Chúa Hy Vọng, Chúa Bình An
Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an. Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm măi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời. Thật, lòng sốt sắng của Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ làm nên sự ấy! (Ê-sai 9:5-6)
HY VỌNG - NHÌN QUA HIỆN TẠI
Trong một quyển sách nổi tiếng trong văn học Tây Phương là The Inferno, tác giả Dante tả về địa ngục và sự đau khổ trong địa ngục. Trên cửa vào địa ngục có tấm bản lớn với dòng chữ Abandon all hope ye who enter here – Hãy từ bỏ tất cả hy vọng cho kẻ qua cổng (địa ngục) này. Ý tác giả rõ ràng rằng địa ngục là một nơi hoàn toàn không còn hy vọng. Chúng ta cũng có thể nói: Không hy vọng, đời sống này là một địa ngục. Có câu gì sầu thảm hơn trong chiến trận lúc sắp thua cuộc, khi công việc thu lỗ, lúc nằm trên giường bệnh hơn là câu Không còn hy vọng gì nữa!
Một câu chuyện kể về tàu ngầm S-4 của HK (Dec 17, 1927). Đang khi trồi lên mặt nước thì bị đụng vào một tàu chiến hải quân khác. Cả đoàn thủy thủ gồm 6 người đều bị kẹt trong chiếc tàu ngầm, không thoát ra được. Mọi cố gắng đầu tiên để giải cứu đều không thành phố vì thời tiết xấu và lạnh. Đến lúc cuối phải gởi người lặn xuống với hy vọng cứu. Người lặn và 6 thủy thủ trao đổi tin tức với nhau bằng cách gõ vào vách của thành tàu. Người lặn đặt tai vào vách thành tàu và nghe tiếng gõ theo lối Morse code Is… there… any… hope? Còn… hy… vọng.. .gì… không?
Ê-sai là tiên tri của xứ Giu-đa tức vùng phía nam của xứ Do Thái với thủ đô là Giê-ru-sa-lem. Phía bắc lúc bấy giờ thuộc về xứ Y-sơ-ra-ên với thủ đô là Sa-ma-ri. Khi tiên tri Ê-sai viết những lời về một con trẻ sẽ sanh ra và được gọi với nhiều danh xưng lạ lùng Đấng Lạ Lùng, Đấng Mưu Luận, là ĐCT quyền năng, là Cha đời đời, là Chúa bình an thì đất nước ông đang sống trong tình trạng âu lo, thậm chí tuyệt vọng trước sự đe dọa tấn công của 3 nước khác: Sy-ria, Y-sơ-ra-ên, và A-sa-ri. Từ đoạn 7-12 Ê-sai viết về 3 nguy hiểm này của quốc gia Giu-đa, đặc biệt là với giặc A-sa-ri. Tình trạng này có thể được tạm ví như trong thời vua Trần bị giặc Mông Cổ đe dọa xâm chiếm VN sau khi đã chinh phục cả các nước chung quanh.
Y-sơ-ra-ên cùng là một dân tộc với xứ Giu-đa (2 miền Bắc, Nam) nhưng lại đi kết hợp cùng nước ngoài để dự tính xâm chiếm Giu-đa. Còn A-sa-ri là một đế quốc đang bành trướng. Cũng chính trong thời Ê-sai làm tiên tri xứ Y-sơ-ra-ên đã bị chiếm đoạt bởi giặc A-sa-ri (722 BC). Và ngay trong sách Ê-sai đoạn 37 khi lại việc giặc A-sa-ri vây hãm thành Giê-ru-sa-lem. Dân sự bấy giờ cũng như các thủy thủ tàu hỏi lẫn nhau: Còn hy vọng gì không?
