Chúa Yêu Cho Đến Cuối
Trước ngày lễ Vượt qua, Đức Chúa Jêsus biết giờ mình phải lìa thế gian đặng trở về cùng Đức Chúa Cha đến rồi; Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng.
2 Đương bữa ăn tối (ma quỉ đã để mưu phản Ngài vào lòng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt con trai Si-môn), 3 Đức Chúa Jêsus biết rằng Cha đã giao phó mọi sự trong tay mình, và mình đã từ Đức Chúa Trời đến, cũng sẽ về với Đức Chúa Trời, 4 nên đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ra, lấy khăn vấn ngang lưng mình. 5 Kế đó, Ngài đổ nước vào chậu, và rửa chân cho môn đồ, lại lấy khăn mình đã vấn mà lau chân cho. (Giăng 13:1-5)
Đêm nay chúng ta kỷ niệm sự thương khó của ĐCJC. Đây cũng là thời gian để chúng ta lắng lòng để suy gẫm về tình yêu thương quá lớn của Chúa cho chúng ta qua sự thương khó, hy sinh của Ngài.
Yêu thương và được yêu thương là hai điều mọi người đều mong được có trong đời. Không có ai để yêu và không được ai yêu thì đời sống này có ý nghĩa gì, có hy vọng gì? Từ khi sinh ra, đến tuổi trưởng thành cho đến lúc cuối đời, ai ai cũng đều mong mỏi được yêu thương và có người để chúng ta yêu thương. Không tình yêu thương đời sống này cô độc, trống vắng, lẽ loi đến chừng nào!
Không phải tình yêu thương nào trong đời này cũng như nhau. Hầu hết quan hệ và tình yêu thương hôm nay thường dựa theo một câu hỏi, một nguyên tắc kinh tế: quan hệ, tình cảm này có lợi gì cho tôi? Hầu hết quan hệ dựa theo sắc đẹp, phẩm hạnh, tài giỏi, thành đạt, sự sảng. Khi những điều này mất đi, quan hệ và tình yêu cũng tan biến.
Nhưng tình yêu thương chân thật luôn gắn liền với hy sinh. Trong cuộc đời này, không có một tình yêu thương thay đổi đời sống nào lại không đòi hỏi sự hy sinh cả. Và chúng ta cảm tạ, biết ơn Chúa vì tình yêu thương thay đổi đời sống của Ngài dành cho chúng ta, những người được cứu. Cảm tạ, biết ơn bởi vì tình yêu thương thay đổi đời sống đó đòi hỏi sự hy sinh to lớn của ĐCJC.
Qua đoạn KT đã đọc, chúng ta sẽ thấy tình yêu thương của ĐCJC dành cho các môn đồ và cho những ai tin nhận Ngài là tình yêu thay đổi đời sống, tình yêu thương đòi hỏi sự hy sinh của Ngài. Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng.
ĐẤNG RỬA CHÂN
Để có thể hiểu ý nghĩa và giá trị của tình yêu thương ĐCJC dành cho các môn đồ bày tỏ qua việc rửa chân, trước hết chúng ta suy nghĩ về Đấng rửa chân cho các môn đồ. Việc Chúa rửa chân cho các môn đồ là một điều vô cùng bất ngờ, ngạc nhiên. Tại sao? Bởi vì việc rửa chân là việc của người đầy tớ, người nô lệ thấp hèn hơn hết. Thời đó mọi người, dù là người giàu có hay vua chúa đều đi dép hay giầy không kín chân. Đường không trán nhựa nhưng đầy bụi đất nên chân rất dơ dái. Khi đến nhà một người dự tiệc thì việc đầu tiên chủ nhà làm là sai đầy tớ rửa chân cho khách. Người đầy tớ rửa chân cho khách không phải thuộc hàng tớ “cao cấp” nhưng thấp hèn nhất. Nhưng chính Chúa lại rửa chân cho các môn đồ. Nhưng ai thật sự là người rửa chân cho các môn đồ? Ngài thật là ai?
- Ni-cô-đem gọi ĐCJC là thầy, giáo sư đến từ ĐCT, xác nhận những phép lạ Chúa thực hiện thầy là giáo sư từ Đức Chúa Trời đến; vì những phép lạ thầy đã làm đó, nếu Đức Chúa Trời chẳng ở cùng, thì không ai làm được (Giăng 3:2).
