Bị Phản Bội, Bắt Xử
Chúng ta sẽ tiếp tục loạt bài giảng về tuần lễ cuối đời của ĐCJC. Từ Chúa nhật khi ĐCJC vào thành Giê-ru-sa-lem cho đến sáng Chúa nhật khi Ngài sống lại từ cõi chết. Theo lời viết từ 4 sách PA thì tuần lễ cuối đời của ĐCJC là tuần lễ quan trọng nhất. Một phần ba (1/3) Ma-thi-ơ từ đoạn 21-28 viết về tuần lễ cuối đời của Chúa. 1/3 Mác, từ đoạn 11-16. 1/4 Lu-ca từ 19-24. Gần 1/2 Giăng từ đoạn 12-20. Nói tóm lại 1/3 của cả 4 sách PA viết về tuần lễ cuối đời của ĐCJC, đặc biệt về những sự kiện đưa đến sự chết trên thập giá của ĐCJC và sự Chúa sống lại.
Dĩ nhiên từ nay cho đến Phục Sinh cuối tháng 3, chúng ta không đủ thời gian để tìm hiểu tất cả mọi chi tiết về ĐCJC, mọi việc làm, mọi lời dạy của Ngài trong tuần lễ cuối cùng đó. Vì thời gian tôi chỉ chọn một số chi tiết, câu chuyện quan trọng. Như tuần qua chúng ta suy gẫm về ý nghĩa và quan trọng của sự việc ĐCJC cưỡi lười vào thành Giê vào sáng Chúa nhật.
Bài giảng sáng nay về một câu chuyện rất nghiêm trọng nhưng cũng hết sức thương tâm, về một nhân vật đầy khả năng, triển vọng để trở nên một sứ đồ ích lợi cho ĐCT và HT Ngài, nhưng đáng buồn vì cuối cùng ông đã quyết định làm theo ý riêng của mình, dẫn đến một kết cục vô cùng bi thảm. Đó là câu chuyện về Giu-đa Ít-ca-ri-ốt phản bội, bán ĐCJC với giá 30 miếng bạc.
Mục đích của bài giảng không phải để lên án hay buộc tội Giu-đa Ít-ca-ri-ốt vì điều này đã rất rõ qua lời của ĐCJC: khốn nạn cho kẻ phản bội Con Người, thà nó đừng sinh ra thì hơn. (Matt 26:24). Nhưng để chúng ta suy gẫm cẩn thận về lời dạy của PL: ai tưởng mình đứng vững, hãy cẩn thận kẻo ngã. (1 Cô-rinh-tô 10:12). Đặc biệt chớ nghĩ rằng tôi có ĐTL trong đời sống nên không sợ gì Sa-tan, ma quỉ. Dù biết ĐCJC là Con Trời, ma quỉ vẫn cám dỗ Chúa trong đồng vắng; và dù thất bại vẫn luôn tìm cơ hội khác để cám dỗ Ngài: Sau khi cám dỗ đủ cách, quỷ vương lìa khỏi Ngài, chờ cơ hội khác. (Lu-ca 4:13). Hễ ngày nào qv còn sống, ngày đó ma quỉ sẽ còn tiếp tục để khiến cho qv sa ngã, phạm tội, bỏ Chúa.
Mãi đến hôm nay, tức gần 2000 năm qua, khi nghe đến tên Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, mọi người đều rùng mình. Ngày hôm nay không ai muốn đặt tên con mình là Giu-đa cả. Bởi vì tên này đồng nghĩa với người lừa dối, phản bội, kẻ bán ĐCJC.
Trong Anh Ngữ, người ta cố phân biệt giữa tên Judah và Judas, khác nhau một chữ h và s. Dù hôm nay không ai muốn đặt tên con mình là Giu-đa, nhưng qv có thể rất ngạc nhiên khi được biết rằng đây là một tên rất phổ thông và được yêu chuộng để đặt cho các con trai trong thời ĐCJC.
