Biết Đấng Tôi Tin
Ấy là vì Tin Lành đó mà ta đã được lập làm người giảng đạo, sứ đồ và giáo sư, 12 ấy lại là cớ mà ta chịu khổ. Nhưng ta chẳng hề hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó. (2 Ti-mô-thê 1:12)
JÊSUS – TRỌNG TÂM CỦA NIỀM TIN CƠ ĐỐC
Trong tất cả các tôn giáo trên thế giới ngày nay, Cơ Đốc giáo (Christianity) có một đặc điểm duy nhất mà không tôn giáo này có. Niềm tin Cơ Đốc gắn liền vô cùng mật thiết vào Đức Chúa Jêsus Christ, một nhân vật có thật đã sinh ra, sống, chịu chết trên thập giá hơn 2000 năm trước đây. Căn bản quan trọng nhất của niềm tin Cơ Đốc là quan hệ cá nhân của người tin với Chúa Jêsus Christ. Tôi muốn lập lại và nhấn mạnh quan hệ cá nhân. Vâng người tin và theo Chúa có một quan hệ cá nhân với Đấng họ tôn thờ, tin tưởng.
Chính vì vậy đạo Chúa và niềm tin vào Đức Chúa Trời hoàn toàn không thể tách rời với Jêsus Christ. Biết Jêsus, biết ĐCT. Sứ đồ PL, khi viết cho Ti-mô-thê, người con tinh thần trong lá thư cuối cùng vào những ngày tháng cuối đời từ tù ngục, chờ ngày xử tử, có lời sau: Ấy là vì Tin Lành đó mà ta đã được lập làm người giảng đạo, sứ đồ và giáo sư, ấy lại là cớ mà ta chịu khổ. Nhưng ta chẳng hề hổ thẹn vì biết ta đã tin Đấng nào, chắc rằng Đấng ấy có quyền phép giữ sự ta đã phó thác cho đến ngày đó. (2 Timôthê 1:12)
PL không nói với Timôthê ông đã biết được chân lý cho đời bởi vì chân lý đó nằm trong Đấng ông tin, Jêsus Christ. Ông không nói ông biết được ý nghĩa của toàn bộ lời dạy của Jêsus vì những lời dạy đó nhằm giúp ông sống, hành động, cư xử, nói năng như Chúa. Không nói ông biết đường dẫn đến thiên đàng, cửa mở đến nước Trời sáng láng, vì đường đến nước Trời là chính Jêsus Christ. Biết Jêsus, biết con đường đến sự sống vĩnh cửu nơi thiên đàng. Biết Jêsus, có đời sống bình an hôm nay và đời sống vĩnh hằng tương lai.
Học giả Jaroslav Pelikan trong sách Jêsus qua các thế kỷ (Jesus through the centuries) viết: Dù bất kỳ cá nhân nào nghĩ và tin gì về Ngài, thì Jesus của Nazareth vẫn luôn là một nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử của văn hóa Tây Phương trong suốt 20 thế kỷ (Regardless of what anyone may personally think or believe about him, Jesus of Nazareth has been the dominant figure in the history of western culture for almost twenty centuries.
Ba lý do quan trọng. Thứ nhất Jesus là trung tâm của lịch sử nhân loại. Hay ít nhất là trung tâm của số đông của nhân loại vì sự ra đời của Ngài chia đôi lịch sử nhân loại ra làm trước công nguyên (trước khi Jesus sinh ra) B.C. (Before Christ) và sau công nguyên (sau khi Jesus sinh ra) AD (Anno Domini – in the year of the Lord). Đến nay, dân số thế giới trên 7 tỉ người với 31% tin Chúa (Christian) hay 2.1 tỉ người. Có nghĩa là 1/3 dân số thế giới xưng rằng họ tin vào Jesus.
Lý do thứ hai, Jesus là trung tâm của Kinh Thánh. KT không phải là một tập hợp rải rác của các sử liệu hay tài liệu tôn giáo. Chính ĐCJC xác nhận: Các ngươi dò xem Kinh Thánh, vì tưởng bởi đó được sự sống đời đời: ấy là Kinh Thánh làm chứng về ta vậy. (Giăng 5:39). Hầu hết học giả Cơ Đốc đều đồng ý với lời tuyên bố này. Không phải chỉ vì chính ĐCJC đã phán dạy nhưng bởi vì sau khi tìm hiểu, nghiên cứu KT CU thì thấy rõ CU viết về ĐCJC.
