Bình An Từ Đời, Bình An Từ Trời?
Trong bài giảng sáng nay dựa theo đoạn KT này, tôi muốn cùng qv suy nghĩ về sự khác biệt giữa bình an từ đời và bình an từ trời. Hai phần trong bài giảng: 1) Bình an từ đời là gì và có thật hay không? 2) Bình an từ trời là gì và liên hệ thế nào đến GS?
Nghĩ đến GS mọi người đều nghĩ đến sự bình an. Có lẽ từ lời của thiên sứ cùng những người chăn chiên: Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người! (Lu 2:14) hay từ đoạn KT trong Ê-sai viết về tên của Đấng Mê-si: Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an. (Ê-sai 9:6) Hay cũng có thể từ những bài thánh ca GS, như đêm xuống êm đềm, chuông thánh vang rền, lướt lướt êm qua bao nhiêu…
Khi nghe đọc câu chuyện GS rất nhiều người, gồm cả tín đồ, liên hệ đến cảnh vật thật bình an như trong các thiệp mừng GS: thiên sứ bay lượn trên chuồng chiên máng cỏ như để chúc mừng hay bảo vệ con trẻ mới sanh, cùng Mari & Giô-sép; máng cỏ rất sạch sẽ, hoàn toàn không có phân của các súc vật; những người chăn chiên đứng quanh chuồng chiên, máng cỏ; 3 vua quì lạy dâng của lễ quí con con trẻ mới sinh. Một cảnh tượng thật êm đềm, bình an! Thực tế hoàn toàn khác với cảnh này.
Tiếng thị phi trong làng Nazaret khi nhìn thấy Mari mang thai dù chưa lập gia đình với Giô-sép: đồ gái hư thân mất nết, đồ gái chửa hoang. Như lời mai mỉa của dân chúng với ĐCJC trong Giăng 8:41 không phải là con ngoại tình.
M. & G. phải đi một khoảng đường gần 80-90 miles từ Nazareth cho đến Bethlehem. Họ phải đi vòng qua phía đông của sông Giô-đanh thay vì đi thẳng từ N. xuống J. rồi đến B. Bởi vì họ tránh đi ngang qua xứ Sa-ma-ri. 80 miles đi bộ có thể mất khoảng 3-4 cho người bình thường. Nhưng vì M. đang có thai phải đi chậm và ghé nghĩ nên có thể mất 4-5 ngày. Khi đến B. thì 2 người chắc đã mệt mỏi lắm. Vì đông người đến B. để kiểm tra dân số nên không còn nhà quán cho họ và phải tạm trú nơi chiên cừu ở. Và tại đó M. sinh con trẻ Jesus.
Chuồng chiên máng cỏ là nơi súc vật ở, tối tăm, hôi hám, dơ bẩn vì chiên cừu, lừa hay ngựa không biết xin phép trước khi tiểu tiện! Ma-ri chắc chắn rất đau lòng vì phải sinh con mình nơi súc vật sống. Giô-sép lo lắng vì không biết có đủ tiền để ở lại Bết-lê-hem và phải tìm nơi ở khác cho đến khi xong việc kiểm tra dân số, không phải chỉ vài ngày nhưng cho 40 ngày nữa. Tại sao? Vì phải dâng con trẻ tại đền thờ Jerusalem sau thời gian thanh tẩy 40 ngày (7 ngày không sạch + 33 ngày phải ở trong nhà = 40). Nếu là con gái thì thời gian này là 80 ngày!
