Bông Trái Thánh Linh (3): Trung Tín, Mềm Mại, Tiết Độ
Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ: không có luật pháp nào cấm các sự đó. (Ga-la-ti 5:22-23)
ÂN TỨ VÀ BÔNG TRÁI
Bông trái TL là kết quả tất yếu của những tín đồ thật sự có quan hệ với ĐCJC và sống theo lời dạy KT. Lời Chúa (Thi Thiên 1) và quan hệ mật thiết với ĐCJC (Giăng 15 - ở trong Ta) là hai điều kiện thiết yếu nhất để sinh bông trái trong đời sống.
Dù mọi tôn giáo đều có sách đạo, kinh kệ nhưng chỉ có những người tin vào ĐCJC mới có một quan hệ cá nhân hết sức gần gủi, đặc biệt trong đời sống hằng ngày. Chúa không những là ĐCT, Đấng quan phòng, bảo vệ, che chở nhưng còn là một người Cha nhân từ, một người bạn thiết hữu gần gũi hơn hết trong đời.
Tín đồ có thể ao ước được nhận ân tứ. Nhưng nếu có ân tứ mà không có trái TL trong đời sống thì ân tứ có thể trở nên vô dụng, thậm chí nguy hiểm. Người có ân tứ có thể sinh ra kiêu ngạo, tự phụ, hống hách, gây trở ngại, tạo bè phái, hiềm khích giữa các nhóm trong hội thánh.
Nan đề trong hội thánh, giữa tín đồ không xảy ra vì thiếu ân tứ nhưng vì đời sống tín đồ thiếu bông trái TL. Hôn nhân tín đồ tan rả, vợ chồng ly dị không phải vì thiếu ân tứ nhưng vì sự ích kỷ, thiếu tình yêu thương, thiếu sự kiên nhẫn, tha thứ.
Một điều quan trọng cần ý thức là bông trái TL không chỉ giới hạn trong 9 trái (3 loại) trong Ga-la-ti 5:22-23. Bởi vì KT TU còn có những đoạn khác nói về trái TL, cụ thể hơn hết là Cô-lô-se 1:9-11 và 2 Phi-e-rơ 1:5-7
Cho nên, chúng tôi cũng vậy, từ ngày nhận được tin đó, cứ cầu nguyện cho anh em không thôi, và xin Đức Chúa Trời ban cho anh em được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài, với mọi thứ khôn ngoan và hiểu biết thiêng liêng nữa, hầu cho anh em ăn ở cách xứng đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường, nẩy ra đủ các việc lành, càng thêm lên trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời, nhờ quyền phép vinh hiển Ngài, được có sức mạnh mọi bề, để nhịn nhục vui vẻ mà chịu mọi sự. (Cô-lô-se 1:9-11)
Vậy nên, về phần anh em, phải gắng hết sức thêm cho đức tin mình sự nhân đức, thêm cho nhân đức sự học thức, thêm cho học thức sự tiết độ, thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính, thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến. (2 Pet 1:5-7)
BA LOẠI TRÁI THÁNH LINH
Ga-la-ti 5:22 liệt ra 9 trái TL. Có thể tạm chia làm 3 loại
Hướng thượng – quan hệ của chúng ta với ĐCT: lòng yêu thương, sự vui mừng, sự bình an
Hướng ngoại – thái độ, cư xử, hành động, lời nói chúng ta với người chung quanh: nhịn nhục, nhân từ, hiền lành
Hướng nội – ý chí, nghị lực nội tâm: trung tín, mềm mại, tiết độ.
Dĩ nhiên sự phân loại này chỉ nhằm giúp dễ nhớ và có tính cách tương đối. Cả 3 loại trái này đều liên hệ mật thiết với nhau và tất cả đều cần thiết cho đời sống tin kính. Tất cả đều quan trọng và sẽ phản ánh trong cuộc đời tín đồ khi để lời Chúa dạy dỗ và có quan hệ mật thiết với ĐCJC mỗi ngày.
BÔNG TRÁI NỘI TÂM
Mọi thay đổi trong đời sống tín đồ trước hết phải bắt đầu từ nội tâm. Con người bên trong, không ai thấy được, nghe được, thậm chí hiểu hết được phải được đổi mới. Nếu không có những thay đổi bên trong, những điều quan sát bên ngoài có lúc cũng sẽ bị nhầm.