- Đoàn dân Chúa nhật khi Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem: Hô-sa-na! Chúc phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến, là Vua của Y-sơ-ra-ên! (Giăng 12:13)
Các môn đồ gọi Ngài là thầy, rabbi
Lời tự nhận trực tiếp là ĐCT:
Giăng 8:58 Chúa nói: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta. Ta là; Ta là là danh xưng của ĐCT trong KTCU khi Mô-se hỏi tên ĐCT là gì, Ngài trả lời Ta Là. 59 Bấy giờ chúng lấy đá đặng quăng vào Ngài. Cũng trong Giăng 8, ĐCJC nói ai biết ta là biết Cha Nếu các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta nữa. (8:19). Giăng 12 ai thấy ta, thấy Cha. Mác 9: ai đón nhận ta là đón nhận Cha.
Ngài phán cùng họ rằng: Cha ta làm việc cho đến bây giờ, ta đây cũng làm việc như vậy. 18 Bởi cớ đó, dân Giu-đa càng kiếm cách nữa để giết Ngài, chẳng những vì Ngài phạm ngày Sa-bát thôi, mà lại vì Ngài gọi Đức Chúa Trời là Thân Phụ mình, làm ra mình bằng Đức Chúa Trời. (Giăng 5:18)
Người Giu-đa trả lời rằng: Ấy chẳng phải vì một việc lành mà chúng ta ném đá ngươi, nhưng vì lỗi lộng ngôn: Ngươi là người, mà tự xưng là Đức Chúa Trời. (Giăng 10:33)
Bên cạnh những lời tự nhận trực tiếp Ngài là ĐCT, ĐCJC còn gián tiếp xác nhận qua 4 điều này. 1. Chúa nhận Ngài có thẩm quyền để tha thứ tội. Qv nghĩ thế nào nếu hai tín đồ phạm lỗi, phạm tội cùng nhau, và MS đến nói với cả hai: tôi tha thứ cho qv! Thật chướng tai và lộng ngôn, phải không qv? Ai cho MS có quyền để tha tội cho chúng tôi. Thật vậy chỉ có ĐCT mới có quyền tha tội cho chúng ta. ĐCJC tự nhận quyền này. Đức Chúa Jêsus thấy đức tin họ, bèn phán cùng kẻ bại rằng: Hỡi con ta, tội lỗi ngươi đã được tha. 6 Vả, có mấy thầy thông giáo ngồi đó, nghĩ thầm rằng: 7 Sao người nầy nói như vậy? Người nói phạm thượng đó! Ngoài một mình Đức Chúa Trời, còn có ai tha tội được chăng? (Mác 2:5-6)
2. Chúa không chỉ nói Ngài có quyền tha tội nhưng Ngài còn có quyền ban cho sự sống đời đời. phàm ai nhìn Con và tin Con, thì được sự sống đời đời; còn ta, ta sẽ làm cho kẻ ấy sống lại nơi ngày sau rốt. (Giăng 6:40)
3. Chúa nói Ngài sẽ phán xét cả thế gian (Ma-thi-ơ 25).
4. Chúa chấp nhận sự thờ lạy chỉ dành cho ĐCT. Trong KT, như trong KH 22, mỗi khi thiên sứ hiện đến và con người muốn thờ lạy thì thiên sứ đều phán: đừng thờ lạy ta! Nhưng mỗi khi có người thờ lạy ĐCJC thì Chúa nói: hãy ở đó!
Một người có thân vị cao trọng như vậy lẽ ra phải được các môn đồ rửa chân. Trái lại Ngài rửa chân cho họ. Nhưng chúng ta không kính trọng, ngưỡng mộ, tôn trọng một người có thân vị cao trọng nhưng còn tùy theo phẩm hạnh của người đó.
Hành động, cách cư xử, thái độ, lời nói của ĐCJC với mọi người hoàn toàn tương phản với thân vị cao trọng, với những lời tự xưng có một không hai rằng Ta chính là ĐCT.
Chúa giao tiếp với mọi người bần hèn nhất trong xã hội, chửa bệnh cho mọi người Chúa gặp, tha thứ cho người có tội: người phung cùi, người bệnh xuất huyết, người bệnh tật (đui mù, tật nguyền…); ăn uống với người thu thuế, người Pha-ri-si; đụng chạm đến người phung cùi.
Trong thời đó, người Pha-ra-si thường cầu nguyện mỗi sáng: Tôi cảm tạ ĐCT vì tôi không phải là người ngoại, người nô lệ hay người phụ nữ. ĐCJC của chúng ta giao tiếp, giúp đở, chửa bệnh, bày tỏ lòng nhân từ, tình yêu thương, sự tha thứ cho cả loại người này.
Trong tất cả các cuộc gặp gỡ với người ngoại và phụ nữ, không một lần, dù chỉ một lần, Chúa có lời chê bai, khinh khi, mai mỉa, xem thường họ. Với người phụ nữ Sa-ma-ri, một giống người mà dân DT khinh thường, không hề giao tiếp, có 5 đời chồng và đang ở với một người không phải là chồng, Chúa kiên nhẫn giải thích cho bà về sự thờ phượng thật. Đây chính là lý do mà đến những giờ phút cuối đời của Chúa trên thập giá, những người phụ nữ vẫn trung tín hiện diện dưới chân thập giá với Ngài.
