Bình An Dưới Thế?
KT theo sách Lu-ca ghi lại rằng trong đêm ĐCJC giáng sinh, thiên sứ hiện ra cùng những người chăn chiên đang thức đêm canh giữ bầy chiên. Thiên sứ báo cho họ một Tin Lành: Thiên sứ bèn phán rằng: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. (Lu-ca 2:10-11). Rồi có muôn vàn thiên sứ hát ngợi khen Đấng đã giáng sinh: Bỗng chúc có muôn vàn thiên binh với thiên sứ đó ngợi khen Đức Chúa Trời rằng: Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người! (2:14)
Tựa đề bài giảng dựa theo lời các thiên sứ ngợi khen Đấng giáng sinh: Bình an dưới thế. Tôi muốn cùng qv suy gẫm về những câu trả lời cho hai câu hỏi sau đây: 1) Bình an dưới thế, bình an trên thế gian này có thật hay không? 2) Sự giáng sinh của Jesus Christ có thật đem lại bình an trên đất không?
BÌNH AN TRÊN ĐẤT
Khi nói, nghĩ về bình an trên đất/dưới thế, người ta thường nghĩ đến 2 điều: 1) Không có chiến tranh, xã hội thanh bình, cửa thường bỏ ngõ; 2) Bình an trong tâm hồn, không lo lắng, bận tâm vì đầy đủ hay đã đạt đến một trạng thái mà dù hoàn cảnh thế nào, lòng vẫn có sự yên bình (hình ảnh của Phật). Câu hỏi là có phải đây là hai sự bình an mà thiên sứ đã báo cùng những người chăn chiên về tin mừng khi Chúa Jesus giáng sinh?
Đầu tiên qv có thể nhận thấy rõ rằng sự bình an mà thiên sứ báo tin không phải là hòa bình trên thế giới đến bởi chính trị, kinh tế, bởi sự thỏa thuận của các chính quyền, quốc gia trên thế giới này.
Gần 300 năm trước đây vào thế kỷ 18 tại Âu Châu có một giai đoạn (thời kỳ) gọi là Age of Enlightenment, Thời kỳ Khai sáng, khai minh. Tự điển Wikipedia giải thích về thời kỳ này như sau: Thời kỳ Khai sáng thường được liên hệ chặt chẽ với cuộc cải cách Khoa học, do cả hai phong trào đều nhấn mạnh vào lý tính, khoa học hay sự hợp lý, trong khi phong trào Khai sáng còn tìm cách phát triển hiểu biết có hệ thống về các quy luật tự nhiên và thần thánh… Những người đi đầu phong trào tin rằng họ sẽ dẫn thế giới vào một tiến trình từ một thời kỳ dài của truyền thống nghi ngờ, sự phi lý, mê tín dị đoan, và độc tài mà họ gọi là Thời kỳ Đen Tối (Dark Ages).
Suy nghĩ = tôn giáo, mê tín -> độc tài -> chận đứng sự phát triển của xã hội, con người.
Phong trào khai sáng này tìm mọi cách qua lý tính, khoa học hay sự hợp lý mà giải thích các qui luật tự nhiên và thần thánh. Kết quả? Người ta bắt đầu loại bỏ ĐCT ra khỏi xã hội, ra khỏi đời sống của con người khai sáng, văn minh. Tại sao? Bởi vì Trời chỉ là sản phẩm của mê tín, dị đoan, hay sự sợ hãi trước thiên nhiên của người tiền cổ.
Một điều nghịch lý là dù cổ vỏ cho lý lẽ, cho tiến bộ thì biết bao nhiêu xương máu con người đã đổ ra trong những cuộc cách mạng trên danh nghĩa này từ cách mạng Pháp (1789-1799), cách mạng Bolshevik tại Nga (1917) đưa đến chế thể cộng sản đầu tiên, hay của Đức quốc xã (1933), hay cách mạng Polpot tại Cambuchia (1975-77).
Tôi không phủ nhận những kết quả tích cực của thời kỳ này như sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, sự cải tiến đời sống của dân chúng, quyền tự do, bình đẳng, độc lập trong xã hội. Nhưng một điều hiễn nhiên đến ngày hôm nay là dù có khai sáng cho đến hôm nay (gần 300 năm qua) thì loài người, xã hội, thế giới này vẫn không thể nói như các thiên sứ: bình an dưới đất. Thậm chí nhiều người nghĩ rằng một số xã hội tại các quốc gia vùng Trung Đông và Phi Châu đang trở lại thời kỳ đen tối (Dark Ages)!
