vào thành Giê trong tuần lễ cuối đời, dù biết rõ dân sự trong thành sẽ kêu gào đóng đinh nó đi, nhưng Chúa lại khóc cho họ! Ví dụ của người không hề quan tâm đến sự cứu rỗi của người hư mất là Giô-na: ĐCT sai đến Ni-nê-va về phía đông bắc của xứ Giu-đa thì Giô-na lại chạy trống về phía tây nam; rồi dù sau khi được ĐCT thương xót cứu ra khỏi bụng cá ông miên cưỡng đi đến thành. Sứ điệp ngắn ngủi, lạnh lùng: phải ăn năn, 3 ngày nữa thành Ni-nê-va sẽ đỗ! Rồi Giô-na ra khỏi thành phố, ngồi trên đồi nhìn xuống. Để làm gì? Để mong Đức Chúa Trời trừng phạt dân sự trong thành.
Cụ thể hơn: khi gia đình có vấn đề, con cái đi sai đường, chúng ta làm gì? Đỗ lỗi cho nhau hay cảm thông, quan tâm mà tìm cách để thay đổi, xây dựng lại. Khi HT có nan đề, khi thấy người anh chị em trong HT vấp ngã, khi công việc Chúa không phát triển, khi người lãnh đạo HT như không đem lại kết quả, ông bà anh chị làm gì? Dững dưng, thờ ơ, không màng đến, mặc ai làm gì kệ họ? Hay chê bai, chế diễu, trách móc, buộc tội, lên án? Hay quan tâm đến độ đóng góp để xây dựng, củng cố, phát triển HT, để đem TL đến cho những người chưa biết Chúa trong thành phố này?
Trong thời gian hầu việc Chúa tại đây, tôi thấy đủ, nghe đủ, biết đủ rằng luôn luôn có rất nhiều người phê phán, chê bai, buộc tội, trách móc, so sánh, nhưng rất hiếm người thật lòng quan tâm như Nê-hê-mi: buồn khóc vì đồng cảm, thương xót, ăn năn xin Chúa tha thứ tội rồi cầu xin Chúa khẩn thiết dùng con như Nê-hê-mi đã cầu nguyện: Lạy Chúa, cầu xin Ngài lắng nghe lời cầu nguyện của con là đầy tớ Ngài và của các đầy tớ khác, là những người vui lòng kính sợ danh Ngài. Xin Chúa làm cho con là đầy tớ Chúa hôm nay được may mắn và được ơn thương xót trước mặt người nầy. (1:11). Người này tức là vua Ạt-ta-xét-xe, đại đế của đế quốc Phê-rơ-sê.
Thật sự mà nó không một người nào lại không quan tâm đến một điều gì hay một người nào đó. Người hoàn toàn không hề quan tâm có thể mắc căn bệnh tự kỷ hay trầm cảm. Hay một người độc ác! Sự quan tâm nói lên điều gì quan trọng trong đời chúng ta. Muốn có bằng cấp phải dốc tâm học. Muốn được lòng người bạn trai, bạn gái? Phải đưa đón, dân đi chơi, đi ăn, phải mua quà tặng.
Vậy câu hỏi không phải là qv có quan tâm hay không nhưng đúng hơn là qv thật sự quan tâm về điều gì, và ưu tiên của những quan tâm đó trong đời qv như thế nào!
Nê-hê-mi cầu nguyện trong suốt 4 tháng trời. Không chỉ cầu nguyện nhưng còn suy nghĩ về kế hoạch, dự tính để tham gia. Chúng ta thấy điều này qua các câu trả lời và hỏi xin của Nê với vua. Khi vua hỏi tại sao ông buồn rầu, Nê lập tức trả lời: Tôi tâu với vua: “Nguyện vua vạn tuế! Làm sao mặt tôi không buồn khi thành trì là nơi mồ mả của tổ phụ tôi bị tàn phá và các cổng thành đều bị lửa đốt cháy? (2:3)
Rồi xin phép vua được trở về Giu-đa: Vua hỏi tôi: “Ngươi cầu xin điều gì?” Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời của các tầng trời 5rồi tâu với vua: “Nếu vua hài lòng và nếu đầy tớ vua được ơn trước mặt vua, xin sai phái tôi về Giu-đa, đến thành có mồ mả của tổ phụ tôi để xây cất nó lại. (2:4-5)
Khi hỏi xin vua như vậy, Nê-hê-mi hỏi xin với đức tin. Hành động này đòi hỏi sự can đảm vì Nê-hê-mi có thể mất chức vị, mất cả 1 cuộc sống yên ổn, sung túc. Hành động này cũng có thể nguy hiểm đến cả tính mạng của chính ông vì trước đây chính vua Ạt-ta-xét-xa là người ra lệnh dừng công việc xây cất đền thờ: Vì vậy, các ngươi hãy ra lệnh đình chỉ việc tái thiết thành này cho đến khi ta ban chiếu chỉ về việc đó. 22Hãy hành xử thận trọng về việc nầy, kẻo lợi ích của nhà vua bị thiệt hại thêm chăng.” 23Ngay sau khi đã đọc chiếu chỉ của vua Ạt-ta-xét-xe trước mặt Rê-hum, thư ký Sim-sai và các cộng sự viên thì chúng tức tốc đi đến với dân Do Thái tại Giê-ru-sa-lem, dùng quyền lực buộc họ phải đình chỉ việc xây cất. 24Thế là công việc xây cất đền thờ của Đức Chúa Trời tại Giê-ru-sa-lem bị đình chỉ cho đến năm thứ hai đời Đa-ri-út, vua Ba Tư, cai trị. (Ê-xơ-ra 4:21-24)
Và sau khi được vua cho phép về lại Giu-đê để xây lại tường thành, Nê-hê-mi lập tức hỏi xin vua 2 điều: giấy phép của vua khi đi đường, và gỗ từ kho vua để dùng cho việc xây cất. Rõ ràng Nê-hê-mi đã nghĩ trước, dự định trước về việc này. Nếu vua hài lòng, xin vua trao cho tôi các văn thư gửi các quan tổng đốc tỉnh phía tây sông Ơ-phơ-rát cho phép tôi đi ngang qua cho đến khi tôi đến Giu-đa. 8Xin cũng ban chiếu chỉ cho A-sáp, người giữ rừng cho vua, bảo ông ấy cấp cho tôi gỗ làm khung cổng thành cạnh đền thờ và làm tường thành cùng nhà mà tôi sẽ ở đó. (2:7-8) Không những vậy KT còn cho biết ĐCT cảm động lòng vua, để Vua cũng sai những quan chức và kỵ binh đi với tôi.(2:9).