Giu-đa là tên của người con thứ tư của Ỵ, 1 chi bộ trong số 12 chi bộ của dân tộc Ỵ, và là tổ phụ của vua Đa-vít. Cũng chính từ dòng dõi Giu-đa sinh ra ĐCJC, Đấng Mê-si-a. Gần thời ĐCJC, vào năm 164BC một anh hùng DT tên Judas Maccabaeus nổi dậy để dành độc lập cho dân tộc DT khỏi tay thống trị của đế quốc La-mã. Mãi cho đến hôm nay tên Judas M. vẫn còn được ghi lại trong lịch sử DT và được xem như một anh hùng dân tộc.
Ngay trong gia đình của ĐCJC, cha mẹ Ngài cũng đặt tên một con trai, em Chúa Giê-xu là Giu-đa Người này không phải là con của ông thợ mộc sao? Mẹ người chẳng phải là bà Ma-ri và các em người là Gia-cơ, Giô-sép, Si-môn và Giu-đê hay sao? (Ma-thi-ơ 13:55). Giu-đê tức là Giu-đa, người viết thư Giu-đê trong TU. Một trong 12 sứ đồ Chúa chọn cũng có một người tên Giu-đa Đến sáng, Ngài gọi các môn đệ đến, chọn mười hai người và lập họ làm sứ đồ. 14Si-môn, Ngài đặt tên là Phê-rơ; An-rê, em Si-môn; Gia-cơ; Giăng; Phi-líp; Ba-thê-lê-mi; 15Ma-thi-ơ; Thô-ma; Gia-cơ, con A-phê; Si-môn, được gọi là Xê-lốt; 16Giu-đa, con Gia-cơ và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là kẻ phản bội sau này. (Lu-ca 6:13-16). Giu-đa, con Gia-cơ còn được gọi là Tha-đê.
Nói tóm lại, trong thời đó, Giu-đa là một tên mà cha mẹ hãnh diện khi đặt tên con mình trong. Những người nam cũng hãnh diện mang tên nay.
Trong thời đó, tên không có họ nhưng chỉ có phụ thêm tên của làng, của thành nơi họ sinh ra, lớn lên như Giê-xu Na-xa-rét hay Phao-lô thành Tạt-sơ. Giu-đa Ít-ca-ri-ốt có nghĩa là Giu-đa đến từ làng Kerioth, phía nam thành Giê-ru-sa-lem. Làng Keriot được viết trong 2 sách CU: Giô-suê và A-mốt. Đây là một nơi ở của dân sự DT từ rất lâu đời.
Như dân cư sống trong vùng Giu-đê thời đó, cha mẹ ông là người Ỵ kính sợ ĐGHV và khi đặt tên con là Giu-đa ông bà bày tỏ hy vọng con sẽ trở nên một người Ỵ chân chính, kính sợ ĐGHV và theo gương của tổ phụ Giu-đa và anh hùng Giu-đa Maccabeus.
Không cha mẹ nào muốn con mình lớn lên trở nên một kẻ phản bội, bán thầy, lừa bạn cả. Trái lại khi đặt tên con là Giu-đa, cha mẹ ông bày tỏ hy vọng, mơ ước, mong mỏi cho con mình như chính tên phản ánh. Đây cũng là lý do chúng ta đặt tên con mình như: Mỹ Lệ, Hoàng Thiện, Công Minh, Anh Hùng, Anh Dũng, Hoàng Bảo, vân vân. Nhưng dù có mong mỏi đến mấy, không ai biết được tương lai con cái mình sẽ ra thế nào, ngoại trừ ĐCT.
Trong số 12 sứ đồ ĐCJC chọn, chúng ta biết một vài người có tì vết, thói xấu. Như Gia-cơ con Xê-bê-đê, và Giăng là em Gia-cơ, Ngài gọi họ là Bô-a-nẹt, nghĩa là con của sấm sét. (Mác 3:17) vì tính tình nóng nảy. Cũng chính hai anh em muốn ĐCJC khiến lửa từ trời giáng xuống để thiêu hủy những người Sa-ma-ri chỉ vì họ không tiếp rước ĐCJC! Ngài sai các sứ giả đi trước; trên đường họ vào một làng Sa-ma-ri để chuẩn bị chỗ trọ cho Ngài, 53nhưng dân chúng không chịu tiếp Ngài, vì Ngài đi lên Giê-ru-sa-lem. 54Gia-cơ và Giăng thấy thế, thưa: “Lạy Chúa, Chúa có muốn chúng con khiến lửa từ trời giáng xuống thiêu hủy họ không?” 55Nhưng Ngài quay lại quở trách hai người, 56rồi cùng các môn đệ đi qua một làng khác. (Lu-ca 9:52-56). Rồi cũng chính mẹ của hai ông lại xin ĐCJC cho con mình giữ chức lớn với ĐCJC.