1Khi được tám ngày, là lúc hài nhi chịu lễ cắt bì, con trẻ được đặt tên là Giê-su, tên thiên sứ đã đặt trước khi Ma-ri có thai. 22Khi kỳ thanh tẩy theo luật Môi-se đã hoàn tất, Giô-sép và Ma-ri đem hài nhi Giê-su lên Giê-ru-sa-lem để dâng cho Chúa (Lu-ca 2:21-22)
Sau 40 ngày khi lên đền thờ thành Giê để dâng con trai đầu lòng cho ĐCT, họ lại gặp một người đã già tên Si-mê-ôn. Ông ẵm con trẻ, cầu nguyện cảm tạ Chúa vì đã được thấy Đấng Mê-si (Lu-ca 2:25-32). Sau đó S. chúc phước cho M. & G. rồi nói với Ma-ri: “Này, đứa trẻ nầy sẽ là cớ cho nhiều người trong I-sơ-ra-ên ngã nhào hay trỗi dậy và sẽ là cớ cho người ta chống đối, 35để những tư tưởng thầm kín trong lòng họ được lộ ra. Còn chính cô, cô sẽ đau đớn như bị một thanh gươm đâm thấu vào lòng. (Lu-ca 2:34-35 – BD2011). Qv là mẹ nghĩ sau về những lời này? Có khiến cho qv yên lòng, bình an hay không?
Đây là lý do không có các bác sĩ quì lạy khi những người chăn chiên đứng quanh nhìn ngắm. Nhiều năm trước đây sau một bài giảng GS trong đó có các bác sĩ từ phương đông thì có người gởi email trách tôi giảng sai. Người đó nói rằng tại sao MS mà lại không biết rằng chỉ có ba vua có tên tuổi rõ ràng đến thờ lạy Jêsus. Sao lại giảng rằng các nhà thiên văn (bác học, thông thái)! Theo truyền thuyết có ba vua có tên là Caspar, vua của Tarsus, đất của nhủ hương; Melchior, vua xứ Arabia, đất của vàng; Balthasar, vua của Saba (SAY-ba) hay Sheba, nơi một dược đầy cây.
Tuy nhiên không nơi nào trong KT gọi họ là vua hay cho chúng ta biết về con số lẫn tên của các bác sĩ này. Ma-thi-ơ chỉ cho biết: có mấy thầy bác sĩ ở đông phương đến thành Giê-ru-sa-lem. Mấy có nghĩa là 3 hay 5 hay 10. Nếu có 5 người thì khi dâng ba của lễ vật: vàng, nhũ hương, một dược, họ có thể chọn 3 người đại diện để dâng. Những người bác sĩ, hay thông thái này là ai? Từ magi là tiếng Hy-lạp mượn từ tiếng Persian (Phê-ri-sê) magus có nghĩa là giàu có, quyền thế, tài giỏi.
Họ chỉ đến Bết-lê-hem khi hài nhi Giê-xu độ 40 ngày, tức một thời gian ngắn trước hay sau 40 ngày Ma-ri & Giô-sép chờ cho đến hết những ngày thanh tẩy. Khi gặp con trẻ thì mừng rỡ quá bội. 11 Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của báu ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược. (Ma-thi-ơ 2:11). Chú ý khi những người chăn chiên đến trong đêm Chúa giáng sinh, họ đến chuồng chiên, nhưng khi các bác sĩ đông phương đến thì họ đến nhà mướn, nhà trọ của M. & G.
Và sau khi các bác sĩ ra về, thiên sứ hiện ra cùng Giô-sép trong giấc chiêm bao: Sau khi mấy thầy đó đi rồi, có một thiên sứ của Chúa hiện đến cùng Giô-sép trong chiêm bao, mà truyền rằng: Hãy chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trốn qua nước Ê-díp-tô, rồi cứ ở đó cho tới chừng nào ta bảo ngươi; vì vua Hê-rốt sẽ kiếm con trẻ ấy mà giết. 14 Giô-sép bèn chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài đang ban đêm lánh qua nước Ê-díp-tô. (Ma-thi-ơ 2:13-14)
Tin báo từ thiên sứ cho Giô-sép trong giấc chiêm bao cho biết rõ vì vua Hê-rốt muốn tìm kiếm con trẻ Giê-xu để giết nên ông phải đem vợ con mình tị nạn tại xứ Ai-cập phía nam của thành Giê-ru-sa-lem (~320 miles) tức khoảng 10-12 ngày đường. Vậy ĐCJC cũng là người tị nạn như bao nhiêu người tị nạn hôm nay! Phải bỏ xứ mình trong đêm khuya để đi đến xứ Ai-cập xa lạ là điều chắc chắn khiến cho cả 2 vợ chồng rất lo lắng, hoang mang, không biết ngày mai thế nào. Qv nghĩ trong đêm chạy trốn đó, tâm trạng của Ma-ri và Giô-sép thế nào? Hoàn toàn bình an? Chưa nói đến tương lai vì ở tại xứ lạ quê người Giô-sép làm gì để nuôi vợ con.
