Chức Vụ Giải Hòa
Bài giảng sáng nay có tựa đề là Chức Vụ Giải Hòa. Đề tựa này trích từ lời của sứ đồ PL trong thư gởi HT Cô-rinh-tô Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. 19 Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi. Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhân danh Đấng Christ mà nài xin anh em: Hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời. (2 Cor 5:18-20)
1) Tại sao thế gian cần hòa giải với ĐCT? 2) Con người hòa giải với ĐCT bằng cách nào? 3) Chức vụ giải hòa.
TẠI SAO THẾ GIAN CẦN HÒA GIẢI VỚI ĐCT?
STK viết về sự sáng tạo của ĐCT. ĐCT sáng tạo vũ trụ bao la mênh mông với hàng tỉ tỉ dãy ngân hà, với vô số hành tinh, thiên thể trong vũ trụ mênh mông đó. ĐCT sáng tạo trời đất, sông biển cùng các loài sinh động vật trên trời, trên đất và dưới đất.
Tuy nhiên sự mênh mông, không cùng tận của vũ trụ, sự bao la, sâu thẳm của trời đất, biển cả, sự kỳ diệu của các loài sinh động vật trên trời, dưới đất, sông biển không phải là đỉnh cao của sự sáng tạo của ĐCT. Sau đó Chúa sáng tạo con người đầu tiên là A-đam và E-va. Trước khi tội lỗi xâm nhập thế gian, con người có quan hệ hết sức tốt đẹp, hòa thuận, bình an với mọi loài ĐCT sáng tạo. Với thiên nhiên, với các loài sinh động vật trên đất, dưới đất và dưới biển.
Quan hệ giữa A-đam và E-va hoàn toàn hòa thuận, không có gì dấu diếm với nhau, thuận hòa với nhau, hiệp mộr như Ba Ngôi ĐCT là một. Quan trọng hơn hết là quan hệ của con người với ĐCT hoàn toàn tốt đẹp: họ đi dạo với Chúa trong vường Ê-đen lúc trời mát!
Nhưng tội lỗi phá vỡ mọi quan hệ. Tội lỗi sinh ra nghi ngờ, che dấu, bất hòa, xung đột, rạn nứt, gãy vỡ, xa cách trong mọi quan hệ: thiên nhiên, sinh động vật, giữa con người, và hơn hết giữa con người và ĐCT. Giữa trời & người là một hố sâu ngăn cách bởi tội lỗi (cây cầu dẫn đến sự sống)
Nhưng ấy là vì tội lỗi của các ngươi đã làm cách biệt các ngươi với Ðức Chúa Trời; Những tội lỗi của các ngươi đã làm Ngài lánh mặt, để Ngài không nghe các ngươi nữa (Ê-sai 59:2) Vì mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất vinh hiển của Ðức Chúa Trời. (Rô-ma 3:23)
Hậu quả là ĐCT đuổi A-đam & E-va ra khỏi vườn Ê-đen. Đất sinh gai góc. Thú vật giết hại nhau để sống. Chiến tranh không ngừng giữa người và người: Ca-in & A-bên; Lê-méc và người trẻ tuổi làm ông thương tích. Lần đầu tiên đề cập đến các vua khi có chiến tranh giữa 4 vua ở gần đánh với 5 vua ở xa! (STK 14:1-9)
Chiến tranh, tội ác, giết hại người, thù hận, ghen ghét nhau vì đỗ vỡ trong quan hệ giữa con người. Tại sao ĐCJC lại cầu nguyện cho tình yêu thương và sự hiệp một? 1) Vì cần thiết, quan trọng; 2) Vì trong sức của mình, không ai có thể thực hiện được 2 điều này. Nhưng phải dựa vào sức lực của ĐTL.
KT dạy rõ rằng chỉ khi con người hòa giải cùng ĐCT thì mới có thể hòa giải với nhau.
CON NGƯỜI HÒA GIẢI VỚI ĐCT BẰNG CÁCH NÀO?