Trong câu chuyện ngụ ngôn người gieo giống, ĐCJC ví Tin Lành như hột giống rơi xuống 4 loại đất khác nhau. Có hột rơi dọc đường, bị chim ăn mất trước khi mọc rễ. Có loại rơi vào đất đá sỏi, đất thịt ít nên rễ không bám được đất, rồi cây chết đi khi nắng cháy nóng. Có loại giống rơi vào bụi gai bị nghẹo ngòi không lớn được. Loại giống rơi vào đất màu mở sẽ sinh trái 30, 60, 100 lần. ĐCJC giải thích 4 loại đất này tựng trưng cho bốn loại người nghe, nhận đạo:
Khi người nào nghe đạo nước thiên đàng, mà không hiểu, thì quỉ dữ đến cướp điều đã gieo trong lòng mình; ấy là kẻ chịu lấy hột giống rơi ra dọc đường. Người nào chịu lấy hột giống nơi đất đá sỏi, tức là kẻ nghe đạo, liền vui mừng chịu lấy; song trong lòng không có rễ, chỉ tạm thời mà thôi, đến khi vì đạo mà gặp sự cực khổ, sự bắt bớ, thì liền vấp phạm. Kẻ nào chịu lấy hột giống nơi bụi gai, tức là kẻ nghe đạo; mà sự lo lắng về đời nầy, và sự mê đắm về của cải, làm cho nghẹt ngòi đạo và thành ra không kết quả. Song, kẻ nào chịu lấy hột giống nơi đất tốt, tức là kẻ nghe đạo và hiểu; người ấy được kết quả đến nỗi một hột ra một trăm, hột khác sáu chục, hột khác ba chục. (Ma-thi-ơ 13:19-23)
Loại đất tốt, ĐCJC giải thích tốt đẹp, có mưa nắng, có sự chăm sóc để có thể mọc rễ sâu vào đất mà lên bông trái gấp 30, 60, 100 lần. Đây là người để ĐTL thay đổi đời sống nội tâm.
9 trái TL theo Ga-la-ti 5:22-23: lòng yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục (kiên nhẫn), nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ. Buổi sáng nay chúng ta sẽ suy nghĩ về loại trái TL hướng nội gồm trung tín, mềm mại, tiết độ.
Trung Tín - Thủy Chung - Faithfulness
Trung tín hay chung thủy (faithfulness) là giữ trọn vẹn lời hứa nguyện, giữ trọn trách nhiệm, bổn phận cho đến lúc cuối cùng, đến khi hoàn tất cho dù có gặp trở ngại, khó khăn. Khi nói về sự trung tín hay chung thủy có nghĩa là chúng ta nói đến khoảng đường dài, thậm chí có khó khăn, thử thách.
Một câu KT chúng ta cần ghi nhớ trong CN 20:6: Phần nhiều người khoe khoang sự nhân từ mình; Nhưng ai sẽ tìm được một người trung thành? Phần đầu của câu KT này là many a man claims to have an unfailing love, dịch là có nhiều người tự nói rằng có tình yêu thương không hề hư mất, hay tình yêu thương trọn vẹn, không phai mờ. Phần hai của câu KT bắt đầu với phản từ nhưng và với câu hỏi. Nhưng ai sẽ tìm được một người trung thành. Hai phần của câu KT này tương phản nhau. Phần đầu là nhiều người nhưng phần sau lại hỏi có ai hay được bao nhiêu người. Tình yêu thương không phai mờ đối với trung thành. Hai động từ khoe khoang hay tuyên bố lớn tiếng và tìm được. Muốn tìm phải bỏ thời gian, tốn công sức. Vậy đó mà vẫn khó tìm được người trung thành, nhưng rất nhiều người tự nhận có tình yêu thương.
Đa-vít khi viết TT 12 cũng có lời thở thanh thế này: Đức Giê-hô-va ôi! xin cứu chúng tôi, vì người nhân đức không còn nữa, Và kẻ thành tín đã mất khỏi giữa con loài người (12:1).
Sự trung tín không phải chỉ được biết qua thời gian nhưng còn bắt đầu từ việc nhỏ. ĐCJC nhắc các môn đồ trong Lu-ca 16:10 Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc lớn.
Một người hầu việc Chúa có lời: "God has not called us to success but to faithfulness." (Oswald Chambers) ĐCT không gọi chúng ta để trở nên thành công nhưng trở nên trung tín. Thật vậy cuộc đời của nhiều nhân vật KT không thể được đánh giá bởi tiêu chuẩn thành công nhưng bởi tiêu chuẩn của sự trung tín.