Nếu có hy vọng gì thì đó là một vị vua cứu tinh, tài giỏi, mưu mô, thủ đoạn, cương quyết để giải cứu dân trong xứ trước giặc ngoại xâm. Nhưng Đấng Mưu Luận, Đấng Lạ Lùng làm cho nước bền vững này không phải nói về một vị cứu tinh của nguy hiểm trước mắt! Chắc quí vị còn nhớ cuộc bầu cử tổng thống năm 2008, ứng cử viên Obama lúc bấy giờ tranh cử với khẩu hiệu Hope, Hy Vọng.
Dân sự trong sách Ê-sai làm gì trước viễn ảnh đen tối vì giặc thù sẽ xâm chiếm đất nước?
Một cách khác khi phải đối diện với thực tế nguy hiểm này thì hoặc làm ngơ, hoặc cứ lưu luyến về quá khứ. Làm ngơ cũng như Giô-na ngủ say dù sóng gió bên ngoài muốn chìm chiếc tàu. Hay lưu luyến, mơ tưởng về quá khứ để chạy trốn hiện tại. Hễ càng lớn tuổi bao nhiêu thì chúng ta càng dễ vướng vào cái bẩy rập này. Nhớ nhung, vấn vương, lưu luyến, tiếc nuối về quá khứ vàng son, về những ngày xưa thân ái! Có thể chúng ta có thể tìm được chúc nào yên ủi vào quá khứ, nhưng sẽ chẳng giúp ích gì bao nhiêu. Đây là điều mà dân sự thường làm sau khi thoát khỏi vòng nô lệ của xứ Ai-cập đến vùng đất hứa Chúa ban. Mỗi khi gặp khó khăn, thử thách, họ làm gì? Họ ta thán, trách móc, rồi nghĩ về quá khứ, về nồi thịt, về hành tỏi!
Một cách theo Ê-sai đoạn 8 cho biết vì muốn tìm hy vọng nên một số dân sự đề nghị đi hỏi các thầy bói, đồng bóng để có thể biết tương lai sẽ thế nào! Điều này cũng không lạ gì. Khi tuyệt vọng người ta tìm đủ mọi phương cách để giải thoát.
Tuy nhiên cách thức này của dân sự Giu-đa bấy giờ cũng nói lên một điều chung cho tất cả mọi người tìm hy vọng trong đời sống: Phải nhìn suốt qua hiện tại vào tương lai. Khi hiện tại chẳng có gì ngoài khó khăn, mất mát thì dù phải chú tâm vào hiện tại để giải quyết vấn đề nhưng tựu trung cũng để hướng về một tương lai tốt đẹp, tươi sáng hơn. Chính vì lý do này mà bình an, hy vọng và tương lai gắn bó với nhau cách mật thiết. Không có tương lai, thì không có hy vọng. Nhưng nếu tương lai mờ mịt thì làm sao có được hy vọng, bình an? Vậy nên chủ đề Giáng Sinh năm nay gồm ba điều này: bình an, hy vọng, tương lai; và ngày mai quí vị sẽ có dịp nghe lời Chúa về tương lai. Không phải tương lai nào cũng đều có một giá trị như nhau.
Ê-sai Nhìn Vào Một Tương Lai Đời Đời Khi Vua Jêsus Cai Trị
Có phải đoạn Ê-sai 9:5-6 viết về một tướng lạ lùng, tài giỏi sẽ giải cứu dân sự trước giặc thù không? Câu trả lời là không. Mặc dù ĐCT giải cứu xứ Giu-đa khỏi giặc A-si-ri nhưng không bởi Đấng Mưu Luận, Lạ Lùng này. Vậy đoạn KT này nói về một đấng lạ lùng từ trời sẽ đến thế gian trong tương lai: Đấng đó là ĐCJC.
Một số quí vị sẽ hỏi tiếp. Nhưng ĐCJC đâu có quyền cai trị gì khi Ngài sống trên đất như lời Ê-sai: quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài… Quyền cai trị và sự bình an của Ngài cứ thêm măi không thôi, ở trên ngôi Đa-vít và trên nước Ngài, đặng làm cho nước bền vững, và lập lên trong sự chánh trực công bình, từ nay cho đến đời đời. Vậy sao có thể nói rằng con trẻ Ê-sai viết là về Jêsus Christ?