Khi phán bảo với Giô trong giấc chiêm bao thiên sứ không cho biết họ phải ở lại đó bao lâu, nhưng chỉ bảo: Hãy chờ dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trốn qua nước Ê-díp-tô, rồi cứ ở đó cho tới chừng nào ta bảo ngươi (Matt 2:13). Và theo lịch sử gia đình Chúa ở lại Ai-cập khoảng 4 năm dài.
Một chi tiết nhỏ nhưng quan trọng cho 2 vợ chồng M. & G. khi sống ở Ai-cập trong 4 năm dài. Họ làm gì để sống? Có thể G. mướn một nơi ở rồi làm nghề thợ mộc. Nhưng tôi tin rằng G. & M. sống nhờ của lễ dâng của các bác sĩ! Họ dâng gì? Vàng! ĐCT thật cũng đã chuẩn bị phương tiện trước khi gọi M. & G. lánh nạng tại Ai-cập.
Tôi muốn nói điều gì? GS hoàn toàn không đem lại sự bình an cho Ma-ri & Giô-sép nếu nhìn theo góc độ của con người. Trái lại đầy khó khăn, thử thách, đời sống bấp bênh không biết phải ở lại Ai-cập chờ đợi bao lâu mới được trở lại cuộc đời bình thường, tẻ nhạt của người thợ mộc tại Na-xa-rét.
Theo người đời thì sự bình an trong đời sống đến từ đâu? Dĩ nhiên đời sống sẽ hoàn toàn không có sự bình an khi phải trải qua những điều như M. & G.
BÌNH AN TỪ ĐỜI
Theo quan điểm phổ thông: Bình an” có nghĩa là trạng thái an lành, yên tĩnh và không bị đe dọa hay xáo trộn. Thường được dùng để miêu tả một trạng thái của sự yên tĩnh và hài lòng, không có căng thẳng, xung đột hay bất kỳ điều gì gây phiền hà. Nói về một trạng thái tinh thần hoặc trạng thái vật chất, và sự bình an có thể được đạt được thông qua nhiều cách khác nhau, chẳng hạn như thực hành thiền, tìm kiếm sự đồng thuận, hoặc cải thiện tình hình xã hội và kinh tế.
Cuộc sống bình an là trạng thái mà con người đang sống trong một môi trường an toàn, yên tĩnh và không có nguy hiểm đe dọa tới tính mạng, sức khỏe, tài sản hay quyền lợi của mình. Cuộc sống bình an không chỉ đề cập đến trạng thái an toàn về mặt vật chất mà còn đề cập đến tình trạng tinh thần của con người.
Theo người đời thì bình an đến từ nổ lực, cố gắng của cá nhân; không ai có thể đem đến cho mình sự bình an cả nhưng chính mình phải chủ động tìm kiếm, thay đổi đời sống… Cả Phật Giáo cũng dạy không ai, cả Phật có thể đem đến sự bình an cho người; mỗi người phải tự cố gắng làm theo những điều phật dạy. Ra tiệm sách, tìm trên mạng, qv sẽ thấy có biết bao nhiêu sách vở, lý thuyết, hội nghị, khóa học nhằm giúp cho con người tìm được sự bình an trong cuộc sống này.
Lương tâm là tiêu chuẩn, mực thước. Tôi sống sao miễn không hổ thẹn với lương tâm mình.
