Bông Trái Thánh Linh (2): Nhịn Nhục, Nhân Từ, Hiền Lành
Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ: không có luật pháp nào cấm các sự đó. (Ga-la-ti 5:22-23)
ÂN TỨ VÀ BÔNG TRÁI
Sự khác biệt giữa ân tứ và bông trái Thánh Linh. Ân tứ khác nhau trong vòng tín đồ hội thánh, nhưng tất cả tín đồ đều phải có hết các bông trái, không ngoại lệ.
Bông trái TL là kết quả tất yếu của những tín đồ thật sự có quan hệ với ĐCJC và sống theo lời dạy KT. Lời Chúa (Thi Thiên 1) và quan hệ mật thiết với ĐCJC (Giăng 15 - ở trong Ta) là hai điều kiện thiết yếu nhất để sinh bông trái trong đời sống.
Dù mọi tôn giáo đều có sách đạo, kinh kệ nhưng chỉ có những người tin vào ĐCJC mới có một quan hệ cá nhân hết sức gần gủi, đặc biệt trong đời sống hằng ngày. Chúa không những là ĐCT, Đấng quan phòng, bảo vệ, che chở nhưng còn là một người Cha nhân từ, một người bạn thiết hữu gần gũi hơn hết trong đời.
Tín đồ có thể ao ước được nhận ân tứ. Nhưng nếu có ân tứ mà không có trái TL trong đời sống thì ân tứ có thể trở nên vô dụng, thậm chí nguy hiểm. Người có ân tứ có thể sinh ra kiêu ngạo, tự phụ, hống hách, gây trở ngại, tạo bè phái, hiềm khích giữa các nhóm trong hội thánh.
Nan đề trong hội thánh, giữa tín đồ không xảy ra vì thiếu ân tứ nhưng vì đời sống tín đồ thiếu bông trái TL. Hôn nhân tín đồ tan rả, vợ chồng ly dị không phải vì thiếu ân tứ nhưng vì sự ích kỷ, thiếu tình yêu thương, thiếu sự kiên nhẫn, tha thứ.
Đối với tôi, bông trái TL quan trọng trong đời sống tín đồ, trong hội thánh hơn ân tứ.
BA LOẠI TRÁI THÁNH LINH
Bên cạnh Ga-la-ti 5:22, KT TU có ít nhất 2 đoạn KT khác đề cập đến bông trái TL: Cô-lô-se 1:10-11 và 2 Phi-e-rơ 1:5-8.
Cho nên, chúng tôi cũng vậy, từ ngày nhận được tin đó, cứ cầu nguyện cho anh em không thôi, và xin Đức Chúa Trời ban cho anh em được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài, với mọi thứ khôn ngoan và hiểu biết thiêng liêng nữa, hầu cho anh em ăn ở cách xứng đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường, nẩy ra đủ các việc lành, càng thêm lên trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời, nhờ quyền phép vinh hiển Ngài, được có sức mạnh mọi bề, để nhịn nhục vui vẻ mà chịu mọi sự. (Cô-lô-se 1:9-11)
Vậy nên, về phần anh em, phải gắng hết sức thêm cho đức tin mình sự nhân đức, thêm cho nhân đức sự học thức, thêm cho học thức sự tiết độ, thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính, thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến. (2 Pet 1:5-7)
Ga-la-ti 5:22 liệt ra 9 trái TL. Có thể tạm chia làm 3 loại
Hướng thượng – quan hệ của chúng ta với ĐCT: lòng yêu thương, sự vui mừng, sự bình an
Hướng ngoại – thái độ, cư xử, hành động, lời nói chúng ta với người chung quanh: nhịn nhục, nhân từ, hiền lành
Hướng nội – ý chí, nghị lực nội tâm: trung tín, mềm mại, tiết độ.
Dĩ nhiên sự phân loại này chỉ nhằm giúp dễ nhớ và có tính cách tương đối. Cả 3 loại trái này đều liên hệ mật thiết với nhau và tất cả đều cần thiết cho đời sống tin kính. Tất cả đều quan trọng và sẽ phản ánh trong cuộc đời tín đồ khi để lời Chúa dạy dỗ và có quan hệ mật thiết với ĐCJC mỗi ngày.
BÔNG TRÁI TRONG QUAN HỆ VỚI NGƯỜI CHUNG QUANH
Chúng ta có thể tạm gọi 3 trái này của ĐTL là trái hướng ngoại hay trái thể hiện trong quan hệ với những người chung quanh. Nói như vậy không có nghĩa là lòng yêu thương, sự vui mừng, sự bình an không thể là thể hiện với những người chung quanh. Nhưng thể hiện cụ thể của tình yêu thương với người quanh mình, thể hiện của sự vui mừng, bình an phải được bày tỏ một cách cụ thể qua thái độ, cách cư xử, qua hành động, lời nói. Đặc biệt qua 3 trái TL là sự nhịn nhục (kiên nhẫn), sự nhân từ và hiền lành (ôn hòa, đức độ - BDM).