Ê-sai không chỉ viết về sự giáng sinh của ĐCJC nhưng hơn hết ông viết về sự trở lại lần thứ hai. Lúc đó Jêsus không còn là đấng chuộc tội sinh ra trong máng cỏ, chịu chết trên thập tự giữa hai tên trộm cướp. Lúc đó Ngài sẽ đến thế gian này như một vị vua và sẽ cai trị với sự công bình, chính trực, và đem bình an thật sự đến cho cả muôn dân trên đất. Qua sự khải thị của ĐTL, Ê-sai nhìn thấu qua sự đe dọa của quân thù với nước ông, nhìn vào tương lai của Con Trời giáng thế làm người, nhìn cả đến thời kỳ Đấng Christ trở lại thế gian này lần thứ hai và cai trị trên đất với sự công bình, chính trực. Và ông cũng nói về một vị vua sẽ cai trị đời đời trên nước thiên đàng.
Chúng ta hỏi tại sao?
Hy Vọng Vào Đời Này Chỉ Ngắn Hạn, Tạm Thời
Dù ĐCT bảo vệ dân sự khỏi giặc Syria & Ysơraên và khỏi sự bao vây của giặc A-sa-ri. Nhưng cuối cùng xứ Giu-đa cũng mất bởi một đế quốc khác là Ba-by-lôn khoảng 100 năm sau đó. Thành Giê-ru-sa-lem bị vây hãm. Dân chúng đói khổ đến nỗi phải ăn thịt người chết.
Dù chúng ta cần hy vọng vào thay đổi trong tương lai, nhưng mọi thay đổi trong cuộc đời này đều cũng chỉ có giới hạn và không lâu dài. Người mạnh khỏe rồi sẽ trở bệnh. Bệnh rồi vào bệnh viện để điều trị khỏe lại. Nhưng rồi với thời gian, tuổi tác sẽ làm cho mọi người già yếu, bệnh hoạn. Chu kỳ của cuộc đời này là vậy: khóc lúc ra đời, cười vui khi thơ ấu, lại buồn lo khi trưởng thành, ra đời, lại vui cười khi thành đạt rồi lại than khóc khi già nua, bệnh hoạn, rồi qua đời. Có hy vọng nào vào cuộc đời này mà vĩnh viễn?
Vậy hy vọng là tiếp tục hướng về nơi đời đời đó đang khi sống trong cái thế giới đầy bất an này. [Nếu bình an ban cho chúng ta sự vững lòng, nghị lực để chịu đựng và tiếp tục dù trong cảnh ngộ nào của cuộc sống, thì hy vọng là nguồn năng lượng của nghị lực đó. ]
HY VỌNG TRONG CHÚA
Gắn liền với thực tế
Nhưng có phải hy vọng vào ĐCT, vào thiên đàng chỉ là một cách để chạy trốn hiện tại, chạy trốn thực tế đầy khó khăn của đời sống? Hay vì thiên đàng là hy vọng nên trên đất này chúng ta nên làm gì cả. Dĩ nhiên là không. Bao nhiêu người theo Chúa hướng hy vọng về cuộc sống đời sau, về thiên đàng lại là những người hữu dụng nhất cho đời. Bởi vì phẩm hạnh người tin Chúa được trao luyện, thay đổi bởi những việc trên đất này. Bởi vì sự chuẩn bị cho đời sống vĩnh cửu trên thiên đàng được chuẩn bị qua đời sống hiện tại.
CS Lewis viết: Hướng về Trời và bạn sẽ được thế giới này thêm vào; hướng về đời này và bạn sẽ được gì cả. Đây cũng chỉ là việc tự nhiên. Sức khỏe là một ơn phước, nhưng khi sức khỏe là chủ tâm cho đời sống thì người đó sẽ trở nên sợ sệt đủ điều khiến họ bịnh. Chúng ta sẽ có sức khỏe tốt hơn nếu chú ý về những điều khác như thức ăn, làm việc, giải trí, thể dục. Thức ăn cần thiết cho đời sống nhưng nếu một người lúc nào cũng nghĩ đến thức ăn là người có vấn đề.