Tôi muốn qv cùng suy nghĩ về một câu hỏi: Ai cai trị thế giới này? Ba lãnh thổ: 1) Thế giới này dưới sự cai trị, làm chủ của Sa-tan, ma quỉ. KT gọi Sa-tan là chúa của đời này; 2) Đất nước, lãnh thổ dưới sự cai trị của những người lãnh đạo, của các đảng phái, ý thức hệ; 3) Cá nhân dưới sự cai trị của chính tôi và qv. Tôi là chúa, là chủ của đời tôi. Không ai có thể buộc tôi làm bất cứ điều gì tôi không muốn.
Sa-tan chắc chắn sẽ tạo mọi điều kiện để con người có sự bình an giả tạo, tạm bợ mà quên đi Đấng GS. Như lời của nó khi cám dỗ ĐCJC trong đồng vắng: Ma quỉ lại đem Ngài lên trên núi rất cao, chỉ cho Ngài các nước thế gian, cùng sự vinh hiển các nước ấy; 9 mà nói rằng: Ví bằng ngươi sấp mình trước mặt ta mà thờ lạy, thì ta sẽ cho ngươi hết thảy mọi sự nầy (Ma-thi-ơ 4:8-9).
Sự bình an của đời đến từ đâu: từ mọi điều “vinh hiển” trong thế gian. Về vật chất gồm có vài điều sau đây: Tiền của, sự sản, sắc đẹp, học vấn, bằng cấp, địa vị, tài giỏi, thành công. Về tinh thần gồm có: sức khỏe, đời sống gương mẫu, tuân thủ luật pháp, đạo đức, việc làm công quả giúp đở người. Có tất cả những điều này thì đêm ngủ yên giấc, ngày thấy lòng bình an, hạnh phúc.
Thông thường bình an từ đời đến khi con người nhận được những gì mình muốn. Thân thể khỏe mạnh, đầy đủ mọi tiện nghi trong cuộc sống, sung túc, giàu có. Làm ăn buôn bán phát tài. Gia đình vui vẻ, thuận hòa; con cái thành công, học hành đến nơi đến chốn, đổ đạt. Bình an từ đời đến do nỗ lực, cố gắng, cho công sức, thành quả đạt được của cá nhân.
Sa-tan dùng những điều này để đem đến sự bình an giả tạo để con người quên đi ĐCT, nghĩ mình không cần ĐCT cũng vẫn có sự bình an trong đời. Tại sao tôi phải cần đến ĐCT để có sự bình an trong đời trong khi tôi có thể tự mình đạt được qua vật chất, đạo đức? Đây là một lý do quan trọng khiến dân chúng sống tại những quốc gia văn minh, tiện nghi, giàu có ít tin Chúa hơn là những người sống thiếu thốn, khốn khổ về vật chất. Khi thiếu thốn, người ta kêu cầu cùng Chúa nhưng khi có đủ hay dư thừ thì cần gì đến ĐCT nữa.
Nhưng lời dạy của ĐCJC hoàn toàn khác: Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Vậy thì người lấy chi mà đổi linh hồn mình lại? (Ma-thi-ơ 16:26)
Sự bình an từ đời rất mong manh, có đó mất đó. Tại sao?
Vì tội lỗi trong đời người, vì lòng tham lam, ích kỷ của con người.
Vì lòng ganh tị, thù ghét như khi Ca-in giết em mình A-bên. Như khi vua Sau-lơ chỉ vì một bài hát của những phụ nữ trong xứ mà sinh lòng ganh tị với Đa-vít, rồi tìm giết Đa-vít trong suốt hơn 10 năm dài.
Là lý do vợ Gióp khuyên ông hãy rủa sả ĐCT rồi chết còn hơn sau khi Gióp mất tất cả.