Kiên Nhẫn – Long-suffering, Patience
Từ kiên nhẫn trong bản Anh ngữ xưa (KJV) cũng được dịch là long-suffering. Nếu dịch theo nghĩa đen là chịu khó, chịu khổ dài hạn! Trong từ này hàm một ý quan trọng là chịu đựng nghịch cảnh, bất công, khổ nạn mà không hờn oán, thù hận hay có ý trả thù.
Hễ còn sống là còn có quan hệ. Chủ yếu hai chiều: chiều dọc là quan hệ giữa chúng ta với ĐCT, và chiều ngang là quan hệ với người chung quanh chúng ta. Kiên nhẫn đòi hỏi trong cả hai quan hệ chủ yếu này, với Chúa và với người.
Với Chúa: chúng ta muốn ĐCT ban cho chúng ta một đời sống theo ý mình. Và khi không thuận ý, chúng ta oán trách, hờn giận, buồn phiền Chúa.
Mô-se – hoàng tử Ai cập trở nên một người chăn chiên vô danh trong suốt 40 năm dài. Nhưng chính thời gian ẩn danh, lặng lẽ này đã giúp ông có quan hệ mật thiết hơn với ĐCT và tạo cho Mô-se sự kiên nhẫn mà không cách nào khác ông có thể học được.
Đa-vít – hoàng tử, anh hùng dân tộc, bạn chí thân của thái tử trở nên một người chạy trốn trong gần 15 năm trời. Lúc phải giả điên, lúc phải sống trong hang động tối tăm, hôi hám cùng những người tầng lớp thấp hèn, bần cùng của xã hội. Cũng vậy Giô-sép phải trải qua gần 15 năm như nô lệ, người bị vu oan, tù nhân trước khi Chúa để ông làm thủ tướng xứ Ai-cập.
Phao-lô – giằm xóc để làm cho ông khỏi kiêu ngạo mà luôn nương tựa nơi Chúa
Vậy nên, e rằng tôi lên mình kiêu ngạo bởi sự cao trọng cả thể của những sự tỏ ra ấy chăng, thì đã cho một cái giằm xóc vào thịt tôi, tức là quỉ sứ của Sa-tan, để vả tôi, và làm cho tôi đừng kiêu ngạo. Đã ba lần tôi cầu nguyện Chúa cho nó lìa xa tôi. Nhưng Chúa phán rằng: Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. (2 Cô-rinh-tô 12:7-9)
Kiên nhẫn không đến một cách tự nhiên. Để tự nhiên mọi người đều sẽ cầu nguyện xin Chúa ban cho con sự kiên nhẫn và xin Ngài cho con ngay bây giờ, đừng để con phải chờ đợi hay thất vọng. Thường những người đã trải qua mất mát, khổ đau, thất vọng cùng thắng lợi là người học được sự kiên nhẫn.
Tác giả Thi Thiên viết Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, Nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng.(30:5) Thật dễ đọc câu KT này nhưng chỉ có những người đã bao lần khóc thầm trong đêm thâu mới thật sự kinh nghiệm được sự vui mừng khôn siết của ánh sáng mới của hy vọng, của sự hồi phục. Người Việt ta có câu thức đêm mới biết đêm dài là như vậy!
Hebrews 12:1 tells us to "run with endurance" the race set before us. George Matheson wrote, "We commonly associate patience with lying down. We think of it as the angel that guards the couch of the invalid. Yet there is a patience that I believe to be harder -- the patience that can run. To lie down in the time of grief, to be quiet under the stroke of adverse fortune, implies a great strength; but I know of something that implies a strength greater still: it is the power to work under stress; to have a great weight at your heart and still run; to have a deep anguish in your spirit and still perform the daily tasks. It is a Christ-like thing! The hardest thing is that most of us are called to exercise our patience, not in the sickbed but in the street." To wait is hard, to do it with "good courage" is harder! (Our Daily Bread)
Chúa cũng đòi hỏi chúng ta có sự kiên nhẫn với người chung quanh.
According to a traditional Hebrew story, Abraham was sitting outside his tent one evening when he saw an old man, weary from age and journey, coming toward him. Abraham rushed out, greeted him, and then invited him into his tent. There he washed the old man's feet and gave him food and drink.
