Cám Dỗ và Sa Ngã Đầu Tiên
Loạt bài về những nhân vật trong KT. Tại sao lại nhân vật? Hai lý do: 1) trong tất cả sự sáng tạo của ĐCT con người được tạo dựng trong hình của ĐCT. Đây là 1 ý vô cùng quan trọng; 2) Chính con người sa ngã trước sự lừa dối của ma quỉ, nhưng sau đó ĐCT lại dùng con người tội lỗi để thực hiện chương trình cứu rỗi của Ngài. Chương trình cứu rỗi đúc kết cuối cùng qua ĐCJC
Tuần qua tôi đã giải thích về kẻ thù nghịch chính trong cuộc chiến tranh tâm linh này, tức là Sa-tan và thuộc hạ của nó mà chúng ta gọi là ma quỉ. Sách cuối KT là KH cho biết Sa-tan cũng chính là con rắn ngày xưa đã cám dỗ A-đam & E-va phạm tội: Con rồng lớn đó bị quăng xuống, tức là con rắn xưa, gọi là ma quỉ và Sa-tan, dỗ dành cả thiên hạ; nó đã bị quăng xuống đất, các sứ nó cũng bị quăng xuống với nó. (KH 12:9).
Bài giảng hôm nay nói về sự cám dỗ đầu tiên của Sa-tan khiến cho loài người sa ngã và phạm tội. Hậu quả là mất vườn địa đàng, nhưng quan trọng hơn hết là mất đi quan hệ với ĐCT, mất đi sự sống đời đời, mất đi quan hệ với người chung quanh, và mất cả linh hồn.
Bấy giờ con rắn là con vật quỷ quyệt hơn những sinh vật khác mà Chúa Ðức Chúa Trời đã dựng nên trên đất. Nó nói với người nữ, “[Mà chi!]Có thật Ðức Chúa Trời bảo, ‘Các ngươi không được ăn trái của bất cứ cây nào trong vườn’ chăng?” 2 Người nữ trả lời con rắn, “Chúng tôi có thể ăn các trái cây trong vườn; 3 nhưng Ðức Chúa Trời đã dặn, ‘Các ngươi không được ăn trái của cây ở giữa vườn; các ngươi cũng không được đụng đến nó, nếu không các ngươi sẽ chết.’”4 Con rắn nói với người nữ, “Các người sẽ [chắc chắn] không chết đâu, 5 bởi vì Ðức Chúa Trời biết rằng ngày nào các người ăn trái cây ấy, mắt các người sẽ mở ra, và các người sẽ trở nên giống như Ðức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.”6 Người nữ thấy trái cây ấy coi bộ ăn ngon, trông đẹp mắt, và quý, vì nó có thể làm cho người ta khôn ra; nàng liền hái trái cây ấy và ăn, rồi đưa cho chồng nàng đang ở đó ăn. 7 Bấy giờ mắt hai người mở ra; họ nhận biết họ đang trần truồng, nên họ lấy lá vả khâu lại làm khố che thân. 8 Vào khoảng chiều tối, khi gió thổi hiu hiu, họ nghe tiếng Ðức Chúa Trời đi dạo trong vườn, A-đam và vợ trốn vào giữa lùm cây trong vườn, để tránh mặt Chúa Ðức Chúa Trời. 9 Bấy giờ Chúa Ðức Chúa Trời gọi A-đam và hỏi, “Ngươi ở đâu?” 10 Ông đáp, “Con có nghe tiếng Ngài trong vườn và con sợ, nên con lẩn tránh, vì con đang trần truồng.” (STK 3:1-10 – BD2011)
Hai điều: 1) Cám dỗ bởi lời dối; 2) Sa ngã và hậu quả
CÁM DỖ BỞI LỜI DỐI
2 thể chế quan trọng trong STK 2: 1) Mạng lệnh (Luật pháp) dạy con người sống dưới thẩm quyền của ĐCT; 2) Hôn nhân dạy con người sống cho người khác thay vì chỉ biết chính mình.