ĐCJC không có một cái khuôn cứng nhắc khi đối xử với mọi người. Nhưng Ngài đối xử với mọi người tùy theo nhu cầu, hoàn cảnh, nan đề của họ.
Đây là những từ có thể nói về ĐCJC: Mềm mại, dịu dàng, tế nhị, khiêm tốn, nhân từ, cảm thông, thương xót, tha thứ, hồi phục
Một tác giả viết về Chúa như sau: Trong ĐCJC, chúng ta nhận thấy sự dịu dàng nhưng không yếu đuối, can đảm nhưng không khắc nghiệt, khiêm nhường nhưng không giao động; sự tự tin cao chót vót với niềm tin không gì lay chuyển, nhưng hoàn toàn gần gũi, cảm thông; luôn nói sự thật nhưng trong tình yêu; đầy quyền năng nhưng không hề vô cảm; chính trực nhưng không khe khắc; nhiệt thành nhưng không thành kiến.
NHỮNG KẺ THUỘC VỀ NGÀI
Đấng yêu thương các môn đồ cho đến cuối cùng có một thân vị cao trọng: Ngài chính là Ngôi Hai ĐCT, Đấng tha thứ, cứu chuộc và đắc thắng sự chết, Đấng sẽ ngự trên ngôi cao để phán xét mọi người. Ngài từ nơi vô cùng cao trọng hạ mình xuống nơi thấp hèn nhất để bày tỏ tình yêu thương.
Không chỉ vậy ĐCJC rửa chân cho các môn đồ giữa lúc Ngài biết mình sẽ bị phản bội, bị chối bỏ, bị lìa bỏ, bị bắt, bị xử, bị tra tấn, bị nhổ vào mặt, bị sỉ nhục, bị chế diễu, mắng nhiếc, bị Cha từ bỏ, rồi bị đóng đinh cho đến chết trên thập giá. Chúa yêu thương, rửa chân cho các môn đồ ngay khi Ngài đang mang chịu những khổ đau mà tất cả chúng ta không thể nào hiểu hết được.
Khi chúng ta đang trong cơn đau, chúng ta chỉ nghĩ về mình và làm thế nào để thoát khỏi cơn đau đớn. Đừng hỏi một người đang đau răng hay đau ruột thừa giúp bạn! Đừng hỏi một người đang đau khổ vì mất người thân yêu giúp bạn! Sự đau đớn khiến chúng ta không còn nghĩ được điều gì khác ngoài nỗi đau.
Nhưng ĐCJC yêu thương, rửa chân cho các môn đồ, Chúa nghĩ về họ, về nhu cầu của họ đang khi Ngài mang những nỗi đau đớn vô cùng. Đến nỗi chỉ vài tiếng sau đó, khi cầu nguyện xin ĐCT cất chén đắng khỏi Ngài trong vườn Ghết-sê-ma-nê Chúa đổ mồ hôi hòa với máu vì quá căng thẳng, quá đau khổ.
Thường thì chúng ta an ủi người khác khi chúng ta bình yên. Khi đau khổ, rất khó nghĩ đến ai khác ngoài mình. Khi dư dả, dễ cho chúng ta dâng hiến. Khi thiếu thốn, ai nghĩ đến việc dâng hiến? Con người tự nhiên của chúng ta là đặt nhu cầu, quyền lợi của chính mình lên hàng đầu, nhất là khi khó khăn, thiếu thốn, khi đau khổ, mất mát. ĐCJC không như vậy. Dù đang khi đau khổ, mất mát, Chúa vẫn yêu thương các môn đồ và những kẻ thuộc về Ngài trong thế gian, vẫn rửa chân cho họ.
Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng. Ai là kẻ thuộc về Ngài trong thế gian? 12 môn đồ hiện diện với Ngài trong buổi ăn cuối; 12 người được Chúa rửa chân. Họ là ai? Chúng ta chú ý câu 2: 2 Đương bữa ăn tối ma quỉ đã để mưu phản Ngài vào lòng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt con trai Si-môn.
Giăng muốn chúng ta hiểu rõ rằng ĐCJC cũng rửa chân cho chính kẻ sẽ phản bội, bán Ngài với 30 miếng bạc, kẻ dẫn quân lính La-mã đến bắt và giết Ngài. Cả 4 sách PA không hề nói rằng khi đến bàn chân của Giu-đa Ít, ĐCJC nói: Không, không thể là ngươi. Ta biết bàn chân ngươi sẽ dẫn lính đến bắt để giết Ta. Không, Ta không rửa chân cho người bởi vì bàn chân ngươi là bàn chân của kẻ phản bội, kẻ giả hình, hai mặt.