Không ai là người tỉnh táo, còn suy nghĩ, nhận xét được lại có thể nói như lời thiên sứ: Bình an trên thế gian này! Tại sao? Đơn giản vì khi nhìn thấy thực tế của đời sống trên thế gian này, những điều đang và có thể sẽ xảy ra.
Chiến tranh vẫn còn đang xãy ra hằng ngày trên thế giới. Cuộc chiến tại các xứ Trung Đông, khiến hằng triệu người phải bỏ xứ, tị nạn tại các quốc gia Âu Châu. Cuộc chiến tranh tại xứ Syria trong hơn 4 năm qua đã khiến cho trên 250 ngàn người dân bỏ mạng và khiến gần 7.6 triệu người phải tị nạn trong xứ (bỏ làng đến thành khác) và khoảng 4 triệu người tị nạn tại các nước lân cận, gồm cả Âu Châu. Làm sao có thể nói như thiên sứ: bình an dưới đất?
Tệ nạn xã hội xãy ra hằng ngày, hằng giờ. Làm sao có thể nói như thiên sứ: bình an dưới đất?
Tôi cũng không cần cho qv biết tin tức về số người hôm nay, đặc biệt thiếu nữ và trẻ em, bị bắt làm nô lệ tình dục. Tin tức về việc người ta mua những bộ phận trong thân thể từ những người nghèo khó rồi bán cho người giàu cần bộ phận đó. Hay tin tức về số tội ác trong xã hội, số ly dị trong gia đình, số người thất nghiệp, số học sinh bỏ học… Thống kê mới nhất cho biết 70% dân số HK tin rằng quốc gia này đang trong con đường sai lạc (wrong track). Làm sao có thể nói như thiên sứ: bình an dưới đất?
Đến nỗi Đức Giáo Hoàng của hội thánh Công Giáo La-mã, khi đến thăm nghĩa trang của 100 ngàn lính Ý bỏ mạng trong cuộc Đại chiến I, cũng phải có những lời sau: Humanity needs to weep, and this is the time to weep. Even today, after the second failure of another world war, perhaps one can speak of a third war, one fought piecemeal, with crimes, massacres, destruction – Loài người cần phải khóc, và đây là thời gian để khóc. Ngay ngày hôm nay, sau sự thất bại lần thứ hai của một thế chiến (thế chiến thứ 2), có lẽ người ta có thể nói về một thế chiến thứ ba, cuộc chiến đang xãy ra phần nhỏ, với tội ác, thảm sát, tàn phá. Làm sao có thể nói như thiên sứ: bình an dưới đất?
Chưa bao giờ trong lịch sử loài người mà xương máu con người lại đổ ra nhiều như trong thế kỷ 20 tức 300 năm sau thời kỳ khai minh.
Chiến tranh, tội ác đã có từ thưở ban đầu trong gia đình, giữa hai anh em (Ca-in & A-bên) rồi lan ra đến người chung quanh khi Lê-méc giết người trẻ tuổi vì đánh ông sưng bầm! Đến thời Nô-ê thì Bấy giờ CHÚA thấy tội ác của loài người quá nhiều trên mặt đất. Lòng người nào cũng mải mê toan tính những chuyện xấu xa tội lỗi (STK 6:5 – BD2011). Có thời đại nào trong lịch sử lại không có chiến tranh, đau khổ, mất mát. Làm sao có thể nói như thiên sứ: bình an dưới đất?
Gia-cơ giải thích rõ hơn như sau: Vì đâu sinh ra những cuộc chiến đấu, tranh chấp giữa anh chị em? Không phải do những ham muốn đang đấu tranh với nhau trong chi thể của anh chị em sao? 2 Anh chị em tham muốn mà chẳng được gì; anh chị em giết người và ganh ghét mà không chiếm đoạt được; anh chị em vẫn tranh chấp và chiến đấu (Gia-cơ 4:1-2a)
Ai cai trị thế giới này? Ba lãnh thổ: 1) Thế giới này dưới sự cai trị, làm chủ của Sa-tan, ma quỉ. KT gọi Sa-tan là chúa của đời này; 2) Đất nước, lãnh thổ dưới sự cai trị của những người lãnh đạo, của các đảng phái, ý thức hệ. Hễ còn quốc gia là còn xung đột giữa các quốc gian, xung đột giữa những người lãnh đạo tham vọng muốn làm bá chủ thiên hạ, xung đột giữa tầng lớp, giai cấp, giống người, màu da khác nhau; 3) Cá nhân dưới sự cai trị của chính tôi và qv. Tôi là chúa, là chủ của đời tôi. Không ai có thể buộc tôi làm bất cứ điều gì tôi không muốn.