Sa-tan là một thiên sứ đẹp đẽ, cao cả, có quyền chức, khôn ngoan. Sau khi bị đuổi khỏi thiên đàng đã không còn là thiên sứ hộ vệ của ĐCT và trở nên ác quỉ nó không hề mất những điều đó. Có thay đổi chăng là từ lòng phục vụ ĐCT nay là ý đồ độc ác tìm đủ mọi cách để chống đối ĐCT và hủy diệt người tin Chúa.
Chính vì sự sáng láng, khôn ngoan của Sa-tan nên mưu chước và sự cám dỗ của nó với A-đam và E-va hết sức khéo léo nhưng vô cùng nguy hiểm. Trước hết nó chủ ý cám dỗ E-va thay vì A-đam. E-va là người chỉ nghe lại lời dặn của ĐCT về cây cấm qua chồng, chứ không nghe trực tiếp. Dùng từ cám dỗ thực cũng không đúng. STK 3 bắt đầu câu chuyện về con rắn như sau: Bấy giờ con rắn là con vật quỷ quyệt hơn những sinh vật khác mà Chúa Ðức Chúa Trời đã dựng nên trên đất. (3:1 – BD2011). Khi PL viết cho tín đồ HT Cô-rinh-tô nhắc về sự cám dỗ của con rắn xưa với E-va ông dùng từ lừa gạt: Nhưng bây giờ tôi lo ngại rằng giống như Ê-va đã bị con rắn dùng những mưu chước quỷ quyệt lừa gạt (2 Cor 11:3).
Rắn quỷ quyệt lừa gạt E-va với một câu hỏi như bày tỏ lòng quan tâm, như muốn tìm hiểu để cảm thông, chia sẻ và để giúp. Một câu hỏi như đơn giản, vô tội vạ nhưng vô cùng thâm độc: “Có thật Ðức Chúa Trời bảo, ‘Các ngươi không được ăn trái của bất cứ cây nào trong vườn’ chăng?” Qv nghĩ nó có biết lời Chúa dặn A-đam về cây cấm không? Dĩ nhiên. Biết nên mới lừa bằng lời dối nghe bùi tai như thật. Lời dặn của Chúa cùng A-đam: “Ngươi được tự do ăn mọi cây trái trong vườn, 17 nhưng về cây tri thức thiện và ác ngươi chớ ăn, vì hễ ngày nào ngươi ăn trái cây ấy, ngươi sẽ chết.” (STK 2:16-17 – BD2011) Lời dặn này hàm ý là ĐCT ban cho loài người có sự tự do để lựa chọn. Có người hỏi tại sao Chúa biết A-đam & E-va sẽ phạm tội nhưng vẫn cho họ sự tự do lựa chọn? Bởi vì nếu không có sự tự do lựa chọn thì con người không khác gì một rô-bô đã được định trước, program sẵn để chỉ làm việc này, việc nọ. Cũng chính vì sự tự do lựa chọn mà ngày hôm nay người ta mới quyết định tin Chúa hay từ chối Chúa, chọn đi con đường hẹp dân đến sự sống hay con đường rộng đến sự hư mất.
Vì lý do này nên KT viết: Chớ có ai đang bị cám dỗ mà nói rằng: Ấy là Đức Chúa Trời cám dỗ tôi; vì Đức Chúa Trời chẳng bị sự ác nào cám dỗ được, và chính Ngài cũng không cám dỗ ai. 14 Nhưng mỗi người bị cám dỗ khi mắc tư dục xui giục mình. (Gia-cơ 1:13-14)
STK 2 cho biết ĐCT ban cho A-đam một quyền hạn rộng lớn trên cả mọi vật trong vườn địa đàng. Giới hạn duy nhất, duy nhất là cây của tri thức thiện và ác. Lời dặn dò của ĐCT cùng A-đam bắt đầu một cách tích cực, với sự cho phép, cho phép ăn bất cứ cây nào trong vườn sau đó mới đến lời dặn dò đừng ăn cây tri thức thiện và ác. Chúa cũng cho biết rất rõ về hậu quả của việc ăn trái của cây cấm đó: sẽ chết. Chúng ta sẽ trở lại điểm này sau. Lời dặn dò này rõ ràng bày tỏ tình yêu thương, sự ban cho hết sức rộng rãi của ĐCT cho A-đam & E-va. Lời cũng hàm ý tốt xác nhận sự tự do của A-đam và để bảo vệ ông. [Như cha mẹ dặn con trước khi đi: ăn gì, làm gì cũng được ngoại trừ thức ăn, việc làm nguy hiểm đến tính mạng.]