Ma-thi-ơ là người thu thuế, người bị dân chúng thù ghét vì làm việc cho La-mã bắt dân chúng phải đóng sưu cao, thuế nặng để làm giàu cho mình. 4Si-môn người thuộc đảng Quá Khích (Matt 10:4). Thô-ma người hay nghi ngờ, bi quan. Và dĩ nhiên Phi-e-rơ, người thường nói trước nghĩ sau, hứa điều không giữ được.
Tuy nhiên, KT không hề viết gì về những tính xấu hay thiếu sót gì của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt mãi cho đến những ngày cuối đời của ĐCJC. Trái lại hắn là người thông minh được các môn đồ tín cẩn để giao chức vụ thủ quỹ. 11 sứ đồ là người xứ Ga-li-lê, phía bắc xứ Ỵ, thường là người nóng nảy, vội vàng. Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là người duy nhất không phải là người Ga-li-lê, nhưng là người Giu-đê, phía nam của xứ, có lẽ trầm tỉnh, điềm đạm hơn.
KT cho biết rõ ĐCJC ban cho 12 sứ đồ quyền phép trừ quỷ, chữa bệnh, gồm cả Giu-đa Ít-ca-ri-ốt: 1Đức Giê-su gọi mười hai sứ đồ lại, ban cho năng lực và thẩm quyền để trừ tất cả các quỷ và chữa bệnh. 2Ngài sai họ đi truyền giảng Nước Đức Chúa Trời và chữa lành những người đau ốm. (Lu-ca 9:1-2) Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, người được Chúa ban cho quyền năng có thể trừ các quỷ lại chính là người sau này bị ma quỉ nhập vào! Có ai trong thời điểm này có thể nghĩ rằng Giu-đa Ít-ca-ri-ốt sẽ phản bội, bán sống thầy mình?
Tôi biết việc Giu-đa Ít-ca-ri-ốt phản Chúa với giá 30 miếng bạc là ứng nghiệm của TT 41 và Xa-cha-ri 11. Tuy nhiên bài giảng này không về thần học nhưng về cuộc đời của một người có thật, bằng xương thịt, một người được cha mẹ đặt tên với mơ ước con mình nên người hữu dụng, một người được Con Vua Đa-vít, Con Trời chọn trong số hàng trăm, hàng ngàn người đi theo Ngài, một người có lòng tham lam tiền bạc như nhiều người trong chúng ta, một người rất bình thường như mọi người. Tôi và mỗi qv đây đều là người bình thường như Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, như các sứ đồ và môn đồ Chúa chọn.
30 miếng bạc cũng không phải là số tiền to lớn. Theo KTCU thì khi một nô lệ bị bò báng chết thì chủ phải trả 30 miếng bạc cho chủ người nô lệ: Nếu bò báng chết một người nô lệ nam hay nữ, chủ bò phải trả ba mươi miếng bạc cho chủ người nô lệ còn bò phải bị ném đá cho chết. (Xuất 21:32). Vì câu KT này nên một số mục sư, tài liệu giải thích những người Pha-ri-si và thông giáo chỉ xem ĐCJC đáng giá như một kẻ nô lệ!
Dù việc thẩm định giá trị của 30 miếng bạc trong thời đó giữa các nhà giải kinh và tài liệu KT có khác nhau nhưng tất cả đều đồng ý rằng đây là một số tiền không lớn lao gì. (Từ $21 đến gần $450). Vậy tại sao Giu-đa lại phản bội, bán rẽ ĐCJC?