Hy vọng trong Chúa không tách rời chúng ta khỏi thực tế của cuộc sống này. Trái lại chính vì hy vọng trong Chúa mà chúng ta sống hết lòng, hết sức. Những người giáo sĩ không chỉ giảng Tin Lành nhưng họ lập trường học, bệnh viện, lập các cô nhi viện. Dù các nước Tây Phương mang tội buôn bán nô lệ cũng như mọi nước khác trên thế giới này nhưng chính người tin Chúa là William Wilberforce đã dành suốt cuộc đời để đấu tranh buộc chính quyền Anh Quốc phải bải bỏ điều độc ác, vô nhân này.
Nhận Thức Rõ Về Đau Khổ của Đời
Năm nay ban phụ nữ học KT theo sách Ru-tơ. Sách bắt đầu với câu chuyện của bà Na-ô-mi, một phụ nữ vì nạn đói nên phải cùng chồng và hai con trai bỏ xứ ra đi để tìm sống nơi xứ người. Ở đó, chồng chết. Hai con trai sau khi lập gia đình rồi cũng qua đời, để lại cho bà hai bàn tay trắng với hai con dâu. Chương đầu của sách đầy nước mắt (đến nỗi trong kỳ đố KT tuần qua có câu hỏi về điều này!). Rồi bà trở về quê hương cùng con dâu mình là Ru-tơ. Những người phụ nữ trong thành hỏi thăm bà và gọi tên bà. Na-ô-mi có nghĩa là ngọt ngào. Bà cay đắng nói rằng: Chớ gọi tôi là Na-ô-mi, hăy gọi là Ma-ra,(có nghĩa là cay đắng) vì Đấng Toàn năng đă đăi tôi cách cay đắng lắm. Tôi đi ra được đầy dẫy, nhưng Đức Giê-hô-va dắt tôi về tay không. Đức Giê-hô-va đă giáng họa cho tôi, và Đấng Toàn năng khiến tôi bị khốn khổ, vậy còn gọi tôi là Na-ô-mi làm chi? (Ru-tơ 1:20-21).
Hãy lắng nghe một lời viết khác của tiên tri Giê-rê-mi: Đáng rủa cho cái ngày mà tôi đă sinh! Nguyền cho cái ngày mà mẹ tôi đẻ tôi ra đừng được phước! Đáng rủa thay là người đem tin cho cha tôi rằng: Ngươi đă sanh con trai! làm cho cha tôi đầy sự vui mừng. Nguyền cho người đó cũng như các thành mà Đức Giê-hô-va đă phá đổ chẳng phàn nàn! Nguyền cho nó vừa lúc ban mai nghe kêu la, đến trưa nghe kêu lớn tiếng; vì đă chẳng giết tôi từ trong lòng mẹ; thì mẹ tôi đă làm mồ mả tôi, và thai lớn luôn luôn. Sao tôi đă ra khỏi thai để chịu cực khổ lo buồn, cả đời mang sỉ nhục?(20:14-17) Chúng ta có thể hỏi làm sao tiên tri của ĐCT có thể nói những lời cay đắng đến như vầy. Hay như lời viết của Mô-se trong TT 90:10 - Tuổi tác của chúng tôi đến được bảy mươi, Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi; Song sự kiêu căng của nó bất quá là lao khổ và buồn thảm, Vì đời sống chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi. Rõ rằng đây không phải là lời hy vọng, tự tin, lạc quan.
Phải chăng Na-ô-mi, Giê-rê-mi, Mô-se không có lúc cảm thấy gánh nặng của cuộc đời này, gánh nặng từ sự mất mát quá lớn, từ những khổ đau trong đời này? Đến nỗi họ phải thốt ra những lời ta thán như tuyệt vọng, những lời cay đắng không thích hợp với người thánh của ĐCT? Nhưng cũng không thể nói rằng họ không có hy vọng trong Chúa.