Như Đê-ma vì ham hố đời này mà bỏ Phao-lô:
Vì nỗi lo sợ sẽ mất đi chức phận như vua Hê-rốt mà nhẫn tâm giết các con trẻ dưới 2 tuổi
Gia-cơ giải thích rõ hơn như sau: Vì đâu sinh ra những cuộc chiến đấu, tranh chấp giữa anh chị em? Không phải do những ham muốn đang đấu tranh với nhau trong chi thể của anh chị em sao? 2 Anh chị em tham muốn mà chẳng được gì; anh chị em giết người và ganh ghét mà không chiếm đoạt được; anh chị em vẫn tranh chấp và chiến đấu (Gia-cơ 4:1-2a)
Hễ khi nào thế giới này, các nước trên đất và cá nhân vẫn còn dưới quyền làm chủ của Sa-tan, của con người, của cá nhân thì khi ấy vẫn còn chiến tranh và bất an. Hễ khi nào còn tội lỗi, tấm lòng con người còn tham lam, so sánh, ganh ghét, hiềm khích, ích kỷ, tranh đua, thì thế gian vẫn còn bất an, chiến tranh, loạn lạc. Chỉ khi Đấng Cứu Tinh làm chủ cả ba lãnh thổ, vương quốc (realms, domains) thì lời phán của thiên sứ cùng các mục đồng mới trở nên sự thật.
Vì trong vòng họ, từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, đều tham lam; từ kẻ tiên tri cho đến thầy tế lễ, đều làm sự giả dối. 14 Họ rịt vít thương cho dân ta cách sơ sài mà rằng: Bình an! Bình an! mà không bình an chi hết. (Giê-rê-mi 6:13-14) Thật vậy, bởi chúng nó lừa dối dân ta mà rằng: Bình an; mà chẳng có bình an chi hết. (Ê-xê-chi-ên 13:10)
Những giờ phút bình an trước đây trở thành những kỷ niệm chua chát, cay đắng, đau lòng!
Như Giê-rê-mi viết: Hãy nhớ đến sự hoạn nạn khốn khổ ta, là ngải cứu và mật đắng. 20 Hồn ta còn nhớ đến, và hao mòn trong ta. (Ca thương 3:19-20)
GIÁNG SINH VÀ BÌNH AN TỪ TRỜI
Bình an từ trời đến từ: 1) ý thức mình không thể tự cứu mình nên đến với ĐCJC để được cứu. 2) Lời Chúa trong KT 3) sự hiện diện của ĐTL trong đời sống người tin Chúa
Lời phán của các thiên sứ cùng những người chăn chiên trong bản dịch cũ là: bình an dưới đất, ân trạch cho loài người. Nhưng thật sự câu KT này phải được dịch là bình an dưới đất cho người được ân huệ của ĐCT. Bản dịch mới dịch là Bình an dưới đất cho người Ngài thương. Bản dịch 2011: Bình an dưới thế cho người được ơn. BDY của MSTS Lê Hoàng Phu: Bình an dưới đất cho người thành tâm (những người được ân huệ của Chúa!). Bản phổ thông của học giả Phạm Quang Tâm: Hòa bình dưới thế cho kẻ làm vui lòng Ngài.
Tôi nghĩ lời dịch Bình an dưới đất cho người thành tâm có thể gây ra một hiểu lầm lớn. Nếu thành tâm là lòng chân thành đến với ĐCT vì biết mình là người có tội không thể tự cứu mình thì thật là một ý đúng. Nhưng nếu thành tâm có ý để nói rằng chỉ có những người sống thiện, sống chân thật, sống đạo đức mới nhận được sự bình an từ trời thì quả thật rất sai lời KT dạy.
Chúng ta không làm việc làm, việc thiện, việc công đức để được cứu rỗi. Nhưng khi đã được cứu rồi chắc phải sống, phải làm những điều này. Cũng vậy không phải chỉ có những người có tấm lòng nhân từ, chân thật mới nhận được bình an từ Chúa. Trái lại sự bình an này được ban cho những người ý thức tôi là người có tội, tôi cần được hòa giải với ĐCT qua sự tin nhận ĐCJC.