Lý do thứ ba, Jesus là trọng tâm của truyền giáo. Tại sao người Cơ Đốc lại rời bỏ quê hương, lặn lội đường xa nguy hiểm, vượt biển sâu, núi cao, sông dài, khắc phục những khó khăn, khác biệt của phong tục, tập quán, văn hóa để làm những người truyền giáo? Không phải để bành trướng văn hóa, tổ chức, hay ý thức hệ, triết lý nào nhưng để nói về ĐCJC, Đấng họ tin tưởng, tôn thờ.
Sadhu Sundar Singh là giáo sĩ Ấn Độ vào đầu thế kỷ 20. Ông sinh cuối thế kỷ 19 trong một gia đình quyền thế đạo Sihk Ấn Độ. Khi lớn lên ông rất ghét đạo Chúa vì nghĩ đây là đạo ngoại quốc. Năm 15 tuổi ông chống đối đạo Chúa bằng cách đốt các sách Phúc Âm. Nhưng chỉ ba ngày sau khi được Chúa cứu và dù vẫn còn trong tuổi thiếu niên ông đã quyết định trở nên sadhu, người giảng lời Chúa. Một lần nọ Sundar Singh đến thăm một học viện Hindu và bị khẩu vấn về niềm tin Cơ Đốc. Người đó hỏi ông tìm được điều gì mới trong đạo Chúa mà không có trong đạo Hindu hay Sihk.
Tôi có Đấng Christ (I have Christ), ông trả lời. “Tôi biết ông tin Đấng Christ, nhưng tôi muốn biết giáo điều hay nguyên tắc gì ông tìm được khác với điều ông tin trước đây?” Điều cụ thể nhất tôi đã tìm được là Đấng Christ (The particular thing I have found is Christ), Sundar Singh trả lời.
JÊSUS - LÀM SAO TÔI BIẾT NGÀI LÀ AI?
Mỗi chúng ta đều có nhiều hình ảnh của người thân yêu. Có hình chụp lúc trẻ, có hình lúc lớn tuổi. Có hình chụp khi đang cười vui, lúc đang ăn uống, lúc đi chơi tại một nơi du ngoạn nào đó. Cũng có những hình chụp khi người thân không để ý đến. Tất cả những hình chụp này dù có khác nhau theo thời gian, khung cảnh, địa điểm, tâm tình nhưng đều phản ánh một người.
Khi nghĩ về ĐCJC người tin Chúa cũng hỏi: chúng ta có hình của Chúa không và những tấm hình đó cho chúng ta biết gì về Chúa? Câu trả lời là chúng ta có hình Chúa qua KT, đặc biệt qua 4 sách Phúc Âm, các thư tín TU của PL, Phierơ, Gia-cơ, Giăng và cả sách cuối cùng của TU là Khải Huyền. Tôi không muốn dùng chữ chân dung vì chân dung không thật sự cho chúng ta biết hết về những gì người trong ảnh suy nghĩ, nhận xét, yêu mến. KT TU cho chúng ta ít chi tiết về chân dung của ĐCJC, Ngài có hình dạng thế nào, mày mặt ra sao nhưng KT TU cho chúng ta rất nhiều chi tiết về con người của Chúa khi Ngài sống trên đất.
Qua loạt bài giảng năm nay với chủ đề Biết Đấng Tôi Tin, tôi hy vọng sẽ giúp quí vị thấy biết rõ hơn, và hiểu rõ hơn về Đấng Christ qua 2 phần.
Phần thứ nhất, chúng ta tìm hiểu KT TU dạy gì về Ngài. Đầu tiên từ 4 sách Phúc Âm: Ma-thi-ơ, Mác, Lu-ca và Giăng. Sau đó từ các thư tín viết bởi các sứ đồ như PL, Phierơ, Gia-cơ, Giăng, hay gồm cả các thư tín không rõ tác giả như Hê-bơ-rơ.
Phần thứ hai, chúng ta sẽ tìm hiểu về sự quan trọng và ý nghĩa của niềm tin vào Jesus Christ trong đời sống hôm nay và tương lai sau này. ĐCJC không chỉ là một nhân vật trong lịch sử, đã một lần sinh ra, sống tại xứ Ga-li-lê, giảng dạy về nước Trời, rồi bị xử và đóng đinh giữa hai tên trộm cướp tại thành Giê-ru-sa-lem, sau ba ngày Ngài sống lại. ĐCJC còn là Con Trời, Ngôi Hai ĐCT, là Đấng sẽ phán xử thế gian trong ngày sau rốt. Chúa sẽ trở lại thế gian này lần thứ hai, không phải để cứu rỗi nhưng để cai trị. Và khi trời này đất này không còn nữa thì Ngài còn vẫn đó vì Ngài là ĐCT.