Nhưng câu hỏi của Sa-tan nhằm mục đích gì? “Có thật Ðức Chúa Trời bảo, ‘Các ngươi không được ăn trái của bất cứ cây nào trong vườn’ chăng?” Hai giải thích: 1) Để E-va nghi ngờ sự hiểu biết của bà về lời Chúa dạy; 2) Để E-va nghi ngờ chính lời của ĐCT. Chắc chắn E-va không hiểu sai, hay nhớ sai lời Chúa dạy. Sa-tan hỏi để tạo sự nghi ngờ về lời dặn của ĐCT. Phải chăng đây cũng là thủ đoạn của nó đối với loai người hôm nay: Với người chưa tin Chúa, nó gây ra sự ngờ vực về sự hiện hữu của ĐCT, sự thật của sự cứu rỗi qua ĐCJC, về sự thật của KT. Với người tin Chúa, nó gây ra sự hoài nghi về lòng tốt, về tình yêu thương, về ý chỉ của ĐCT, tại sao Chúa yêu tôi mà lại để điều này xảy ra?
Đây cũng là lời dối. KT gọi Sa-tan là cha của mọi sự lừa dối: Chính các người xuất thân từ cha mình là quỷ vương và các người làm theo dục vọng của cha mình. Từ ban đầu đến nay, hắn vẫn là tay giết người. Hắn không chịu đứng về phía sự thật, vì trong người hắn làm gì có sự thật! Khi hắn nói dối là hắn làm theo bản tính hắn, vì hắn chính là kẻ nói dối và là ông tổ của nói dối! (Giăng 8:44 – BDM)
E-va trả lời rắn: Người nữ trả lời con rắn, “Chúng tôi có thể ăn các trái cây trong vườn; 3 nhưng Ðức Chúa Trời đã dặn, ‘Các ngươi không được ăn trái của cây ở giữa vườn; các ngươi cũng không được đụng đến nó, nếu không các ngươi sẽ chết.’” (3:2-3 – BD2011) Nhiều người chỉ ra E-va cũng nói dối: không được đụng vào. Nhưng có thể ĐCT đã dặn A-đam & E-va như vậy. Đây không phải là điều chính yếu.
Khi nghe E-va trả lời, rắn nói: Con rắn nói với người nữ, “Các người sẽ [chắc chắn] không chết đâu, 5 bởi vì Ðức Chúa Trời biết rằng ngày nào các người ăn trái cây ấy, mắt các người sẽ mở ra, và các người sẽ trở nên giống như Ðức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.” (3:4-5 – BD2011)
Sa-tan hoàn toàn tương phản lời ĐCT: Chúa dặn khi ăn trái cấm sẽ chết; Sa-tan nói khi ăn sẽ trở nên như ĐCT. Tôi diễn ý thêm thế này: Ta đã quan sát ngươi trong một thời gian sau khi ĐCT ra lệnh về cây trái cấm. Ta có ý tốt, thương ngươi nên không thể không cho ngươi biết ĐCT đã dối ngươi. Ta biết chắc rằng ĐCT đã dối ngươi. Khi ăn trái ngươi sẽ trở nên giống như ĐCT. Chính vì không muốn ngươi trở nên như ĐCT nên Ngài đã dối ngươi. Làm sao có thể tin vào lòng tốt của ĐCT khi Ngài dấu ngươi điều tốt nhất?
Ai muốn trở nên như ĐCT? Ai đã nói: Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Đấng Rất Cao? Chính Sa-tan. Nó đem ý muốn của nó để thuyết phục con người cũng nó ý như nó. Và loài người thật sự tin vào lời của nó. Ta sẽ làm ra mình bằng Đấng Rất Cao qua việc chinh phục lãnh thổ, bởi khoa học, kỹ thuật, bởi sự thông minh, sáng tạo của con người. Tại sao có xung đột, chiến tranh? Bởi vì người ta đều muốn làm chúa tể, đều muốn ra lệnh chứ không làm theo mạng lệnh, muốn làm theo chính ý thích của mình.