Hai nhà tâm lý gia Joanna Starek và Caroline Keating nghiên cứu về sự tự tin và lạc quan của những lực sĩ bơi lội cho giải thế vận hội (Olympic). Họ nhận thấy rằng tất cả các lực sĩ này đều loại ra trong trí họ tất cả những sự kiện có thể làm cho họ thua cuộc, như có thể bị thương hay bị thua cuộc. Họ luôn nghĩ rằng chắc chắn họ sẽ là người thắng cuộc. Một lực sĩ điền kinh (track and field) tranh giải New York’s National Track and Field Hall of Fame tuyên bố: Chúng tôi tin rằng chúng tôi không thể nào thua cuộc. Bởi vì nếu vào cuộc đua mà có ý nghĩ nào khác ngoài sự thắng cuộc, thì không có cơ hội nào để có thể thắng cả. Hy vọng của người tin Chúa cũng có sự tin tưởng và lạc quan giống như các lực sĩ, nhưng khác biệt rất nhiều trong nhiều khía cạnh khác.
Hy vọng và sự tự tin vào Chúa của người Cơ Đốc không tùy thuộc vào việc loại ra tất cả thật tế của cuộc đời gồm cả vui buồn lẫn than khóc, ơn phước lẫn bất hạnh, được nhận lẫn bị mất. Na-ô-mi, Giê-rê-mi, Mô-se và biết bao nhiêu nhân vật khác trong KT đều có lúc nghĩ rằng họ không thể tiếp tục mà muốn bỏ cuộc.
Hy vọng của chúng ta cũng không dựa vào ý nghĩ rằng chúng tôi là những người không thể nào thua cuộc, nhưng dựa vào đức tin trong Chúa, vào sức Chúa ban cho mồi ngày trong đời sống. Chúng ta xin Chúa cho đủ sức lực mỗi ngày như xin cho đồ ăn hằng ngày. Xin Ngài cho nghị lực, can đảm để tiếp tục tin tưởng, hy vọng.
Hy vọng của chúng ta cũng không dựa vào khả năng, bản lĩnh của cá nhân nhưng vào sự ban cho của Chúa và vào quan hệ với người thân yêu Chúa.
Có hy vọng nào vào thế gian này lại rồi không có lúc thất vọng? Có hy vọng nào vào con người lại không có lúc thất vọng? Chính vì lý do này nên dù hy vọng của người tin Chúa phải dựa vào Chúa và dù chân đi trên đất nhưng lòng luôn hướng về nước Trời đời đời.
Chúng ta hy vọng vì:
Không bước đi trong cuộc đời này một mình. Chúa luôn đi cùng như lời ĐCJC hứa Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.
Vì biết rằng ĐCT có một chương trình, dự tính tốt đẹp cho đời sống chúng ta. Cũng chính tiên tri Giê-rê-mi, người rủa xả ngày mình sinh ra đời, viết Đức Giê-hô-va phán: Vì ta biết ư tưởng ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ư tưởng bình an, không phải tai họa, để cho các ngươi được sự trông cậy trong lúc cuối cùng của mình.(29:11)
Hơn hết chúng ta biết chắc về tình yêu thương của Chúa dành cho chúng ta. Phao-lô viết những lời hết sức cảm động và sâu sắc cho HT Rô-ma: Trái lại, trong mọi sự đó (khó khăn, nguy hiểm) chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đă chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Chúa chúng ta.(8:37-39)
Phao-lô cầu nguyện cho tín đồ Rô-ma: Cầu xin Đức Chúa Trời là nguồn hy vọng ban cho anh chị em đầy dẫy mọi sự vui mừng và bình an khi anh chị em tin cậy nơi Ngài, đến nỗi anh chị em đầy tràn niềm hy vọng bởi quyền năng Đức Thánh Linh (Rô-ma 15:13 – BDM)