Để hiểu rõ điều này chúng ta sẽ tìm hiểu Khải Huyền, sách cuối cùng của TU. Dòng đầu của sách cho biết về mục đích: Sự mặc thị (khải thị, mặc khải) của Đức Chúa Jêsus Christ mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến, thì Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó cho Giăng, tôi tớ Ngài (KH 1:1)
Dĩ nhiên một số tín hữu và cả những người chưa tin Chúa có thể hỏi: dù mọi người đều đọc cùng một KT nhưng nhiều người giải nghĩa nhiều cách khác nhau. Làm thế nào để tôi biết MS giải thích đúng để giúp tôi hiểu đúng về ĐCJC. Đây là một câu hỏi không những quan trọng nhưng còn hết sức thực tế.
Trước hết tôi xác nhận rằng KT có những đoạn khó hiểu, phức tạp, đòi hỏi tìm hiểu, nghiên cứu để có thể hiểu rõ và áp dụng. Tuy nhiên phần lớn KT, đặc biệt 4 sách Phúc Âm, rất rõ. 4 sách PA ghi lại những câu chuyện về cuộc đời của ĐCJC, về những lời dạy, phép lạ, việc làm của Ngài trong khoảng 3 năm dạy về sự cứu rỗi. Chúng ta có thể xem đây như chuyện kể. Vì vậy hầu hết mọi người đều có thể đọc, hiểu và đồng ý với nhau về chuyện kể về ĐCJC.
Tôi lấy ví dụ về câu chuyện Giáng Sinh. KT kể Ma-ri khi hứa hôn sắp lấy Giô-sép thì thụ thai Jesus cách mầu nhiệm bởi Thánh Linh. Giô-sép, khi nghe tin đó có ý muốn ly dị cách kín đáo. Nhưng thiên sứ của ĐCT hiện đến cùng Giô-sép trong chiêm bao và bảo đừng sợ mà hãy lấy Ma-ri làm vợ và nhận con trẻ đó làm con, đặt tên là Jêsus. Chúng ta có thể hỏi thụ thai bởi TL là thế nào. Nhưng câu chuyện đều rõ là sự kiện giáng sinh của Jesus là một sự kiện mầu nhiệm.
Trở lại với những đoạn KT khó hiểu, chúng ta có thể áp dụng cách thức phổ thông trong đời sống. Tự mình tìm hiểu, nghiên cứu hay nương cậy vào kiến thức đã tích lũy của người đi trước. Đến nay có bao nhiêu trăm ngàn sách vở bởi các học giả KT đã dày công nghiên cứu để giúp chúng ta hiểu rõ hơn lời Chúa. Chúng ta có thể tìm chọn những học giả đã có thành tích giải thích, dạy dỗ lời Chúa cách trung thực, rõ ràng, dễ hiểu để học theo.
Năm 1985 hai học giả KT tên Robert W. Funk và John Dominic Crossan cùng 75 học giả khác thành lập một nhóm nghiên cứu có tên là “Jesus Seminar”. Hai lần một năm họ họp lại để bàn thảo xem những lời nói nào của ĐCJC trong KT TU thật sự là lời Chúa nói. Họ dùng màu để phân loại: đỏ cho biết chắc chắn đó chính là lời của ĐCJC, hồng nếu có thể, xám không thực là lời Jesus nhưng gần giống, và đen chắc không phải là lời Jesus mà là lời thêm vào bởi truyền thống. Nhóm ra một quyển sách Năm sách phúc âm: Jesus thật sự nói gì? (phúc âm thứ 5 theo họ là PA theo sứ đồ Thô-ma) và kết luận rằng theo ý họ thì “82% những lời cho là Jesus nói ra trong 5 sách phúc âm này không thật sự do chính Ngài phán”. Hiện họ chuyển qua từ việc đánh giá lời nói của Jesus có trung thực hay không sang đến việc làm của Chúa. Dĩ nhiên những nghiên cứu này không có giá trị gì mấy bởi vì chỉ căn cứ vào ý kiến của 70 ngoài người thay vì dựa vào niềm tin rằng Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành. (2 Ti-mô-thê 3:16-17)
LÀM SAO TÔI CÓ THỂ TIN KT TU?
Vì chúng ta biết Chúa từ KT TU nên câu hỏi quan trọng là làm sao chúng ta có thể tin được KT TU là trung thực và chính xác. Có người viết: Chúng ta biết rất ít về Jesus. Tài liệu đầy đủ nhất về cuộc đời của Jesus là phúc âm theo Mác, không được viết ra mãi đến khoảng năm 70, tức trên dưới 40 năm sau khi Ngài chết. Đến thời điểm đó, những sự kiện lịch sử đã bị lẫn lộn với những câu chuyện huyền thoại để giải thích về ý nghĩa của những điều Jesus dạy cho các môn đồ. Đây mới thật là ý nghĩa mà Mác chủ yếu ghi lại thay vì một chân dung trung thực về Jesus. (Karen Amstrong – A history of God).
