Bài Học Của Các Bác Sĩ Phương Đông – Ma-thi-ơ 2:1-11
Mấy thầy nghe vua phán xong, liền đi. Kìa, ngôi sao mà họ đă thấy bên đông phương, đi trước mặt cho đến chừng ngay trên chỗ con trẻ ở mới dừng lại. Mấy thầy thấy ngôi sao, mừng rỡ quá bội. Khi vào đến nhà, thấy con trẻ cùng Ma-ri, mẹ Ngài, thì sấp mình xuống mà thờ lạy Ngài; rồi bày của quí ra, dâng cho Ngài những lễ vật, là vàng, nhũ hương, và một dược. (Ma-thi-ơ 2:19-11)
TIN DÙ KHÔNG ĐƯỢC DANH (CÁC BÁC SĨ VÔ DANH)
Vài năm trước đây sau một bài giảng GS trong đó có các bác sĩ từ phương đông có người gởi email trách tôi giảng sai. Người đó nói rằng tại sao MS mà lại không biết rằng chỉ có ba vua có tên tuổi rõ ràng đến thờ lạy Jêsus. Sao lại giảng rằng các nhà thiên văn (bác học, thông thái)! Theo truyền thuyết có ba vua có tên là Caspar, vua của Tarsus, đất của nhủ hương; Melchior, vua xứ Arabia, đất của vàng; Balthasar, vua của Saba (SAY-ba) hay Sheba, nơi một dược đầy cây. Rồi cũng theo truyền thuyết vào năm 7 sứ đồ Thomas gặp lại ba vua này tại xứ Ấn Độ và báp-tem cho họ. Sau đó họ chết vì đạo và được chôn trong bức tường thành Jerusalem.
Tuy nhiên không nơi nào trong KT cho chúng ta biết về con số lẫn tên của các bác sĩ này. Ý nghĩ rằng đây là 3 vua có lẽ từ 2 lý do: 3 vật họ dâng và từ ý theo Thi Thiên 72 snói về sự thăm viếng của các vua: Các vua Ta-rê-si và những cù lao sẽ cống thuế cho người. Vua Sa-ba và vua Sê-ba sẽ cống lễ cho người. Phải, hết thảy các vua sẽ sấp mình xuống trước mặt người; Các nước sẽ phục sự người. (10-11) Những người bác sĩ, hay thông thái này là ai? Từ magi là tiếng Hy-lạp mượn từ tiếng Persian magus có nghĩa là giàu có, quyền thế, tài giỏi. Một sử gia Hy-lạp nổi tiếng là Herodotus dùng từ này để nói về một thầy tế lễ có tài giải mộng.
KT có dụng ý khi không đề cập đến con số bao nhiêu hay tên của các bác sĩ. Dụng ý đó là để cho biết rằng ĐCT luôn luôn có những người ẩn danh nhưng thật sự yêu mến, trung tín, có tấm lòng tìm cầu Chúa từ những nơi xa xôi nhất, nơi mà chúng ta ít nghĩ đến.
Thường chúng ta nghĩ rằng những người đạo dòng, lớn lên trong gia đình tin Chúa là những người sẽ đến thờ phượng Chúa. Không hẳng vậy! Hoặc những người gần nhà thờ là những người mau nhất đến thờ phượng. Không chắc! Có tên hay không tên, xa hay gần chỉ là trên danh nghĩa mà thôi. Tên hay không, gần hay xa thật sự ở tại tấm lòng. Lu-ca viết rằng khi ĐCJC sinh ra tại thành Bết-lê-hem, nhà quán không có chỗ cho Ngài. Hình ảnh đó cũng là hình ảnh của những người không có chỗ nào cho Chúa trong tấm lòng, trong con tim, trong đời sống của họ.
Nghĩ lại câu chuyện Giáng Sinh, thiên sứ hiện ra đầu tiên cùng những người chăn chiên đang trông giữ bầy chiên ngoài đồng trong lúc đêm khuya. KT cũng không ghi lại tên của họ. Nhưng hằng năm khi câu chuyện GS được kể lại thì những người này được tôn trọng vì họ tin vào lời thiên sứ. Tin rồi làm gì? Họ vào làng Bết-lê-hem để tìm con trẻ mới sinh. Họ hy sinh cả việc làm vì niềm tin, vì hy vọng mới về tin vui mừng từ thiên sứ.
Các nhà thông thái từ phương đông cũng vô danh. Không phải họ không có tên tuổi. Trái lại đây là những người có thể nổi danh trong vòng dân họ. Nhưng khi đến với Chúa, họ chấp nhận là những người vô danh. Họ có thể buồn phiền, hờn giận, cắng đắng vì bỏ đường xa, công khó lặn lội ngày đêm theo ngôi sao để đến tìm con trẻ mới sinh. Nhưng lại không được nêu tên!