Hê khi nào thế giới này, các nước trên đất và cá nhân vẫn còn dưới quyền làm chủ của Sa-tan, của con người, của cá nhân thì khi ấy vẫn còn chiến tranh và bất an. Chỉ khi Đấng Cứu Tinh làm chủ cả ba lãnh thổ, vương quốc (realms, domains) thì lời phán của thiên sứ cùng các mục đồng mới trở nên sự thật.
Nói cách khác hễ khi nào còn tội lỗi, khi nào tấm lòng con người còn tham lam, so sánh, ganh ghét, hiềm khích, ích kỷ, tranh đua, thì thế gian vẫn không thể nói như thiên sứ: bình an dưới đất. Bao nhiêu ngàn năm đã qua trong lịch sử loài người, tội lỗi vẫn ở đó vì nó nằm sâu, dấu sâu, ẩn sâu trong tấm lòng của mỗi người, của qv và tôi. Nơi không ai thấy được, biết được, ngay cả những người gần gũi với chúng ta nhất! Cũng chưa một phẩu thuật, phương thuốc, hay khoa học, kỷ thuật nào có thể lấy tội lỗi ra khỏi tấm lòng của con người.
Khi các môn đồ hỏi ĐCJC về dấu hiệu của ngày sau rốt, Chúa trả lời họ: Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu. 7 Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và động đất (Ma-thi-ơ 24:6-7) Qua lời này ĐCJC xác định rõ rằng đến kỳ cuối, chiến tranh vẫn còn!
Chúng ta có thể kết luận là lời phán của các thiên sứ cùng các mục đồng về sự bình an trong đêm Chúa giáng sinh không phải là sự vắng mặt hay chấm dứt mọi chiến tranh, xung đột giữa người và người. Hễ khi nào thế giới này còn tồn tại, chắc chắn vẫn còn chiến tranh.
Vậy có phải bình an thiên sứ phán là bình an trong tâm hồn, một trạng thái mà dù hoàn cảnh bên ngoài thế nào thì lòng vẫn bình yên hay không?
Không phải ĐCJC nói Chúa sẽ để lại sự bình an, hay PL viết về sự bình an vượt quá mọi sự hiểu biết hay sao? Không phải chúng ta thường hát: Sự bình an mà Cha ban cho tâm hồn, là bình an mà trần gian luôn mong chờ hay sao? Đúng vậy nhưng ĐCJC nói về sự bình an không phải của thế gian này, và PL cũng viết về sự bình an mà ông gọi là sự bình an trong Đấng Christ.
Cũng nhớ rằng khi tiên tri Si-mê-ôn nói về con trẻ Jesus khi cha mẹ đem Ngài lên đền thờ thành Jerusalem mà dâng con đầu lòng như luật pháp Mô-se, ông có lời thế này: Si-mê-ôn bèn chúc phước cho hai vợ chồng, nói với Ma-ri, mẹ con trẻ rằng: Đây, con trẻ nầy đã định làm một cớ cho nhiều người trong Y-sơ-ra-ên vấp ngã hoặc dấy lên, và định làm một dấu gây nên sự cãi trả; 35 còn phần ngươi, có một thanh gươm sẽ đâm thấu qua lòng ngươi (Lu-ca 2:34-35)
Đây cũng là ý của một đoạn KT thường bị hiểu lầm trong Lu-ca 12:51-53 khi ĐCJC nói: Các ngươi tưởng ta đến đem sự bình an cho thế gian sao? Ta nói cùng các ngươi, không, nhưng thà đem sự phân rẽ. 52 Vì từ nay về sau, nếu năm người ở chung một nhà, thì sẽ phân li nhau, ba người nghịch cùng hai, hai người nghịch cùng ba, cha nghịch cùng con trai, con trai nghịch cùng cha; mẹ nghịch cùng con gái, con gái nghịch cùng mẹ; bà gia nghịch cùng dâu, dâu nghịch cùng bà gia.
Chú ý Chúa không nói Ngài đem đến chiến tranh hay phân rẽ giữa các quốc gia. Vậy khi quốc gia này hay chính quyền nọ nhân danh Chúa mà gây chiến thì đừng bao giờ tin. Chúa nói khi Ngài đến, Ngài đem sự phân rẽ trong gia đình giữa người tin và không tin, người nhận ĐCJC là cứu Chúa và người từ chối. Sự phân rẽ này là trong quan hệ, ngay cả quan hệ máu mủ gần gũi, thân thiết nhất vì niềm tin vào Chúa, vì quan niệm sống khác biệt giữa người tin và không tin Chúa.