Chiến lược của Sa-tan cám dỗ làm cho con người xa ĐCT bằng cách làm cho họ nghi ngờ, không tin lời hứa của Chúa. ĐCT bảo đừng ăn trái cấm, ăn sẽ chết. Sa-tan bảo ĐCT dối người, ăn sẽ trở nên như Chúa. ĐCT cho phép A & E ăn bất cứ cây nào trong vườn ngoại trừ một cây; Sa-tan hỏi có phải Chúa cấm ăn bất cứ cây nào trong vườn không?
ĐCJC dạy linh hồn quan trọng hơn cả vật chất trong thiên hạ; Sa-tan nói linh hồn là điều tưởng tượng vì không thấy được, chứng minh được, chỉ có thế giới vật chất này mới thật và quan trọng. [Ví dụ về đối thoại với một người trẻ tuổi trong buổi uống cà-phê và câu hỏi của anh về linh hồn và giá phải trả để tin lời dạy của ĐCJC]
Phải chăng đây là một điều khó hơn hết cho cả người tin Chúa lẫn người không tin Chúa? Đối với người không tin Chúa, họ hỏi Giăng 3:16 có thật không? Làm sao có thể tin vào ĐCT vô hình sáng tạo nên trời đất vũ trụ và loài người khi thuyết tiến hóa và khoa học xác nhận con người phát triển từ loài sinh vật thấp và chỉ có thế giới vật chất này là thật. Đây là chiến lược của Sa-tan: làm cho bao nhiêu người hoài nghi, chất vấn sự hiện hữu của ĐCT, về sự cứu chuộc của ĐCJC, về lời hứa trong KT.
Còn với người tin Chúa? Nghi ngờ, lo sợ về lòng tốt của ĐCT. Có thật ĐCT có ý tốt cho cuộc đời tôi? Hay khi tin Chúa tôi sẽ mất tất cả? Làm sao có thể tin được lời hứa trong KT như trong Giê-rê-mi 29:11: Đức Giê-hô-va phán: Vì ta biết ý tưởng ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa, để cho các ngươi được sự trông cậy trong lúc cuối cùng của mình.
Qv nghe ai, tin ai? Qv có tin linh hồn quan trọng, quí giá ngàn vạn lần hơn của cải, tài sản không? Qv có tin lời Chúa hứa trong KT không? Đây là câu hỏi, vấn đề mấu chốt trong cuộc đời này. Suy nghĩ cho cùng mọi quyết định đều bắt đầu từ câu hỏi này: tôi có thật sự tin ĐCT, tin lời Chúa không?
Nếu qv tin linh hồn quan trọng hơn vật chất, thời gian đi nhà thờ, học KT, cầu nguyện, thông công, dâng hiến làm chứng không là một gánh nặng, việc miễn cưỡng phải làm để giữ mặt, việc tốn thời gian, công sức. Tại sao nhiều người làm cho đến chết để tạo tài nghiệp, chức phận? Bởi vì họ tin lời Sa-tan: ăn trái ngươi sẽ nên như ĐCT.
SA NGÃ VÀ HẬU QUẢ
Người nữ thấy trái cây ấy coi bộ ăn ngon, trông đẹp mắt, và quý, vì nó có thể làm cho người ta khôn ra; nàng liền hái trái cây ấy và ăn, rồi đưa cho chồng nàng đang ở đó ăn. 7 Bấy giờ mắt hai người mở ra; họ nhận biết họ đang trần truồng, nên họ lấy lá vả khâu lại làm khố che thân. (STK 3:6-7 – BD2011)
Lời dối trá đã cám dô E-va. Sa-tan thắng cuộc đầu tiên và quan trọng hơn hết: Hậu quả chính yếu là tội lỗi đến trong thế gian, đến với loài người. Sa-tan thắng cuộc khi E-va tin lời của nó thay vì tin lời ĐCT. Tội lỗi không dừng lại ở E-va nhưng lại đến A-đam. Tội lỗi bắt đầu vào trong thế gian và lan ra cho đến tất cả hậu tự của A-đam & E-va. Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội. (Rô-ma 5:12). Và tội lỗi từ sự sa ngã gây ra ba hậu quả: 1) Mất đi quan hệ gần gũi với ĐCT; 2) Mất đi quan hệ với người; 3) Mất đi chính linh hồn.