Dù có nhiều giả thuyết, nhưng không ai, ngoại trừ ĐCT, biết chắc chắn về động cơ, nguyên nhân gì Giu-đa Ít-ca-ri-ốt lại quyết định phản bội và bán rẽ ĐCJC, một người hoàn toàn thánh khiết, nhân từ, vô tội sau 3 năm trời theo Ngài.
Một giả thuyết theo MS Chuck Swindoll: Từ Ít-ca-ri-ốt giống như một từ khác là sikarios. Từ này chỉ được dùng 1 lần trong cả TU trong CV khi PL bị bắt tại thành Giê-ru-sa-lem: Khi sắp được khiêng vào trong đồn, Phao-lô hỏi viên quan: “Tôi có được phép ngỏ đôi lời với ngài không?” Viên quan nói: “Anh biết tiếng Hy Lạp sao? 38Thế anh không phải là tên phản loạn Ai Cập trước đây đã lãnh đạo bốn ngàn quân khủng bố kéo vào đồng hoang sao?” (CV 21:37-38)
Từ dịch quân khủng bố (4000). BHĐ dịch là quân sát thủ. Từ sikarios có nghĩa là kẻ sát nhân, người mang một cây dao ngắn, hay gươm ngắng trong người để ám sát một người nào đó. Viên quan này nghĩ rằng PL bị giam vì ông là người liên hệ đến tên phản loạn người Ai-cập có 4000 kẻ sát nhân theo hắn, cho dù PL là người DT!
Vậy theo giả thuyết này, có thể nào Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là một người yêu nước, nặng tinh thần quốc gia. Không chỉ vậy nhưng có thể còn sẵn sàng dùng bạo lực, ám sát để thoát ra khỏi sự thống trị của đế quốc La-mã. Lúc đầu Giu-đa nghĩ rằng ĐCJC là Đấng Mê-si-a đến để giải thoát dân tộc Ỵ ra khỏi gông cùm, nô lệ của La-mã, để hồi phục lại lãnh thổ, để đem lại đời sống ấm êm, dư dật. Dần theo thời gian Giu-đa bắt đầu hiểu rõ rằng Giê-xu này không đến cho nước người, đến để giải thoát dân Ỵ ra khỏi ách La-mã, để đem lại cơm ăn áo mặc, đem lại bình an cho đất nước, dân sự. Trái lại ĐCJC đến để chịu chết tại thành Giê-ru-sa-lem để cứu tội muôn người. Chịu chết để cứu tội? Thật phí uổng thời gian, công sức, và cả cuộc đời! Vì vậy ngày càng ngày Giu-đa càng thất vọng, có thể nói vỡ mộng tương lai!
Dù các sách PA khi viết về Giu-đa Ít-ca-ri-ốt luôn nhắc rằng đây là người phản Chúa, bán Chúa, nhưng một câu trong PA Lu-ca khi liệt danh sách 12 sứ đồ đáng để qv suy gẫm cẩn thận: Giu-đa, con Gia-cơ và Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là kẻ phản bội sau này (Lu-ca 6:16). Bản dịch khác sau trở thành kẻ phản bội Ngài. Có nghĩa là khi ĐCJC chọn Giu-đa, Giu-đa chưa hề có ý định phản Chúa, bán Chúa. Chỉ sau này, chỉ một thời gian sau đó. Có nghĩa là từ khi được Chúa chọn, theo thời gian đức tin, tính hạnh của Giu-đa ngày càng giảm sút
Khi sự hiểu biết về ĐCJC với 11 sứ đồ ngày càng rõ hơn Ngài là ai và ngày càng tin vào lời dạy của Chúa thì Giu-đa Ít-ca-ri-ốt ngày càng thất vọng, vỡ mộng khi nghe lời Chúa dạy, khi theo Chúa. Cùng một lời dạy nhưng hai người nghe có thể hoàn toàn phản ứng, cảm xúc khác nhau, như 11 sứ đồ và Giu-đa Ít-ca-ri-ốt. [Liên hệ đến tín đồ thất vọng, vỡ mộng khi tin Chúa, theo Chúa lại gặp nhiều nghịch cảnh, mất mát, thất bại!!]