Vậy sự bình an thiên sứ phán không phải là sự bình an trong quan hệ giữa người và người, dù điều này sẽ xảy ra sau khi một người có sự bình an mà thiên sứ phán! Chúng ta sẽ trở lại điểm này sau.
GIÁNG SINH VÀ BÌNH AN TRÊN ĐẤT
Vậy lời thông báo của các thiên sứ có ý nghĩa gì? Có thật sự giáng sinh của ĐCJC đem đến bình an dưới đất hay không? Bình an dưới đất thật sự có ý nghĩa gì?
Trước khi tiên tri Si-mê-ôn nói cùng Ma-ri và Giô-sép về con trẻ Jesus sẽ là cớ gây sự cãi vả, bất hòa trong quan hệ, ông có lời sau: Lạy Chúa, bây giờ xin Chúa cho tôi tớ Chúa được qua đời bình an, theo như lời Ngài; 30 Vì con mắt tôi đã thấy sự cứu vớt của Ngài, 31 Mà Ngài đã sắm sửa đặng làm ánh sáng trước mặt muôn dân (Lu-ca 2:29-31). Sự bình an = sự cứu vớt (sự cứu rỗi - BDM). Vậy sự bình an S. nói đến là sự bình an đến qua sự cứu rỗi của ĐCJC cho tội lỗi loài người.
Trở lại lời của thiên sứ cùng những kẻ chăn chiên: Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một Tin Lành, sẽ làm một sự vui mừng lớn cho muôn dân; ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa. Nầy là dấu cho các ngươi nhìn nhận Ngài: Các ngươi sẽ gặp một con trẻ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. (Lu-ca 2:10-11).
Tin Lành = vui mừng to lớn cho cả muôn dân. Từ dịch một sự vui mừng lớn hay niềm vui lớn (BDM) thật ra gồm 2 phần: tin mừng (phúc âm) good tidings/good news + đem đến niềm vui rất lớn (great joy) từ lớn đây là mega = 1 triệu/hết sức lớn
Tin Lành = Đấng Cứu Thế, Đấng sẽ cứu mọi người/thế gian. Một điều như nghịch lý là dấu về đấng cứu cả nhân loại, chúa là một trẻ bọc bằng khăn (vải thô) nằm trong máng cỏ (nơi chiên lừa ở -> hôi hám, tối tăm, dơ bẩn!)
Sau khi công bố Tin Lành là tin sẽ đem lại niềm vui lớn cho muôn dân, là sự giáng sinh của Đấng Cứu Thế, thiên sứ ca ngợi ĐCT và phán về kết quả của Tin Lành đó. Chính nhờ TL, nhờ sự ra đời của Đấng Cứu Thế mà loài người mới nhận được bình an, ân trạch. BTT dùng 2 từ khác nhau: bình an, ân trạch. Ân trạch (ân điển – grace) là một từ cỗ, theo hán văn mà theo từ điển có 2 nghĩa chính: 1) Ơn vua ban phát cho dân; 2) Ơn lớn từ trời như mưa nhuần tưới khắp nơi trên đất.
Lời phán của các thiên sứ cùng những người chăn chiên trong bản dịch cũ là: bình an dưới đất, ân trạch cho loài người. Nhưng thật sự câu KT này phải được dịch là bình an dưới đất cho người được ân huệ của ĐCT. Bản dịch mới dịch là Bình an dưới đất cho người Ngài thương. Bản dịch 2011: Bình an dưới thế cho người được ơn. BDY của MSTS Lê Hoàng Phu: Bình an dưới đất cho người thành tâm (những người được ân huệ của Chúa!). Bản phổ thông của học giả Phạm Quang Tâm: Hòa bình dưới thế cho kẻ làm vui lòng Ngài.
Vậy lời phán của thiên sứ và về sự bình an ĐCT ban cho những ai được ơn, người Chúa thương, người được ân huệ, làm vui lòng Ngài. Nói cách khác lời phán này cho những người Chúa biết, người thuộc về Ngài, được ơn Ngài, chứ không phải cho mọi người trong thế gian.
Bài thánh ca Kìa Thiên Binh Cùng Nhau Trổi Hát tóm tắt ý nghĩa của sự bình an dưới thế này rất chính xác qua lời sau đây: Bình an ân trạch ban khắp cả, Chúa và người đôi bên thuận hòa.
Vậy chúng ta đã được xưng công bình bởi đức tin, thì được hòa thuận với Đức Chúa Trời, bởi Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta… Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài, thì huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Con ấy mà được cứu là dường nào! (Rô-ma 5:1, 10). Vậy sự bình an thiên sứ phán cùng các mục đồng chính là sự hòa thuận, hòa giải khi quan hệ giữa người và Trời được hàn gắn, nối liền qua sự chết của ĐCJC.