Mất đi quan hệ với Chúa
A-đam và E-va trốn tránh ĐCT: Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Giê-hô-va Đức Chúa Trời kêu A-đam mà phán hỏi rằng: Ngươi ở đâu? A-đam thưa rằng: Tôi có nghe tiếng Chúa trong vườn, bèn sợ, bởi vì tôi lõa lồ, nên đi ẩn mình. (3:7-10)
Nhưng ấy là sự gian ác các ngươi làm xa cách mình với Đức Chúa Trời; và tội lỗi các ngươi đã che khuất mặt Ngài khỏi các ngươi, đến nỗi Ngài không nghe các ngươi nữa. (Ê-sai 59:2). Trước đó quan hệ giữa ĐCT và A&E rất gần gủi, mật thiết. Đi với ĐCT trong vườn vào buổi chiều khi trời mát! Nhưng quan hệ này vì tội lỗi đã mất đi. Giữa ĐCT và loài người là một vực thẩm mà không điều gì có thể bắt lại cây cầu quan hệ. Cũng chính bởi quan hệ với ĐCT đã mất nên loài người sẽ chết như lời Chúa dặn A về hậu quả của việc ăn trái cấm. Nhưng ngày sau hôm sau, thậm chí năm sau cả hai vẫn chưa chết. Vậy sự chết đây có nghĩa gì? Ba cái chết:
Sự chết tâm linh vì xa Chúa. Nếu không ĐCJC đã không nói: Ta đến để các ngươi có sự sống và sự sống dư dật. Vậy trước khi tin Chúa, con người dù có máu thịt, còn ăn nói, đi thở nhưng đang chết về tâm linh.
Sự chết về thể xác. Theo thời gian không ai tránh được sự chết. Thân xác rồi sẽ già yếu, bệnh tật rồi sẽ chết.
Sự chết đời đời vì không tin nhận sự cứu chuộc của ĐCJC. KT xác nhận rất rõ cái chết về thể xác không phải là cuối cùng. Thể xác dù chết nhưng linh hồn còn sống mãi đời đời.
Mất đi quan hệ với người
Qv nghĩ sau khi trả lời ĐCT về lý do ăn trái cấm thì quan hệ giữa A-đam & E-va có còn như trước hay không? Đức Chúa Trời phán hỏi: Ai đã chỉ cho ngươi biết rằng mình lõa lồ? Ngươi có ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn đó chăng? 12 Thưa rằng: Người nữ mà Chúa đã để gần bên tôi cho tôi trái cây đó và tôi đã ăn rồi. 13 Giê-hô-va Đức Chúa Trời phán hỏi người nữ rằng: Người có làm điều chi vậy? Người nữ thưa rằng: Con rắn dỗ dành tôi và tôi đã ăn rồi. (STK 3:11-13)
A-đam đổ thừa vợ, E-va đổ thừa con rắn. Rồi cả hai bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng. Người nữ phải mang nặng đẻ đau. Người nam phải làm việc vất vả, cực nhọc. Qv có thể tưởng tượng cảnh này: Sau một ngày làm việc quần quật ngoài đồng, A-đam về nhà mệt mỏi, đau nhức nói với E-va: Phải chi bà đừng ăn trái cấm đó rồi đưa cho tôi ăn thì giờ đâu phải cực khổ đến như vậy! E-va trả lời: Bộ ông không ăn sao? Chính ĐCT căn dặn ông về cây không được ăn mà ông vẫn ăn. Vậy đừng đổ lỗi cho tôi!