PA Giăng ghi lại một câu chuyện khi ĐCJC ở biển Ga-li-lê, Chúa thực hiện phép lạ hóa bánh và cá cho 5000 người no nê và vẫn còn thừa 12 giỏ. Sau đó KT viết: Những người đó thấy phép lạ Đức Chúa Jêsus đã làm, thì nói rằng: Người nầy thật là đấng tiên tri phải đến thế gian. 15 Bấy giờ Đức Chúa Jêsus biết chúng có ý đến ép Ngài để tôn làm vua, bèn lui ở một mình trên núi. (Giăng 6:14-15) Có thể Giu-đa Ít-ca-ri-ốt mong rằng ĐCJC sẽ nhận làm vua, không phải vua nước trời, nhưng vua nước người để đem lại bánh và cá ăn cho no nê đến dư thừa. Nhưng Chúa lại bỏ đi và ở một mình trên núi vì không muốn làm điều này.
Cũng trong Giăng 6, khi ở tại Ca-pha-na-um, ĐCJC dạy những điều rất khó nghe: Thật vậy, Ta bảo các người: Các người sẽ không có được sự sống trong mình cho đến chừng các người ăn thịt của Con Người và uống huyết của Người. 54Người nào ăn thịt Ta và uống huyết Ta thì được sự sống vĩnh phúc, còn chính Ta sẽ khiến người ấy sống lại trong ngày cuối cùng. (6:53-54). Khi nghe những lời dạy này, các môn đồ phàn nàn: Lời nầy sao khó nghe quá, ai chấp nhận nổi? (6:60).
Từ lúc ấy, có nhiều môn đồ Ngài trở lui, không đi với Ngài nữa. 67 Đức Chúa Jêsus phán cùng mười hai sứ đồ rằng: Còn các ngươi, cũng muốn lui chăng? 68 Si-môn Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi đi theo ai? Chúa có những lời của sự sống đời đời; 69 chúng tôi đã tin, và nhận biết rằng Chúa là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời. 70 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ! 71 Vả, Ngài nói về Giu-đa con Si-môn Ích-ca-ri-ốt; vì chính hắn là một trong mười hai sứ đồ, sau sẽ phản Ngài. (Giăng 6:66-71).
Trái với nhiều người muốn đám đông ngày càng gia tăng, ĐCJC chủ ý giảm bớt, loại ra những người theo Ngài chỉ vì bánh, chỉ vì những lời dạy bùi tai.
Tôi nhớ một câu chuyện về MS Billy Graham, nhà truyền giáo của thế kỷ 20. Nhiều người rất giàu có đề nghị MS Graham nên ra tranh cử tổng thống HK. Vợ của ông là bà Ruth Graham nghe vậy nên nói với chồng: Công việc anh đang làm là từ ĐCT, một công việc quan trọng, giá trị hơn vạn lần so với chức vị tổng thống. Nếu anh làm điều này, em sẽ xin ly dị! Dù thế kỷ 20 chỉ có 1 Billy Graham đem TL đến hàng trăm triệu người để họ nghe, hiểu và tin nhận ĐCJC làm Cứu Chúa và Vua của đời sống, thì có bao nhiêu ngàn triệu người thà đổi lấy chức vị tổng thống còn hơn làm người truyền giảng TL. Có thể Giu-đa Ít-ca-ri-ốt thất vọng, vỡ mộng cũng vì lý do này.
Rồi trong tuần lễ cuối đời của ĐCJC, lại có một sự việc khác liên hệ đến Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, có thể khiến hắn đã nản lòng lại càng nản lòng hơn nữa. 6 ngày trước Lễ Vượt Qua, ĐCJC và các sứ đồ đến ở tại nhà của Ma-ri và Ma-thê. Đây là thời gian sau khi Chúa làm phép lạ khiến La-xa-rơ sống lại từ cõi chết. Khi ĐCJC và các sứ đồ cùng dự tiệc với La-xa-rơ, thình lình Ma-ri đi đến với Chúa, với một bình thuốc thơm đắt tiền.