Mọi điều đó đến từ Đức Chúa Trời, Đấng đã cho chúng ta được hòa giải với Ngài qua Đấng Christ, và giao cho chúng tôi chức vụ hòa giải. Ấy là, trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã cho thế gian được hòa giải với Ngài, không kể tội lỗi cho loài người, và ủy thác cho chúng tôi sứ điệp hòa giải. (2 Cor 5:18-19)
Làm thế nào để chúng ta có thể đến với Thượng Đế, Đấng toàn thiện, toàn tri, toàn năng, Đấng tuyệt đối công bình đang khi chúng ta vẫn còn là những người có tội, đang khi chúng ta vẫn còn đang gây chiến với những người trong gia đình, trong xã hội? Khi tôi và quí vị vẫn còn đang gây chiến với những dục vọng, những ích kỷ, những gian dối của chính bản thân mình hàng ngày, hằng giờ?
Giữa Trời và người là một dòng sông mênh mông không thấy bến bờ. Đây là giòng sông ngăn cách loài người tội lỗi và Đức Chúa Trời toàn thiện. Không có công đức nào, việc làm từ thiện nào có thể đem loài người chúng ta qua con sông mênh mông đó để trở lại với Trời.
Giả sử qv cho người bạn mượn chiếc xe để chạy. Người đó gặp tai nạn, làm xe hư hại rất nhiều. Rồi người bạn lái chiếc xe móp méo, hư hại đó về nhà qv rồi gửi lại chìa khóa như hoàn toàn không có gì đã xảy ra. Qv nghĩ thế nào? Nếu không trả nổi tiền sửa xe thì ít nhất người đó cũng phải đến nhận lỗi và xin bỏ qua lỗi lầm gây thiệt hại đắt tiền đó.
Có một số người cũng nghĩ rằng: ĐCT phải có trách nhiệm phải tha thứ để cả 2 được hòa giải. Như Voltaire. Đây là một suy nghĩ hết sức sai lầm và nguy hiểm.
Con đường duy nhất, cây cầu nối duy nhất là ĐCJC. Chính bởi lý do này mà Chúa đã đến thế gian để chịu chết cho tội của con người, để trả giá của tội lỗi mà chúng ta phải trả, để hồi phục lại quan hệ của người và Trời. ĐCJC chính là câu cầu nối lại khoảng cách mênh mông của hố sâu tội lỗi giữa ĐCT và loài người. Chính ĐCT đã chủ động hòa giải chính Ngài với con người qua ĐCJC vì tình yêu thương, duy bởi lòng nhân từ và tình yêu thương.
Nhưng Đức Chúa Trời đã tỏ tình yêu thương Ngài đối với chúng ta khi chúng ta còn là tội nhân thì Chúa Cứu Thế đã chết thay cho chúng ta. (Rô-ma 5:8)
Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời. (Giăng 3:16)
Nhờ ân sủng Ngài ban, chúng ta không phải trả một giá nào, mà được xưng công chính, nhờ sự cứu chuộc đã thực hiện trong Ðức Chúa Jesus Christ. (Rô-ma 3:24)
Đây là một khác biệt quan trọng nhất, to lớn nhất của Đạo Chúa và tất cả các tôn giáo, triết lý khác. Các tôn giáo khác dạy rằng vì con người ý thức đã phạm tội cùng Trời nên phải tìm mọi cách, phải chủ động ăn hiền ở lành, làm việc công đức để được Trời chấp nhận. Nhưng Tin Lành, sứ điệp giải hòa dạy rằng chỉ có một con đường duy nhất do chính bởi ĐCT ban cho. Chính ĐCT đã tìm đến để cứu con người. KT cũng khẳng định giữa ĐCT và loài người chỉ có một câu cầu, một Đấng Trung Bảo để nối liền Trời và người, là ĐCJC. Ngoài Jesus không có một cây cầu, con đường, cách thức nào khác:
Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu. (CV 4:12)
Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. (Giăng 14:6)
Kinh Thánh giải thích rằng như chỉ có một Thượng Đế thì cũng chỉ có một Đấng Hòa Giải, Đấng Trung Bảo giữa Thượng Đế và loài người, là Chúa Cứu Thế Jê-sus. Ngài là cây cầu bắt ngang dòng sông mênh mông chia cách ĐCT và loài người. Chính Đức Chúa Jê-sus Christ là cây cầu nối lại những quan hệ đã đổ vỡ và là cây cầu duy nhất dẫn đến sự sống đời đời.