CHI THỂ QUAN TÂM ĐẾN NHAU ĐỂ GIỮ CHO THÂN MẠNH KHỎE
Khi Đa-vít bị vua Sau-lơ tìm bắt để giết phải chạy trốn vào hang động tối tăm. Tại đó Đa-vít viết TT142. Bài TT này cho thấy rất rõ rằng Đa-vít biết ĐCT quan tâm, chú ý đến ông, đến hoàn cảnh, tâm trạng của ông: 5Lạy Đức Giê-hô-va, con kêu cầu với Ngài rằng: “Ngài là nơi nương náu của con, là phần của con trong đất kẻ sống.” 6Xin Chúa lắng nghe tiếng con, vì con khốn khổ vô cùng (TT 142:5-6 – BHĐ)
Dù vậy Đa-vít vẫn thở than cùng ĐCT là không ai quan tâm đến ông? 4Xin Chúa nhìn phía bên phải con, kìa, chẳng có ai chú ý đến con cả; Cũng không có nơi nào để con nương thân; Chẳng ai quan tâm đến mạng sống con. (Thi Thiên 142:4 – BHĐ) Tại sao? Bởi vì tất cả cần quan hệ, cần sự để ý, quan tâm, cần sự lo lắng, tình yêu thương của người chung quanh mình.
Tại sao anh chị em trong HT cần quan tâm đến nhau và đến HT Chúa? Bởi vì tất cả chúng ta đều là chi thể của một thân mà đầu là Đấng Christ. Vì vậy sứ đồ PL dạy rất rõ: 14Vì thân không phải chỉ có một chi thể mà gồm nhiều chi thể. Nếu chân nói: “Vì tôi không phải là tay nên tôi không thuộc về thân” thì không vì thế mà chân không thuộc về thân. 16Nếu tai nói: “Vì tôi không phải là mắt nên tôi không thuộc về thân” thì không vì thế mà mắt không thuộc về thân. (1 Cor 12:14-15)
Bao nhiêu lần KT dạy tín đồ cần phải quan tâm cho nhau. Các cụm từ nói nên điều này là: LẪN NHAU, CÙNG NHAU, CHO NHAU, VỚI NHAU, VÌ NHAU
Elie Wiesly, một nhà trí thức thắng giải Nobel hòa bình năm 1986. Trong 1 bài diễn văn trước tổng thống Bill Clinton năm 1999 (April 12 – The Perils of Indifference) kể lại một câu chuyện đã xảy ra 44 năm trước trong đời ông. Lúc đó Wiesly còn là một thiếu niên từ một làng nhỏ bị Đức Quốc Xã bắt vào tại tập trung Buchenwald chờ ngày bị giết bằng ga độc.
Một buổi sáng cậu thiếu niên Elie thức dậy và nghe được một thứ tiếng xa lạ. Đó là tiếng của các binh lính đồng minh đến giải phóng những người DT đang bị giết bởi ĐQX. Ông nói trong bài diên văn: Được giải phóng ngày trước đó bởi những người lính HK, đứa bé nhớ lại sự giận dữ của họ trước những thảm cảnh họ chứng kiến (tại các trại tập họp chờ bị giết). Và dù khi đứa bé ấy sống đến khi trở thành một ông lão, nó vân luôn nhớ ơn họ về sự giận dữ đó, và luôn cả lòng thương xót của họ. Dù nó không hiểu được ngôn ngữ của họ, nhưng những cặp mắt của họ nói với nó về điều nó cần biết: rằng những chiến sĩ này sẽ luôn ghi nhớ và sẽ là nhân chứng.
Tại sao những người lính HK giận khi nhìn thấy thảm cảnh? Bởi vì họ thật sự quan tâm nên có cảm xúc như vậy. Nếu họ là những người lính chỉ lấy mắt nhìn thấy tội ác ghê tởm đó nhưng không hề có một cảm xúc trong lòng, vẫn thờ ơ, dững dưng, lạnh nhạt thì theo qv họ là những người như thế nào? Và lịch sử khi viết lại về sự kiện này sẽ lên án hay khen thưởng?