Tôi biết không ai dùng dầu thơm như Ma-ri đối với ĐCJC cả. Tất cả phụ nữ đều chỉ nhỏ vài giọt trên cổ, trên quần áo vì dù thời đó hay thời này thì dầu thơm vẫn rất đắt tiền. Thuốc thơm Ma-ri dùng cho Chúa rất đắt tiền, vì không chỉ vì chất lượng nhưng còn cả vì số lượng, một cân tức khoảng 326 gram.
Ma-ri xức chân Đức Chúa Jêsus, và lấy tóc mình mà lau; cả nhà thơm nức mùi dầu đó (Giăng 12:3). Nhưng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, là một môn đồ về sau phản Ngài, nói rằng: 5 Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đơ-ni-ê đặng bố thí cho kẻ nghèo? --- 6 Người nói vậy, chẳng phải lo cho kẻ nghèo đâu, song vì người vốn là tay trộm cắp, và giữ túi bạc, trộm lấy của người ta để ở trong. --- 7 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Hãy để mặc người, người đã để dành dầu thơm nầy cho ngày chôn xác ta. 8 Vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở với mình, còn ta, các ngươi không có ta luôn luôn (Giăng 12:4-8)
Thay vì khen tặng lời lẽ đạo đức của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, ĐCJC lại đồng ý với Ma-ri, một người phụ nữ trước mặt mọi người. Tự ái, buồn giận có thể gia tăng sự nản lòng, thất vọng với ĐCJC và mục đích của Ngài. Rồi 5 ngày sau đó, cũng chính sứ đồ Giăng viết: Trước ngày lễ Vượt qua, Đức Chúa Jêsus biết giờ mình phải lìa thế gian đặng trở về cùng Đức Chúa Cha đến rồi; Ngài đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng. 2 Đương bữa ăn tối (ma quỉ đã để mưu phản Ngài vào lòng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt con trai Si-môn) (Giăng 13:1-2).
Chú ý lời sứ đồ Giăng viết ngay sau đó: 5 Kế đó, Ngài đổ nước vào chậu, và rửa chân cho môn đồ, lại lấy khăn mình đã vấn mà lau chân cho. Có nghĩa rằng khi ma quỉ gieo ý phản Chúa thì ngay sau đó, ĐCJC bày tỏ tình yêu thương cùng các môn đồ, gồm cả Giu-đa Ít-ca-ri-ốt. ĐCJC ban cho Giu-đa cơ hội để ăn năn, nhưng ông vẫn cứng lòng và từ chối.
Sau lễ rửa chân mới đến bửa ăn. Đến khi bắt đầu bửa ăn thì Giăng viết: Sau đó không lâu cũng trong bửa ăn tối đó: Liền khi Giu-đa đã lấy miếng bánh, thì quỉ Sa-tan vào lòng người. (Giăng 13:37). Lúc đầu ma quỉ gieo vào trong ý nghĩ của Giu-đa việc phản Chúa. Chỉ mới có ý nghĩ mà thôi. Nhưng Chúa lại ban cho Giu-đa cơ hội qua lễ rửa chân để ông ăn năn. Giu-đa từ chối cơ hội này, không ăn năn. Và sau đó không lâu, Giu-đa để cho Sa-tan chiếm hữu.
Lu-ca cũng viết về sự kiện đáng sợ này và giải thích thêm về hành động của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt sau khi bị Sa-tan ám vào: Vả, quỉ Sa-tan ám vào Giu-đa, gọi là Ích-ca-ri-ốt, là người trong số mười hai sứ đồ, 4 nó đi kiếm các thầy tế lễ cả và các thầy đội, để đồng mưu dùng cách nào nộp Ngài cho họ. 5 Các người kia mừng lắm, hứa sẽ cho nó tiền bạc. 6 Nó đã ưng thuận với họ, bèn kiếm dịp tiện đặng nộp Đức Chúa Jêsus trong khi dân chúng không biết. (Lu-ca 22:3-6)
Ma quỉ, Sa-tan không phải là chuyện giả tưởng, phản khoa học. KT khẳng định nó có thật và luôn tìm mọi người, ở mọi nơi và bằng mọi cách để chống đối lại ĐCT. Nó chiếm hữu và xử dụng Giu-đa Ít-ca-ri-ốt để xui dục Giu-đa phản bội, bán ĐCJC.