Mô-se dù sau 40 năm gian khổ phục vụ dân sự lầm bầm, hay trách móc, ta thán, nhưng đến cuối đời không được vào đất hứa. [Tôi muốn nhấn mạnh ở đây không phải Mô-se không được vào thiên đàng!] Tuy vậy ông vẫn tận trung phục vụ Chúa cho đến hơi thở cuối cùng. Các sứ đồ của ĐCJC, ngoại trừ sứ đồ Giăng chết vì tuổi cao tại bảo Pát-mô, 10 người còn lại bị xử tử. Phao-lô bị tù đày, rồi bị xử tử. Tuy vậy ông viết trong lá thư cuối đời: Về phần ta, ta đang bị đổ ra làm lễ quán, kỳ qua đời của ta gần rồi. Ta đã đánh trận tốt lành, đã xong sự chạy, đã giữ được đức tin. (2 Timôthê 4:6-7)
Người trung tín, thủy chung lấy lời hứa nguyện làm trọng, lấy sự cứu rỗi làm trọng, lấy quyền làm chủ của Chúa trong đời sống làm trọng. Khi cầu nguyện tin Chúa, người trung tín xác nhận niềm tin, lời hứa nguyện đó qua hành động và cuộc sống. Chính vì vậy đối với tôi sự cầu nguyện tin Chúa, lời hứa nguyện trong lễ Báp-tem vô cùng quan trọng. Vì nó sẽ ràn buộc đời sống chúng ta cho đến trọn đời.
Khi ngươi khấn hứa sự gì với Đức Chúa Trời, chớ chậm mà hoàn nguyện; vì Ngài chẳng vui thích kẻ dại: vậy, khá trả điều gì ngươi hứa. Thà đừng khấn hứa, hơn là khấn hứa mà lại không trả. (TĐ 5:4)
There’s an old story about Dr. Benjamin Warfield. He was a theology professor at Princeton Seminary. While he was still at the height of his academic powers, his wife got sick. And she became an invalid. He took care of her for ten years. During that ten year period, he never spent more than 2 hours away from his wife. Even though she was handicapped, she still loved to read. And so Dr. Warfield would sit at her bedside day after day. And read to her. He was always gentle and caring with her.
One day, someone asked him, "Have you ever thought about taking your wife to an institution?" Then you could write bigger books and have a bigger ministry." But Dr. Warfield said, "No way. My wife is my ministry. I will never leave her side. I am going to love her and take care of her as long as God grants us life." That’s how the Lord Jesus feels about us. He will not walk away from us. He will not abandon us. He will not throw us away like yesterday’s news.. He will minister his love and his compassion to us just as Dr. Warfield did for his wife. (From a sermon by Marc Axelrod, Justice and Compassion For All, 8/16/2010)
Ai cũng muốn có một người chồng, một người vợ thủy chung như vậy, nhưng ít ai có thể thủy chung được như vậy.
Người chung thủy là người ý thức rằng mục đích cuối cùng quan trọng hơn, đáng giá để chấp nhận những thua lỗ, thiệt thòi, thậm chí khó khăn, đau khổ hiện tại. Một câu KT luôn luôn cảm động tôi về sự trung tín và lòng can trường của ĐCJC. Khi gần đến kỳ Đức Chúa Jêsus được đem lên khỏi thế gian, Ngài quyết định đi thành Giê-ru-sa-lem. (Lu-ca 9:51)
Điều gì chờ đợi Chúa chúng ta tại thành Jerusalem? Dân chúng hò reo, ca tụng, lót áo, lá cho lừa Chúa trong một sáng đầu tuần nhưng rồi không lâu sao đó họ hò reo không phải ca tụng nhưng lên án hãy đóng đinh nó đi, hãy đóng đinh nó đi.
Người trung tín là người để lại hay ít nhất cố gắng hết sức để để lại những điều tốt đẹp hơn, cao cả hơn, phước hạnh hơn thay vì chỉ biết lấy đi. Nhìn vào cuộc đời của một người chúng ta có thể thấy họ chung thủy với gì? Với Chúa, với hội thánh, với công việc Chúa, với gia đình, hay với tiền tài, danh vọng, tài sản, tiếng tăm.
Người trung tín không thể là người chỉ biết nhận vào mà không bao giờ cho đi. Trái lại họ là những người dâng hiến dù có thiệt thòi. Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống và được sự sống dư dật. Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình. (Giăng 10:10-11)
Mềm mại – Gentleness
Từ mềm mại có ý nói về sự nhẹ nhàng, dịu dàng, từ tốn trong cách đối xử với người khác. Một từ dịch khác là nhu mì hay khiêm hòa. Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất! (Ma-thi-ơ 5:5)
Nhu mì, mềm mại không phải là yếu đuối hay nhu nhược. Không phải là doormat để mọi người dẩm lên để đi. Tuy nhiên đây là một câu chuyện có thật:
According to Bill Farmer's newspaper column, J. Upton Dickson was a fun-loving fellow who said he was writing a book entitled Cower Power. He also founded a group of submissive people. It was called DOORMATS. That stands for "Dependent Organization Of Really Meek And Timid Souls -- if there are no objections." Their motto was: "The meek shall inherit the earth -- if that's okay with everybody." They symbol was the yellow traffic light.