Chính sự đổ vỡ trong quan hệ giữa con người và ĐCT sinh ra vụ án mạng đầu tiên giữa anh em trong gia đình: A-bên và Ca-in. Vì sự ghen ghét, tị hiềm mà Ca-in giết em mình A-bên. Vả, khi hai người đang ở ngoài đồng, thì Ca-in xông đến A-bên là em mình, và giết đi. Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in rằng: A-bên, em ngươi, ở đâu? Thưa rằng: Tôi không biết; tôi là người giữ em tôi sao? (4:8-9) Câu hỏi của ĐCT hàm ý vì 2 người có quan hệ máu mủ nên họ liên lạc, biết về nhau, và quan tâm, giúp đỡ, chia sẻ cùng nhau. Nhưng câu hỏi trả lời của Ca-in phủ nhận quan hệ mật thiết của anh em Chúa muốn.
Rồi KT viết tội ác lan ra cho đến quan hệ giữa người với người chung quanh như trong quan hệ giữa Lê-méc và một người làm ông thương tích: Lê-méc bèn nói với hai vợ mình rằng: Hỡi A-đa và Si-la! hãy nghe tiếng ta; Nầy, vợ Lê-méc hãy lắng tai nghe lời ta: Ừ! Ta đã giết một người, vì làm thương ta, Và một người trẻ, vì đánh sưng bầm ta. (4:23). Một người bị đánh sưng bầm giết người đánh họ!
Chú ý lời KT viết: Nếu Ca-in được bảy lần báo thù, Lê-méc sẽ được bảy mươi bảy lần báo oán. (4:24) (Ai giết Ca-in sẽ bị phạt 7 lần, còn ai giết ta sẽ bị báo thù 77 lần)
Từ đó tội lỗi ngày càng lan ra đến thời Nô-ên chỉ còn ông và gia đình bước đi với ĐCT. Khi họ vâng lời Chúa đóng chiếc tàu thì mọi người xung quanh đều chế diễu, nhạo báng, nhiếc mắng họ vì sự dại dột, ngu xuẩn. Khi nghe lời ĐCT, Nô-ên và gia đình đánh mất quan hệ với thế gian!
Phải chăng xung đột, bất hòa trong gia đình, hội thánh, chiến tranh giữa các quốc gia bởi vì quan hệ con người đã bị đỗ vở không hàn gắn được hay sao?
Mất đi chính linh hồn mình
Trái cây coi bộ ngon, đẹp mắt và quí và làm cho người trở nên khôn ngoan: E-va tin lời Sa-tan! Mãnh lực thu hút của trái vẫn mới và thực trong ngày hôm nay như khi E-va nhìn trái cấm đầu tiên. Qv hỏi: ms nói vậy có nghĩa gì? Trái của vật chất, tiền của, danh vọng, địa vị. Trái sắc đẹp, thông minh, tài giỏi. Trái của dục vọng xác thịt. Trái của quyền thế, làm chúa tể. Gọi là trái bởi vì có thể thấy được, sờ được, kinh nghiệm được. Khi nhìn những trái này, qv có muốn không? Tôi chưa biết ai nói mình không muốn được những trái này cả! Có khác chăng chỉ tùy theo mức độ hay cách thức. Có người khéo hơn, kín đáo hơn khi ăn những trái này. Ai được cả thiên hạ mà mất linh hồn thì có ích gì chăng?