Sứ đồ PL xác quyết rằng người tin Chúa không tranh đấu với thế gian, nhưng chủ yếu với ma quỉ, Sa-tan: Vì chúng ta đánh trận, chẳng phải cùng thịt và huyết, bèn là cùng chủ quyền, cùng thế lực, cùng vua chúa của thế gian mờ tối nầy, cùng các thần dữ ở các miền trên trời vậy. Và vì đây là cuộc chiến tranh tâm linh và vì kẻ thù là Sa-tan, ma quỉ nên chỉ có vũ khí của ĐCT mới có thể chống cự lại: 13 Vậy nên, hãy lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, hầu cho trong ngày khốn nạn, anh em có thể cự địch lại, và khi thắng hơn mọi sự rồi, anh em được đứng vững vàng. (Ê-phê-sô 6:12-13)
Học giả William Barker viết một quyển sách có tựa là 12 người được chọn – các môn đồ của Chúa Giê-xu (12 who were chosen – the disciples of Jesus). Theo tựa sách, qv có thể đoán biết sách này viết về ai: 12 sứ đồ ĐCJC chọn. Và chương cuối cùng là về Giu-đa Ít-ca-ri-ốt (cũng như mọi danh sách của các sứ đồ trong 4 PA). Sau khi nhận xét và phân tích về Giu-đa Ít-ca-ri-ốt trong 4 PA, học giả Barker nêu lên một kết luận về nguyên nhân Giu-đa lại phản bội rồi bán rẽ ĐCJC:
Càng nghiên cứu về Giu-đa, chúng ta càng thấy rằng dường như hắn để cho những lý tưởng thấp kém chen chúc và làm chủ mình. Giu-đa nhìn thấy điều cao cả nhất, nhưng ông không để cho người cao cả nhất cai trị mình. Ông có ý định trao cho Chúa Giêsu lòng trung thành tối cao của mình, nhưng ông đã để cho lòng trung thành thấp hơn đẩy lòng trung thành tối cao sang một bên. (The more we study Judas, however, the more it appears he let lower ideals crowd in and master him. Judas saw the highest, but he did not let the highest rule him. He intended to give Jesus his supreme loyalty, but he let lesser loyalties push aside the supreme loyalty.)
Tôi đồng ý với lời nhận xét và phân tích này. Khi chúng ta để những điều tốt trở nên điều tối cao, chúng ta đã thay thế ĐCT là chủ đời sống bằng những điều tốt đó. Công việc, học vấn, sự thành đổ, chức vị, nhà cửa, tình cảm, gia đình – tất cả những điều này không có gì là xấu xa, tội lỗi cả. Nhưng khi nó sẽ trở nên chúa tể của đời sống, chính lúc đó chúng ta đã phạm trọng tội theo điều răn đầu tiên: trước Ta các ngươi chớ có các thần khác.
Ma quỉ sẽ cám dỗ để người tin Chúa (và cả người không tin Chúa) đặt những điều tốt đẹp trong đời sống lên trên tất cả, trở nên điều tối cao trong đời sống thay chổ ĐCT. Như nó đã cám dỗ ĐCJC sẽ cho Ngài mọi quyền lực và hào nhoáng thế gian. Đây là một chiến thuật hết sức thành công của ma quỉ.
Một trung thành thấp hơn ngày càng lớn hơn trong suy nghĩ, tấm lòng, con tim của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt là tấm lòng yêu nước, muốn thấy Đấng Mê-si-a giải thoát dân tộc khỏi áp bức, thống trị La-mã. Giu-đa Ít-ca-ri-ốt trở nên vỡ mộng, rồi thất vọng, chán chường vô cùng khi ĐCJC không phải là Đấng Mê-si-a như hắn muốn.