Nhưng là sức mạnh chế ngự (power under control). KT cho biết Mô-se là người nhu mì hơn mọi người trên đất Vả, Môi-se là người rất khiêm hòa hơn mọi người trên thế gian. (DSK 12:3) nhưng ai có thể nói Mô-se là người lãnh đạo nhu nhược, yếu đuối.
Ai có thể nói ĐCJC là người yếu đuối? Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng. (Ma-thi-ơ 11:28-30)
Nếu có một hình ảnh tượng trưng cho mềm mại, nhu mì, khiêm hòa thích hợp với người VN chúng ta thì đó là hình ảnh cây tre. Tre thẳng thón nhưng khi gió lớn có thể dẻo bền, uống mình theo chiều gió. Ngày xưa dân tộc VN dùng tre để làm vũ khí đánh giặc. Tre cứng cáp vô cùng nhưng cũng mềm mỏng vô cùng. Những cọng tre vót nhỏ được làm diều. Đủ cứng cáp để chống được với gió lớn trên trời cao nhưng đủ mềm để có thể uống cong theo hình diều đẹp đẽ.
Người nhu mì là người biết mình, biết ta nhưng cũng biết người. Tự tin nhưng không tự cao, tự phụ, tự đại, tự nổ, cũng không tự ti. Không xem mình lớn, cũng không xem mình nhỏ. Ý thức về khả năng, về vai trò, trách nhiệm, bổn phận của mình trong Chúa, trong gia đình, trong hội thánh, trong quan hệ với anh chị em trong Chúa.
Người nhu mì là người nhẫn nhịn. Khi bị mạ lị không mắng trả lại hay ăn miếng trả miếng. Không nặng lời.
Gen. Douglas MacArthur wrote this prayer for his son. He prayed: "Build me a son, O Lord, who will be strong enough to know when he is weak, & brave enough to face himself when he is afraid. One who will be proud & unbending in honest defeat, & humble & gentle in victory.
"Build me a son whose wishes will not take the place of deeds - a son who will know Thee, who is the foundation stone of knowledge. Lead him, I pray, not in the path of ease & comfort, but under the stress & spur of difficulties & challenge.
"Here let him learn to stand up to the storm. Here let him learn compassion for those who fail. Build me a son whose heart will be clear, whose goal will be high, a son who will master himself before he seeks to master other men, one who will reach into the future, yet never forget the past.
"And after all these things are his, add, I pray, enough of a sense of humor so that he may always be serious but never take himself too seriously. Give him humility so that he may always remember the simplicity of true greatness, & an open mind of true wisdom, & the meekness of true strength.”
Tiết Độ - Tự Chủ - Self-Control
Đây là người làm chủ đời sống nội tâm và thái độ, lời nói, hành động, cách cư xử bên ngoài. Chủ cả ý nghĩ, suy tưởng lẫn cảm xúc. Khi nói về kiên nhẫn tôi nói về sự kiên nhẫn (kiên trì) rất khó khi đối diện với khó khăn, mất mát. Những người cha mẹ phải lau nước mắt đã đổ ra trong đêm khi trời sáng để động viên, đem lại niềm tin tưởng cho con mình. Kiên nhẫn không phải khi chờ đợi cách thụ động nhưng trong hành động, qua công việc hàng ngày. Tự chủ, tiết độ là vậy đó.
Đọc lịch sử, xem phim ảnh về những vua chúa, tướng lãnh quyền lực vô cùng, nắm vậng mạng hàng ngàn, trăm ngàn, triệu dân chúng trong tay nhưng lại thất bại trước một mỹ nhân.
Tương truyền Tây Thi đẹp đến nỗi, ngay cả khi nàng nhăn mặt cũng khiến người ta mê hồn. Khi nàng đi hái củi ở ngọn núi gần làng, những con chim ưng bay trên trời nhìn thấy Tây Thi quên mất cả vỗ cánh nên bị rơi xuống đất. Khi nàng giặt áo bên bờ sông, bóng nàng soi trên mặt nước sông trong suốt làm nàng thêm xinh đẹp. Cá nhìn thấy nàng, say mê đến quên cả bơi, dần dần lặn xuống đáy sông. Từ đó, người trong vùng xưng tụng nàng là "Tây Thi Trầm Ngư". Chính vì thế, người đời sau mới gọi Tây Thi là người đẹp có nhan sắc “chim sa cá lặn”.