21 Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 5:21)
ĐCJC là cây cầu duy nhất, phương cách duy nhất để loài người, để tôi và qv được hòa giải với ĐCT. Như bài thánh ca Giáng Sinh quen thuộc: Kìa, thiên binh cùng vang tiếng hát, Chúc Thánh Đế mới sinh trên đất! Bình an ân trạch ban khắp cả, Chúa và người đôi bên thuận hòa.
Vậy Tin Lành, tin mừng về sự cứu rỗi qua ĐCJC chính là sứ điệp hòa giải giữa ĐCT và con người. Thập giá gồm 2 thanh theo 2 chiều, dọc và ngang. Chiều dọc nói lên sự giải hòa giữa ĐCT và con người. Chính bởi điều này mà mới có chiều ngang, nói lên sự hòa giải giữa vòng loài người.
CHỨC VỤ GIẢI HÒA
Vậy chúng tôi làm chức khâm sai của Đấng Christ, cũng như Đức Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhân danh Đấng Christ mà nài xin anh em: Hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời. (5:20)
Theo lời dạy của PL thì người tin Chúa là khâm sai, đại sứ hay sứ giả của ĐCT. Khâm sai là gì? Khâm sai là một từ xưa theo Hán ngữ có nghĩa là chức quan, hay người đại diện cho vua, được vua phái đi để làm một nhiệm vụ đặc biệt và quan trọng là đại diện không chỉ cho vua, mà còn cho cả đất nước, dân tộc. Bản dịch mới và 2011 thay từ khâm sai với từ đại sứ. Tức người được tổng thống hay thủ tướng phái sang nước người để đại diện cho đất nước. Khâm sai hay đại sứ là gương mặt, là tiếng nói của vua, của tổng thống, và của cả đất nước, dân tộc.
Không phải ai cũng được làm khâm sai hay đại sứ bởi vì đây là một chức quan hết sức quan trọng, đại diện cho vua, cho đất nước để hoàn thành một trách nhiệm khó và lớn. Người được vua phong chức khâm sai phải là người trung tín, nghĩa khí, can đảm, hiểu biết, và có tài ngoại giao. Đại sứ là người được tổng thống đề cử, quốc hội chấp thuận vì là người đại diện cho cả một quốc gia để giữ quan hệ ngoại giao với một quốc gia khác. Nếu làm khâm sai hay đại sứ cho Đấng Christ, thì chắc chắn người đó phải có lời Chúa, hiểu rõ lời Chúa, và dĩ nhiên phải có trái TL.
Đây là một chức vụ cao quí nhưng rất khó khăn. Chúng ta thử nghĩ về điều kiện của một khâm sai, đại sứ:
Hoàn toàn trung thành với vua, với đất nước.
Đại diện cho vua, cho quốc gia. Sống trong xứ người để nói về xứ mình. Sống trong xứ người để giúp cho dân trong xứ đó hiểu về những điều tốt đẹp của xứ mình. Nếu có bất hòa, xung đột, đại sứ là người tìm cách để hòa giải hai quốc gia, là nhịp cầu giữa 2 đất nước.
Người tín đồ phải là người đại diện đáng kính trọng cho ĐCT, cho nước Chúa. Sống nơi xứ người nhưng thuộc về xứ mình: sống trong thế gian nhưng quê hương thật là thiên đàng. Vua chúng ta đại diện là Đấng Christ chứ không phải của các thần trong thế gian này: thần vật chất, sắc đẹp…
Đáng tin cậy, khéo léo, cẩn thận trong lời nói, cách cư xử. Thông thạo ngôn ngữ xứ người. Hiểu biết phong tục, tập quán nhưng hơn hết phải hiểu biết rõ ý chí của vua phái đi và trách nhiệm trên vai.