Vậy đầu tiên là sự bình an đến qua sự cứu rỗi của ĐCJC cho tội lỗi loài người.
Bài thánh ca Kìa Thiên Binh Cùng Nhau Trổi Hát tóm tắt ý nghĩa của sự bình an dưới thế này rất chính xác qua lời sau đây: Bình an ân trạch ban khắp cả, Chúa và người đôi bên thuận hòa.
Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta… Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài, thì huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Con ấy mà được cứu là dường nào! (Rô-ma 5:1, 10).
Đến từ lời hứa của Chúa trong KT và sự hiện diện của ĐTL trong đời sống người tin Chúa.
Như khi ĐCJC hứa cùng các môn đồ: Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi (Giăng 14:27). Chú ý hai câu sự bình an ta và sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Rõ ràng Chúa nói sự bình an Chúa ban cho khác với sự bình an của thế gian cho.
ĐCJC cũng nói rõ cùng các môn đồ trong đêm cuối đời: Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33). Có lòng bình an, tin tưởng chắc chắn trong Chúa dù trong thế gian sẽ có hoạn nạn.
Như lời Phao-lô: Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên, 18 bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy (2 Cor 4:17-18)
Vậy sự bình an của ĐCT khác với sự bình an của thế gian. Dù trong thế gian này có chiến tranh, mất mát, xung đột thì ai có sự bình an Chúa ban cũng vẫn có thể vững lòng. Sự bình an này không bảo đảm cho sự hoàn toàn an ninh, thịnh vượng, tốt đẹp trong cuộc sống. Trong cuộc sống trên đất này chắc chắn qv sẽ có lúc hoạn nạn. Dù trong cảnh hoạn nạn người có Chúa vẫn có sự bình an. Lý do gì? Vì có Chúa bên mình.
Khi ĐCJC phán: hãy cứ vững lòng, Ta đã thắng thế gian rồi, có nghĩa là nếu qv và tôi ở trong vòng che chở, bảo vệ của ĐCT thì chúng ta có sự bình an, dù đang trong những cảnh ngộ ngặt nghèo, khó khăn nhất. Đây là sự bình an mà Phao-lô gọi là Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ. (Phi-líp 4:7)
Người đời cũng nói ta đã thắng thế gian với ý nghĩa khác. Ta là tôi, thắng thế gian là thắng với tài năng, sức lực của ta, với sự thành công, giàu có, thế lực của ta. Ta thắng thế gian vì ta có thế gian và chinh phục được những điều ta muốn trong thế gian vật chất này. Chiến thắng đó, sự bình an đó tùy thuộc vào sự còn hay mất những điều đang có. Còn đủ thì có bình an. Mất đi thì mất bình an!
Trong mỗi lá thư viết cho các hội thánh, Phao-lô luôn chào hỏi và cầu nguyện cho tín đồ được sự bình an trong Chúa: Nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta! (Cô-lô-se 1:2) Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em, là bình an mà anh em đã được gọi đến đặng hiệp nên một thể; lại phải biết ơn. (3:15)
Hiện nay trong phòng nhóm, chỉ có hai loại người: 1) Họ nói với ĐCT: ý Chúa được nên. Đây cũng là những người xem sự bình an từ trời trọng hơn bình an từ đời, 2) Chúa nói với họ: ý ngươi được nên. Ngươi chọn để có sự bình an từ đời: thành công, tài sản, sắc đẹp, địa vị.
Giữa hai sự bình an của thế gian và của ĐCT ban cho, giữa hai nơi nương cậy, vật chất và ĐTL, qv chọn sự bình an nào? Chọn sự bình an thế gian qua vật chất, tiền của, tài giỏi, sắc đẹp, chính những điều này sẽ lấy đi sự bình an trong cuộc đời qv; bởi vì mọi điều này rồi sẽ mất đi và không ai đem theo với mình khi qua đời.