Nhưng ĐCJC rửa chân cho cả Giu-đa Ít. Và cho ai nửa? Cho cả Phi-e-rơ là người sẽ chối không biết Chúa là ai. Cho cả 10 người còn lại dùng chính hai bàn chân của họ để chạy trốn, lìa bỏ thầy mình khi người bị bắt. 12 bàn chân này không chỉ dơ bẩn vì bụi đất nhưng còn dơ bẩn vì tội của họ sẽ phạm cùng chính Đấng rửa chân cho họ. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết. (Rô-ma 5:8). Không chỉ là người có tội nhưng còn là người thù nghịch cùng Ngài.
Như tôi đã giải thích rất khó yêu thương ai khi đau khổ. Nhưng còn khó hơn nữa để yêu thương những người phản bội, lìa bỏ, làm ngơ không nhận khi hữu sự. Ai muốn có những người bạn như vậy? Ai có thể yêu thương những người bạn trở mặt, hèn nhát bội phản, lìa bỏ, xa lánh khi chúng ta trong cơn hoạn nạn?
Quan hệ, tình cảm hôm nay thường là khi còn lợi thì giữ, khi không còn lợi thì bỏ. Nhưng Giăng viết: Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng. ĐCJC yêu thương, rửa chân cho các môn đồ mặc dù họ là những người không ra gì, những người sẽ phạm tội cùng Ngài. Chúa không yêu thương họ vì họ vâng giữ mọi lề luật, vì họ là người công chính, đạo đức trọn vẹn. Chúa đã yêu thì Ngài cứ yêu cho đến cuối cùng. Câu KT này không hề cho biết lý do gì ĐCJC yêu thương họ.
Lý do gì ĐCT chọn dân Y-sơ-ra-ên? Trong PT 7, ĐCT giải thích lý do Ngài chọn họ không phải vì họ đông hơn các dân, đạo đức hơn các dân, tài giỏi hơn các dân: Đức Giê-hô-va tríu mến và chọn lấy các ngươi, chẳng phải vì các ngươi đông hơn mọi dân khác đâu; thật số các ngươi là ít hơn những dân khác. 8 Nhưng ấy vì Đức Giê-hô-va thương yêu các ngươi (PT 7:7-8). Tại sao Chúa chọn họ? Bởi vì Chúa yêu thương họ. Tại sao ĐCT yêu thương họ? Bởi vì Chúa yêu thương họ! Không phải vì một lý do nào khác. Tại sao ĐCJC yêu thương các môn đồ và những kẻ thuộc về Ngài trong thế gian? Bởi vì Chúa yêu thương các môn đồ và những kẻ thuộc về Ngài trong thế gian. Vì Chúa đã yêu thương các môn đồ từ lúc đầu nên Ngài yêu thương họ cho đến cuối. Chúa đã yêu thì Ngài cứ yêu cho đến cuối cùng. Đây là một tình yêu thương hoàn toàn không điều kiện.
Chúa yêu thương qv và tôi không phải vì chúng ta toàn thiện hay thánh khiết nhưng bởi vì chính Ngài toàn thiện, thánh khiết. Chúa yêu thương qv và tôi không phải vì chúng ta thành tín, nhưng vì chính Ngài thành tín. Tình yêu thương của ĐCJC cho các môn đồ và cho những kẻ thuộc về Ngài trong thế gian hoàn toàn không hề tùy thuộc vào sự công chính của họ, nhưng hoàn toàn tùy thuộc vào sự công chính của Chúa. Dù biết các môn đồ sẽ lìa bỏ, sẽ làm tổn thương, Chúa đã yêu Ngài cứ yêu cho đến cuối cùng.
Nhưng chính bởi tình yêu thương bao la, không điều kiện này cảm động và thay đổi hoàn toàn cuộc đời của các môn đồ, ngoại trừ Giu-đa Ít. 11 bàn chân của những người lìa bỏ Chúa, được Ngài rửa sẽ trở nên 11 bàn chân đem Tin Lành về tình yêu thương và sự cứu chuộc này đến đầu cùng trái đất.
Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng. Sứ đồ PL giải thích rõ hơn về tình yêu thương không điều kiện, không thay đổi này: Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn, khốn cùng, bắt bớ, đói khát, trần truồng, nguy hiểm, hay là gươm giáo không? 38Vì tôi đoan chắc rằng dù sự chết, sự sống, các thiên sứ, các bậc cầm quyền, việc hiện tại, việc tương lai, các quyền lực, 39chiều cao, chiều sâu, hoặc một tạo vật nào cũng không thể phân rẽ chúng ta khỏi tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Jêsus, Chúa chúng ta. (Rô-ma 8:35-39)