Trách nhiệm đầu tiên và quan trọng nhất của người là khâm sai cho ĐCJC là giúp mọi người chưa nghe, biết Chúa được hòa giải với Ngài, có nghĩa là tin nhận Ngài là Cứu Chúa và Chủ của đời sống: Mọi điều đó đến bởi Đức Chúa Trời, Ngài đã làm cho chúng ta nhờ Đấng Christ mà được hòa thuận lại cùng Ngài, và đã giao chức vụ giảng hòa cho chúng ta. 19 Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi. (2 Cor 5:18-19)
5 lần trong đoạn KT này PL lập đi lập lại một từ qua nhiều cách hòa, hòa thuận, giảng hòa. Rất rõ là ý chính của đoạn KT này là sự hòa giải giữa ĐCT và con người. Động cơ thúc đẩy người đại diện cho ĐCT để rao truyền sứ điệp giải hòa là gì? Vì ý thức được tình yêu thương ĐCJC đã dành cho chúng ta: Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, 15 lại Ngài đã chết vì mọi người, hầu cho những kẻ còn sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đã chết và sống lại cho mình.
Chính vì ý thức được tình yêu thương này nên chúng ta vui lòng mà chia sẻ sứ điệp giải hòa cho mọi người. Vì nếu không ai chia sẻ thì làm thế nào người chưa biết Chúa có thể nghe sứ điệp giải hòa này:
Sẵn lòng ra đi, không phải đến những nơi xa xôi, hẽo lánh nhưng đầu tiên đến với những người gần nhất với chúng ta. 13Vì, “ai kêu cầu danh Chúa đều sẽ được cứu.” 14Nhưng họ chưa tin Ngài thì kêu cầu sao được? Chưa nghe nói về Ngài thì làm thể nào mà tin? Không có người rao giảng thì nghe cách nào? 15Nếu chẳng có ai được sai đi thì làm sao rao giảng? Như có lời chép: “Bàn chân của những người truyền rao Tin Lành thật xinh đẹp biết bao!” (Rô-ma 10:13-15)
Khâm sai phải hòa hợp với mọi người, vì lợi, vì danh của Chúa mà nhượng quyền lợi cá nhân. Chứ không khăn khăn giữ quyền lợi của riêng mình. Như PL dạy: Vả, tôi đối với ai vẫn cũng là được tự do, mà tôi đành phục mọi người, hầu cho tôi được nhiều người hơn. 20 Với người Giu-đa, tôi ở như một người Giu-đa, hầu được những người Giu-đa; với những người dưới quyền luật pháp, (dầu chính tôi chẳng ở dưới quyền luật pháp), tôi cũng ở như kẻ dưới quyền luật pháp, hầu được những người dưới quyền luật pháp; 21 với những người không luật pháp, (dầu đối với Đức Chúa Trời tôi không phải là không luật pháp, vì tôi ở dưới luật pháp của Đấng Christ), song tôi cũng ở như người không luật pháp. 22 Tôi ở yếu đuối với những người yếu đuối, hầu được những người yếu đuối; tôi đã trở nên mọi cách cho mọi người, để cứu chuộc được một vài người không cứ cách nào. 23 Mọi điều tôi làm, thì làm vì cớ Tin Lành, hầu cho tôi cũng có phần trong đó. (1 Cô-rinh-tô 9:19-23)
Người tin Chúa khác với người tin Phật, không thoát ly, tránh bụi trần nhưng phải nhập thế như ĐCJC đã nhập thế, dính bụi trần nhưng không để bụi trần làm dơ bẩn tâm linh, tính hạnh. Chính vì Chúa đã vào thế gian nên chúng ta mới được cứu. Vì Chúa đã bị từ chối nơi thành thánh dưới đất này nên chúng ta mới được nhận vào thành thánh trên trời. Vì ĐCJC xuống thế gian không phải để được phục vụ nên chúng ta mới có thể học theo gương Ngài mà phục vụ nơi đang sống.
ĐCJC đến từ nước Trời, từ thành thánh trên trời xuống nước người, sinh ra lớn lên trong một ngôi làng tầm thường tên Na-za-rét. Đây là hình ảnh của một người nhập thế: từ nơi vinh hiển, thánh khiết xuống nơi tối tăm, tội lỗi. Sau đó Chúa đến thành Giê-ru-sa-lem, tượng trưng cho thành thánh. Tại đó dân sự sĩ nhục, đánh đập Chúa. Rồi họ đem Chúa ra ngoài thành, đóng đinh trên thập giá đến chết.