Trong tuần lễ cuối đời của ĐCJC, Giu-đa càng hiểu rõ hơn như các môn đồ rằng ĐCJC sẽ chịu chết dưới tay người Pha-ri-si và La-mã, hắn càng chỉ muốn bỏ cuộc: thà có 30 miếng bạc còn hơn đi theo một người chắc chắn sẽ chết! Trước sau gì Giê-xu cũng sẽ chết nên có khác gì nếu Giu-đa bán Ngài đi hay để người Pha-ri-si lập mưu bắt giết Chúa?
Chỉ có thể có một lòng trung thành tối cao trong cuộc sống: lòng trung thành với ĐCT. Tất cả các lòng trung thành khác - ngay cả lòng trung thành với nhà nước, nhà thờ, bạn bè, gia đình - mọi thứ đều đứng thứ hai sau ĐCT. Giuđa đặt mình lên trên Chúa Giêsu. Trong cuộc đấu tranh giữa Giu-đa và Chúa Giê-xu, Giu-đa đã chọn Giu-đa. Sự suy thoái không thể tránh khỏi của nhân cách theo sau, vì ông đã thực hiện bước đầu tiên hướng tới tự tử khi ông đặt mình lên trên Chúa Giêsu. (There can be only one supreme loyalty in life: loyalty to God. All other allegiances – even allegiance to state, to church, to friends, to family – everything comes second to God. Judas put himself ahead of Jesus. In the the struggle between Judas and Jesus, Judas chose Judas. The inevitable deterioration of character followed, for he had taken the first step toward suicide when he put himself ahead of Jesus.)
Thương tâm đau đớn nhất, to lớn nhất trong câu chuyện này không chỉ là sự phản bội của Giu-đa Ít-ca-ri-ốt với ĐCJC nhưng là sự từ chối đến với ĐCJC để ăn năn và xin Ngài tha thứ tội. Trong bửa ăn cuối, chính ĐCJC cũng đã rửa chân cho cả Giu-đa. Chúa vẫn cho thêm một cơ hội trước khi quỉ Sa-tan nhập vào và dục Giu-đa tìm đến các thầy tế lễ để đồng ý bán Chúa với giá 30 miếng bạc. Nếu khi được Chúa rửa chân, Giu-đa cảm động vì tình yêu thương quá lớn của Ngài dành cho ông và quỳ xuống trước Chúa, khóc, thú nhận tội và xin Ngài tha thứ, tôi tin ĐCJC sẽ tha thứ cho ông. Như Chúa tha thứ cho Phi-e-rơ và các môn đồ khác.
Mãi đến giờ phút cuối cùng khi Giu-đa Ít-ca-ri-ốt dẫn quân lính La-mã đến vườn Ghết-sê-ma-nê để bắt Chúa, ĐCJC vẫn cho hắn một cơ hội nữa. Chúa gọi Giu-đa là gì? Bạn, Và Giu-đa liền đến trước mặt Đức Giê-su nói: “Chào Thầy!” và hôn Ngài. 50Đức Giê-su nói: “Bạn ơi, hãy làm điều bạn định làm?” (Ma-thi-ơ 26:49-50). Từ bạn đây không phải là sáo ngữ nhưng là lời chân thật của Chúa cùng Giu-đa Ít-ca-ri-ốt để cho ông một cơ hội nữa ăn năn, xin tha thứ.
Khi Giu-đa Ít-ca-ri-ốt hối hận thì đã muộn. Chắc lúc đó Sa-tan đã ra khỏi ông. Ông đem 30 miếng bạc để trả lại cho các thượng tế và trưởng lão: “Tôi đã phạm tội phản bội, làm người vô tội phải đổ máu.” Nhưng họ đáp: “Việc đó can hệ gì đến chúng ta? Việc của anh mặc anh.” 5Giu-đa ném bạc vào đền thờ, trở ra và đi thắt cổ. (Ma-thi-ơ 27:3-5)
Mong tất cả qv thận trọng, đừng mắc mưu ma quỉ mà để những điều tốt trong cuộc sống trở nên chúa tể, thay chổ hàng đầu của ĐCT. Đừng để khi quá muộn mới ăn năn, xin tha thứ. Như Giu-đa Ít-ca-ri-ốt!