Lời Kinh Thánh xác định rõ mãnh lực của vật chất, đặc biệt của tiền của. Vua Sô-lô-môn viết trong TĐ 10:19, "người ta bày tiệc đặng vui chơi; rượu khiến cho đời vui; có tiền bạc thì ứng cho mọi sự"; một bản dịch khác, "tiền là câu trả lời cho mọi việc". Ai có thể phủ nhận mãnh lực của đồng tiền trong cuộc sống? Có tiền người ta sống tiện nghi, dư dật, sống nhàn nhả, thong dung. Tiền giúp mình mua sắm điều lòng mình mong muốn, mắt mình ao ước. Chính vì vậy, người ta có thể sẵn sàng làm mọi việc, thậm chí phản bội người thân yêu để được tiền. Như những câu chuyện trong Kinh Thánh. Nữ nhân Đa-li-la bán người tình Sam-sông cho kẻ thù Phi-lít-tin với giá 1100 miếng bạc. Một môn đồ của Đức Chúa Jê-sus Christ tên Giu-đa đã nhận bán thầy mình vì 30 miếng bạc, rẽ hơn bao nhiêu lần Đa-li-la bán Sam-sông! Ngay cả những người thầy tôn giáo Pha-ri-si cũng chê cười Đức Chúa Jê-sus Christ khi Ngài dạy rằng con người không thể vừa làm tôi tớ cho Đức Chúa Trời, lại vừa làm tôi tớ cho tiền bạc. Lý do là vì họ là kẻ tham tiền! (Lu-ca 16:14) . Những lời dạy của Kinh Thánh về sự quyến rũ, mãnh lực của vật chất, tiền bạc, không chỉ dựa vào lý thuyết xa vời nào đó. Kinh Thánh hiểu thấu lòng dạ con người, đầy những khao khát, ước ao, tham muốn về tiền của, tài vật trong đời sống dưới trời này. Lời dạy trong Kinh Thánh gắn liền với thực tế về con người, về mãnh lực đồng tiền và những cám dỗ con người đối diện trước mãnh lực đó.
Kinh Thánh dạy rằng vật chất, tiền của tự nó không phải là điều xấu xa, tội lỗi nhưng chính sự tham lam tiền của, vật chất, lòng ham muốn không đáy của con người mới là nguyên cớ của những điều xấu xa, tội lỗi. I Timô-thê 6:10 viết, "Bởi chưng sự tham tiền bạc là cội rễ mọi điều ác, có kẻ vì đeo đuổi nó mà bội đạo, chuốc lấy nhiều điều đau đớn". Sự tham lam tiền bạc mới chính là cội rễ mọi điều ác. Trộm cướp đập phá nhà, hãm hại người để đoạt của. Nhưng hầu hết chúng ta đều biết hay nghe về những người liêm chính khi lượm được số tiền hay của vật lại đem trả lại cho người mất. Cũng là tiền, là của nhưng kẻ tham tìm đủ mọi cách để có được, còn người tốt thì dù có chật vật vẫn không đánh đổi với danh dự, phẩm giá. Kinh Thánh không hề dạy rằng giàu có đồng nghĩa với tham lam.
Nhiều nhân vật trong Kinh Thánh rất giàu có. Như Abraham là người được Đức Chúa Trời gọi rời khỏi quê hương đến vùng đất xa, nơi Chúa thiết lập lời giao ước và ban ơn phước cho ông cùng hậu tự. Như Gióp, một nhân vật tiêu biểu cho sự hoạn nạn, thử thách vẫn vững lòng tin cậy Đức Chúa Trời. Như Giô-sép Arimathê người xin xác Đức Chúa Jê-sus Christ để vào mộ. Hay như bà Ly-đia làm nghề bán hàng vãi sắc tía cho những người quí tộc, chức sắc là người trung tín với Chúa và với Hội Thánh Ngài. Các nhân vật này dù giàu có nhưng lòng của họ không ở trong sự giàu có. Họ dùng tiền của để trợ giúp người túng thiếu, để làm sáng danh Đức Chúa Trời là Đấng ban cho họ mọi điều trong cuộc sống, để phát triển công việc Chúa trên đất. Họ ý thức rằng tiền của là điều Đức Chúa Trời ủy thác cho họ quản lý, chứ không phải để làm chủ. Kinh Thánh dạy rằng chúng ta chỉ là người quản lý tài của Chúa ban; Đức Chúa Trời mới là chủ thật. Nhưng thường thì chúng ta muốn mình làm chủ rồi "mượn" Đức Chúa Trời làm quản lý để đảm bảo tiền của không bị thất thoát, mất mát!
Kinh Thánh dạy "chớ tham tiền; hãy lấy điều mình có làm đủ rồi" (Hê-bơ-rơ 13:5). Sô-lô-môn trong Truyền Đạo 5:10-16 thì dạy rằng, "Kẻ tham tiền bạc chẳng hề chán lắc tiền bạc; kẻ ham của cải chẳng hề chán về huê lợi. Điều đó cũng là sự hư không".