Chắc chắn bình an trên đất theo lời thiên sứ phán không có nghĩa là sự vắng mặt của xung đột, chiến tranh, hoạn nạn, tai ương. ĐCJC xác nhận rõ điều này khi Ngài phán cùng các môn đồ: Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi (Giăng 14:27). Chú ý hai câu sự bình an ta và sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Rõ ràng Chúa nói sự bình an Chúa ban cho khác với sự bình an của thế gian cho.
ĐCJC cũng nói rõ cùng các môn đồ trong đêm cuối đời: Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi! (Giăng 16:33). Có lòng bình an, tin tưởng chắc chắn trong Chúa dù trong thế gian sẽ có hoạn nạn.
Vậy sự bình an của ĐCT khác với sự bình an của thế gian. Dù trong thế gian này có chiến tranh, mất mát, xung đột thì ai có sự bình an Chúa ban cũng vẫn có thể vững lòng. Sự bình an này không bảo đảm cho sự hoàn toàn an ninh, thịnh vượng, tốt đẹp trong cuộc sống.
Tôi đã dùng ví dụ này nhiều lần trong nhiều bài giảng cho sự bình an. Khi vượt biển, lúc biển động, mưa gió, giông tố, sóng to, gió lớn, mọi người đều sợ hãi. Tôi thấy một em bé nằm trong lòng mẹ ngủ cách bình an. Hễ khi em còn được nằm trong vòng tay bảo vệ của mẹ, em bình an, cho dù bên ngoài có sóng to, gió lớn.
Khi ĐCJC phán: hãy cứ vững lòng, Ta đã thắng thế gian rồi, có nghĩa là nếu qv và tôi ở trong vòng che chở, bảo vệ của ĐCT thì chúng ta có sự bình an, dù đang trong những cảnh ngộ ngặt nghèo, khó khăn nhất. Như tác giả TT đã viết: Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân. 2 Vì vậy, chúng tôi chẳng sợ dầu đất bị biến cải, Núi lay động và bị quăng vào lòng biển; 3 Dầu nước biển ầm ầm sôi bọt, Và các núi rúng động vì cớ sự chuyển dậy của nó. (TT 46:1-3)
Đây là sự bình an mà Phao-lô gọi là Sự bình an của Đức Chúa Trời vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ. (Phi-líp 4:7)
Người đời cũng nói ta đã thắng thế gian với ý nghĩa khác. Ta là tôi, thắng thế gian là thắng với tài năng, sức lực của ta, với sự thành công, giàu có, thế lực của ta. Ta thắng thế gian vì ta có thế gian và chinh phục được những điều ta muốn trong thế gian vật chất này. Chiến thắng đó, sự bình an đó tùy thuộc vào sự còn hay mất những điều đang có. Còn đủ thì có bình an. Mất đi thì mất bình an!
Bài học thứ hai: Trong cuộc sống trên đất này chắc chắn qv sẽ có lúc hoạn nạn. Dù trong cảnh hoạn nạn người có Chúa vẫn có sự bình an. Lý do gì? Vì có Chúa bên mình.
Trong mỗi lá thư viết cho các hội thánh, Phao-lô luôn chào hỏi và cầu nguyện cho tín đồ được sự bình an trong Chúa: Nguyền xin anh em được ân điển và sự bình an ban cho bởi Đức Chúa Trời, là Cha chúng ta! (Cô-lô-se 1:2) Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em, là bình an mà anh em đã được gọi đến đặng hiệp nên một thể; lại phải biết ơn. (3:15)
Đến lúc cuối cùng, chỉ có hai loại người: 1) Họ nói với ĐCT: ý Chúa được nên, 2) Chúa nói với họ: ý ngươi được nên. Giữa hai sự bình an của thế gian và của ĐCT ban cho, giữa hai nơi nương cậy, vật chất và ĐTL, qv chọn sự bình an nào? Chọn sự bình an thế gian qua vật chất, tiền của, tài giỏi, sắc đẹp, chính những điều này sẽ lấy đi sự bình an trong cuộc đời qv; bởi vì mọi điều này rồi sẽ mất đi và không ai đem theo với mình khi qua đời. Nhưng nếu chọn sự bình an Chúa ban, qv sẽ hiểu được, kinh nghiệm được lời các thiên sứ phán cùng những người chăn chiên trong đêm Jesus giáng sinh: bình an dưới đất cho người được ơn Chúa.