The old man immediately began eating without saying any prayer or blessing. So Abraham asked him, "Don't you worship God?"
The old traveler replied, "I worship fire only and reverence no other god."
When he heard this, Abraham became incensed, grabbed the old man by the shoulders, and threw him out his his tent into the cold night air.
When the old man had departed, God called to his friend Abraham and asked where the stranger was. Abraham replied, "I forced him out because he did not worship you."
God answered, "I have suffered him these eighty years although he dishonors me. Could you not endure him one night?" (Thomas Lindberg)
Sự Nhân Từ (Ôn Hòa) – Kindness
Nếu có một từ vựng tả đời sống thì từ đó là nghiệt ngã, khắc nghiệt, ăn miếng trả miếng. Tiếng Anh có từ cut throat (cắt cổ). Nhưng người tin Chúa không là người ăn miếng trả miếng, đay nghiến, xéo mắng, nghiệt ngã. Trái lại trái TL đòi hỏi sự nhân từ (kindness).
Hình ảnh nhân từ dễ thấy, dễ hiểu nhất là của người mẹ với con nhỏ. Mẹ âu yếm, trìu mến, nhẹ nhàng vuốt tóc, vuốt má đứa con nhỏ. Nhân từ bày tỏ qua thái độ, cử chỉ, lời nói, hành động cụ thể.
[Câu chuyện của vua Đa-vít và Mê-phi-bô-sết, con hoàng tử Giô-na-than trong 2 Sa-mu-ên 9]
Nếu có dịp quí vị nên xem cuốn phim Những người khốn khổ - Les Miserables (sách dày hơn nhiều!). Chuyện kể về một tù nhân tên Jean Valjean bị xử án 5 năm vì ăn cắp một mẫu bánh mì để cứu chị và gia đình, 14 năm vì tội trốn tù. Một đêm sau khi được thả ra vì trời rét buốt ông phải vào một chủng tu viện để tạm trú. Tại đó ông ăn cắp chân đèn. Khi bị bắt lại người tu sĩ nói với cảnh sát là chân đèn đó là vật ông được tặng và trao luôn chiếc còn lại cho. Người tu sĩ cũng nói với ông rằng ĐCT đã được Chúa thương xót nên cần phải thay đổi. Chính vì lòng nhân từ này mà Jean Valjean, tù nhân trở nên một chủ xưởng giàu có và cũng là thị trưởng của một thành phố. Ông dùng chức vị và tiền của giúp đở cho những người trong cảnh bần cùng.
Hồi còn đi học nhiều quyển sách cho tôi thấy rõ sự nghiệt ngã của đời sống này, như Tắt Đèn của Ngô Tất Tố hay câu chuyện ngắn Con Sáo của Em Tôi của nhà văn Duyên Anh. Phải chăng hầu hết tiểu thuyết, phim ảnh đều nói lên về sự nghiệt ngã của cuộc đời này. Các phim tình cảm Đại Hàn, phim Tàu xem đến thì nhiều nước mắt, tiếng khóc hơn tiếng cười, niềm vui trong đời. Tìm đâu ra những người nhân từ, tử tế, có tấm lòng yêu thương, bác ái trong đời?
Trái lại, đất nước HK thường mở rộng vòng tay để chào đón những người tị nạn bần cùng. Tượng nữ thần tự do tại đảo Tự Do (Liberty Island) có một bài thơ khắc trên bản đồng khắc bài thơ với những lời kết thúc sau đây:
"Keep, ancient lands, your storied pomp!" cries she
With silent lips. "Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breathe free,
The wretched refuse of your teeming shore.
Send these, the homeless, tempest-tost to me,
I lift my lamp beside the golden door!"
Hãy đem đến ta những kẻ mệt mỏi, những người nghèo khó của ngươi
Những đám đông chen chút, khao khát được thở tự do
Những cặn bả bần cùng từ bờ rất đông người
Hãy đem đến ta những người đó, những kẻ không nhà, những người vượt bảo
Ta dơ cao ngọn đuốc bên cạnh cánh cửa vàng để chào đón họ
Đọc 4 sách Phúc Âm, không ai có thể không thấy được sự nhân từ của ĐCJC đối với những người khốn cùng: những người cùi phung bị xã hội, gia đình ruồng bỏ, những người đau khổ cần được yên ủi, người đàn bà Sa-ma-ri bên giếng, người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội tà dâm. Không có một người bệnh nào đem đến Chúa, dù khi Ngài bận rộn, mệt mỏi đến mấy mà Chúa không chửa bệnh. Không một tội nhân nào thật sự ăn năn mà Ngài không tha thứ. Chỉ có một loại người Chúa chỉ trích, lên án là những người đạo đức giả: buộc tội người khác nhưng che đậy tội lỗi chính mình như những người Pha-ri-si.