Chúng ta giải thích thế nào về những lời này? Trong sách The heart of the Buddhás teaching của thượng tọa Thích Nhất Hạnh, ông viết: Trong 400 năm trong khi Phật còn sống và sau khi Ngài mất thì những lời dạy của Ngài chỉ được truyền khẩu. Sau đó (sau 400 năm), những tu sĩ dòng Tamrashatiya xứ Sri Lanka bắt đầu nghĩ đến việc viết lại những lời đối thoại, và lời dạy của Phật trên lá. Và phải mất thêm 100 năm nữa để bắt đầu. Đến lúc đó, chúng ta được biết là chỉ có một (there was only one monk) học thuộc lòng toàn bộ lời dạy nhưng ông là người tương đối tự cao. Những thầy tu khác phải cố thuyết phục ông đọc lại những lời dạy để họ có thể viết xuống. Khi chúng ta nghe điều này, chúng ta cảm thấy hơi khó chịu vì biết rằng một tu sĩ tự cao có thể không phải là người tốt nhất để truyền đạt lại những lời dạy của Đức Phật.
Hai sách về tiểu sử của đại đế Alexander Vĩ Đại (Alexander the Great) được viết hơn 400 trăm sau khi ông mất năm 323 B.C. nhưng sử gia ngày nay đều xem hai tiểu sử này đáng tin cậy và trung thực. Sau gần 500 năm huyền thoại mới thật sự được thêu dệt thay vì sau 30-40 năm như trong trường hợp PA Mác và các thư tín.
Khi PL viết thư cho HT Cô-rinh-tô về sự chết và sống lại của ĐCJC, PL có những lời sau: Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh; và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho mười hai sứ đồ. Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ còn sống, nhưng có mấy người đã ngủ rồi. Đoạn, Ngài hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho các sứ đồ. Rồi lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem, như cho một thai sanh non vậy. (1 Cô-rinh-tô 15:3-8)
ĐCJC bị đóng đinh vào năm 30. PL gặp Chúa trên đường đi Đa-mác và tin Chúa vào khoảng năm 32-33. Khoảng hai năm sau đó ông gặp các sứ đồ tại thành Giê-ru-sa-lem, tức khoảng năm 35. Vậy khi PL viết điều mà chính tôi đã nhận lãnh tức là những điều ông học được trong thời gian 3-5 sau khi tin Chúa. Và khi viết về sự sống lại, PL xác nhận rằng Chúa hiện ra cho Sê-pha, Phierơ và 12 sứ đồ cùng hơn 500 tín đồ mà phần nhiều người trong số ấy hiện vẫn còn sống.
Kể về số lượng bản viết thì KT TU có một không hai. Ước tính có khoảng 5,500 bản sao lại (copies) gồm một phần hay toàn phần TU, và 18,000 bản sao lại từ các bản này. Bản sao cũ nhất tìm được là vào khoảng năm 120, với khoảng 50 bản khoảng 150-200. Hai bản chính ngày nay được dùng để dịch ra toàn KT TU là Codex Vaticanus (325) và Codex Sinaiticus (350) tức khoảng 250 năm từ khi bản chính viết ra. Mới nghe thấy thời gian sao xa qua nhưng hãy nhớ toàn sách Odyssey của Homer, mà hôm nay học sinh trung học vẫn học, tìm được 2,200 năm sau khi viết ra.
F.F. Bruce viết: Và nếu TU là một kết hợp của các bản viết ngoại (secular writings), thì sự trung thực đã được chấp nhận vượt trên mọi nghi ngờ. Sir Frederic Keyon, cựu giám đốc của Viện Bảo Tàng Anh Quốc, viết về TU như sau: Cả hai điều: sự trung thực và chính xác của các sách TU có thể xem là đã được chấp nhận.
BIẾT ĐẤNG TÔI TIN
Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ và được ở trong Ngài, được sự công bình, không phải công bình của tôi bởi luật pháp mà đến, bèn là bởi tin đến Đấng Christ mà được, tức là công bình đến bởi Đức Chúa Trời và đã lập lên trên đức tin; cho đến nỗi tôi được biết Ngài, và quyền phép sự sống lại của Ngài, và sự thông công thương khó của Ngài, làm cho tôi nên giống như Ngài trong sự chết Ngài, mong cho tôi được đến sự sống lại từ trong kẻ chết. (Phi-líp 3:8-11)