Trong trận đánh quyết tử với Ngô, do không nghe lời can gián của Văn Chủng và Phạm Lãi nên vua nước Việt là Câu Tiễn bại trận, bị bên Ngô buộc vợ chồng Câu Tiễn phải sang Ngô làm con tin. Câu Tiễn quyết chí trả thù, Văn Chủng trước khi Câu Tiễn sang Ngô đã hiến cho vua 7 kế, trong đó có một kế là "Mỹ nhân kế" - dâng người đẹp mê hoặc vua Ngô. Trong vòng nửa năm, Câu Tiễn tuyển được 2000 mỹ nữ, trong đó có hai người đẹp nhất là Tây Thi và Trịnh Đáng.
Nam Cung Bắc tả Tây Thi qua con mắt của Câu Tiễn và Phạm Lãi:
Câu Tiễn bắt gặp ngay đôi mắt trong suốt như dòng suối lạnh, lòng đen đen tuyền óng ánh phát hào quang, thoáng chốc như hớp hồn nhà vua. Tây Thi như một đóa hoa còn chớm nụ hàm tiếu, bao nhiêu nét tươi trẻ thanh xuân dường như ẩn hiện trong góc mắt đuôi mày. Mắt nàng trong suốt, mày nàng phương phi, miệng nàng chúm chím, đường nét tạo thành nàng dường như là ảo tưởng. Cái đẹp của Tây Thi như lóe hào quang, như thái dương.
Phù Sai là một vị vua anh hùng, nhưng từ khi Tây Thi xuất hiện thì lại lơi lỏng việc nước, bỏ bê chính sự. Tây Thi theo kế của Văn Chủng ra sức mê hoặc khiến vua Ngô ngày đêm cùng nàng chìm đắm trong xa hoa, hưởng lạc, dần dần mất hết ý chí. Bởi chỉ khi nước Ngô suy yếu thì Việt mới có cơ hội phục thù.
CN 16:32 dạy: Người chậm nóng giận thắng hơn người dõng sĩ; Và ai cai trị lòng mình thắng hơn kẻ chiếm lấy thành. Người cai trị lòng mình là người tự chủ, người tiết độ, còn hơn người chiến thắng, chiếm được thành trì kiên cố. Hình ảnh này cho thấy sự tự chủ, tiết độ là điều hết sức khó khăn. Năng lực, sức mạnh dùng để chinh phục, chiếm đoạt từ người khác dễ sử dụng hơn là cho chính mình, cho chính dục vọng cá nhân mình.
Người nào chẳng chế trị lòng mình, Khác nào một cái thành hư nát, không có vách ngăn. (CN 25:28)
Hơn 40 năm trước đây tại trường đại học Stanford, giáo sư tâm lý học Walter Mischel thực hiện một thí nghiệm mà mãi đến hôm nay vẫn còn giá trị. Ông để cho các em nhỏ có hai sự lựa chọn, hoặc được nhận bánh, kẹo (mashmallow, vì vậy thí nghiệm này được gọi là Stanford marshmallow experiment) ngay lập tức, hoặc chờ khoảng 15 phút để nhận được gấp hai. Sau đó, giáo sư Mischel theo dõi các em bé này cho đến lớn. Phần lớn những em có thể chờ đạt thành công hơn trong đời sống, điểm SAT cao hơn, ốm hơn…
Tuần này các tờ báo lớn đều đăng về kết quả thi PISA (Program of International Student Assessment) cho học sinh tuổi 15-16 trong 65 quốc gia trên toàn thế giới về ba môn: đọc (reading), toán (math), khoa học (science). Kết quả về toán HK thấp hơn 29 quốc gia, cao hơn 26 và tương đương với 9 quốc gia. Tuy nhiên theo tờ báo Washington Post: Despite their tepid math scores, U.S. teenagers were more confident about their math skills than their international counterparts, the report found… But countries like Vietnam, where 79 percent of students are economically disadvantaged, outscored U.S. students in math.
The American Federation of Teachers (Tổ chức Giáo Viên Hoa Kỳ) ra một video khuyên quần chúng đừng đổ lỗi cho phụ huynh, học sinh hay giáo viên, trường học hay các tổ chức giáo viên!
Chúng ta tự hỏi lý do gì? Tôi tin một lý do quan trọng là sự tự chủ, tiết độ. Học sinh HK bỏ cuộc rất nhanh khi giải toán, học bài nhưng học sinh Á Châu tiếp tục.
[Why Chinese mothers are superior; Call them Tiger students: And get to work]