Xã hội thời Chúa sống là một xã hội nghèo khó, người giàu bóc lột người nghèo, con vua thì lại làm vua, con sải ở chùa thì quét lá đa. Bệnh không có bệnh viện, nghèo đói không có nơi giúp cho thức ăn, không nhà cửa không nơi trú ngụ. Nhưng đạo Chúa thay đổi những điều đó. Chính vì đạo Chúa mà xã hội có bệnh viện, trường học, trại cùi, cô nhi viện, nơi cho những người không nhà (homeless shelters)…
Hội thánh cần có sự nhân từ: ghét tội lỗi nhưng yêu thương, nhân từ với tội nhân. Có người viết: Vì ghét tội mà một người có thể trở nên nghiệt ngã với tội nhân… Một số người dường như quá công chính đến độ không còn chỗ cho lòng nhân từ cho những người vấp ngã.
Tín đồ có phải lòng nhân từ với người hầu việc Chúa. Đóng góp, xây dựng khác với bới lông tìm vết, chỉ trích, đả phá. Người thật sự đóng góp, xây dựng là những ở trong, cùng đổ mồ hôi, đổ nước mắt, đồng cam cộng khó trong công việc, thay vì chỉ xa cách rồi phê phán.
Hiền Lành (Đức Độ) – Goodness
Vì trái của sự sáng láng ở tại mọi điều nhân từ, công bình và thành thật. (Ê-phê-sô 5:9)
Cho nên, chúng tôi vì anh em cầu nguyện không thôi, hầu cho Đức Chúa Trời chúng ta khiến anh em xứng đáng với sự gọi của Ngài, và cho Ngài lấy quyền phép làm trọn trong anh em mọi ý định thương xót của lòng nhân Ngài (ước vọng tốt lành - BDM) và công việc của đức tin (2 Thê-sa-lô-ni-ca 1:11)
Từ này có thể được dịch là tốt lành, hay đầy dẫy ý tưởng, dự tính tốt đẹp cho người mình quan tâm, yêu mến. Một bài hát thiếu nhi thường hát God is so good, He is so good to me; Ngài thật tốt thay, thật tốt thay cho tôi. Thường chúng ta định nghĩa tốt lành, đức độ với sự ban cho những điều tốt lành, đẹp đẽ, trọn vẹn, tuyệt vời nhất.
Corrie Ten Boom giải thích: Often I have heard people say, "How good God is! We prayed that it would not rain for our church picnic, and look at the lovely weather!'" Yes, God is good when He sends good weather. But God was also good when He allowed my sister, Betsie, to starve to death before my eyes in a German concentration camp. I remember one occasion when I was very discouraged there. Everything around us was dark, and there was darkness in my heart. I remember telling Betsie that I thought God had forgotten us. "No, Corrie," said Betsie, "He has not forgotten us. Remember His Word: 'For as the heavens are high above the earth, so great is His steadfast love toward those who fear Him.'" Corrie concludes, "There is an ocean of God's love available--there is plenty for everyone. May God grant you never to doubt that victorious love--whatever the circumstances."
Nhưng sự hiền lành, tốt lành theo KT là phẩm hạnh giống như Chúa. Chúng ta hỏi làm sao con người có thể tốt như ĐCT? Câu trả lời rất đơn giản: không cách nào ngoại trừ chính Ngài giúp chúng ta.
Người ta nói nửa đùa nửa thật: vợ chồng ở lâu ngày giống nhau, giống nhau về tính tình, về suy nghĩ, cảm xúc và cả về dáng vẻ. (Dĩ nhiên nhà tôi sẽ không bao giờ muốn vậy vì Lan luôn đẹp hơn tôi!) Nhưng đây là một ví dụ đơn giản về trái TL: nếu ở trong Chúa, dần dần theo thời gian chúng ta sẽ được thay đổi để ngày càng giống phẩm hạnh Chúa hơn.
Sự tốt lành, đức độ không phải là một cái áo mặc vào ban ngày, cởi ra ban đêm. Trái TL phải trở nên suy nghĩ, phản ứng tự nhiên, như hơi thở không cần nghĩ đến mà vẫn có đó. Lúc đầu dĩ nhiên chúng ta cần ý thức như khi mới tập thể dục như bơi lội hay chạy bộ. Khi bắt đầu chỉ nghĩ đến thở cho khỏi đứt hơi nhưng với thời gian người tập thể dục có thể vừa suy nghĩ vừa bơi hay chạy.