Niềm vui thật sự của các bác sĩ từ phương đông không phải khi được tuyên xưng tên tuổi, mà là khi được nhìn thấy ngôi sao dẫn đường đến chuồng chiên nơi Jêsus hạ sinh: Kìa, ngôi sao mà họ đă thấy bên đông phương, đi trước mặt cho đến chừng ngay trên chỗ con trẻ ở mới dừng lại. Mấy thầy thấy ngôi sao, mừng rỡ quá bội (9-10). Mừng vì cuối cùng đã tìm được Đấng Cứu Rỗi, chứ không phải vì nghe được tên mình trên môi miệng người khác, hay tìm được trên sách vở con người ghi lại.
Được Chúa biết quan trọng hơn ngàn vạn lần được người biết. Có những hiểu lầm, những hàm oan từ người đời. Đau thật, buồn thật, thậm chí tủi nhục. Nhưng chúng ta tin rằng rồi một ngày sự thật sẽ được tỏ bày. Tên của các thông gia từ phương đông rồi sẽ được tuyên bố trong ngày cuối giữa tiếng kèn của thiên sứ, trên con đường lót bằng vàng và ngọc báu trước ngôi thánh của ĐCT.
TIN DÙ GẶP KHÓ KHĂN (CÁC BÁC SĨ ĐẾN TỪ PHƯƠNG XA)
Bài học khác trong câu chuyện GS này là không phải lúc nào những người có kiến thức về tôn giáo, về KT cũng là những người thật sự tôn thờ Chúa. Nếu vậy các nhà thông giáo, người Pha-ri-si đã là những người đầu tiên đến Bết-lê-hem tôn thờ Chúa. Họ có đầy một bồ kiến thức. Khi Hê-rốt hội các thầy lễ cả và thông giáo để hỏi Đấng Christ sanh tại đâu, thì họ đã có câu trả lời: Tâu rằng: Tại Bết-lê-hem, xứ Giu-đê; vì có lời của đấng tiên tri chép như vầy (Ma-thi-ơ 2:4). Không chỉ vậy họ còn trích dẫn thuộc lòng từ KT CU: Hỡi Bết-lê-hem, đất Giu-đa! Thật ngươi chẳng kém gì các thành lớn của xứ Giu-đa đâu, Vì từ ngươi sẽ ra một tướng, Là Đấng chăn dân Y-sơ-ra-ên, tức dân ta (2:5)
Dù có đầy một bồ kiến thức về Đấng Christ và CU nhưng lòng của họ hoàn toàn xa cách Chúa. Biết nhưng không có lòng thì có ích lợi gì? Biết nhưng không hề áp dụng, làm theo thì có đáng gì?
Đây cũng là hình ảnh của chúng ta và của cả nhân loại trước Tin Lành. Biết bao nhiêu người có cơ hội nghe TL, sống trong sự tự do tín ngưỡng, dễ dàng thờ phượng, không hề mất mát tốn kém gì về vật chất khi tin Chúa lại rất xa Chúa trong lòng. Trong các nước Tây phương và ngay cả tại HK, cơ hội đến với Chúa chỉ trong tầm tay với. Tuy vậy số đông ngày càng xa rời ĐCT, xa rời đạo Chúa, xem KT chỉ là một quyển sách xưa cũ không gì liên quan gì đến đời sống.
Các thầy tế lễ và thông giáo tượng trưng cho những người ở gần nhưng lại rất xa. Các bác sĩ từ phương đông dù ở xa nhưng lòng dạ, tâm lòng rất gần ĐCT. Câu châm ngôn Càng gần nhà thờ, càng xa Chúa! có phần rất đúng! Thường thì điều gì quá quen thuộc sẽ trở nên nhàm chán và bị coi thường. Trẻ em lớn trên xứ này xem thường những điều có được so với trẻ em sinh sống tại các quốc gia nghèo khó. Rất nhiều điều chúng ta lấy làm vô cùng quí giá khi mới đến xứ này nay lại xem như điều tất nhiên phải có như sự tự do ăn năn, đi lại, thờ phượng, như đời sống vật chất đầy đủ, như phương tiện y tế.
Bao nhiêu trăm ngàn tín đồ tại các xứ đạo Chúa bị bắt bớ phải trả một giá rất đắt cho đức tin, vì vậy mỗi ngày họ đều suy nghĩ cẩn thận về đức tin trong Chúa, về giá theo Chúa. Dù vậy họ vẫn trung tín trong việc nhóm lại thờ phượng, học KT. Nhiều người đầu sẽ trở nên cuối và nhiều người cuối sẽ trở nên đầu.
Bởi vì lòng của các bác sĩ từ phương đông có chỗ cho Chúa nên họ không ngại đường xa, không ngại tốn kém mà tìm đến thờ lạy Jêsus. Không ai áp lực hay ép buộc họ. Họ làm việc này cách tự nguyện, vui lòng và hơn hết dù phải tốn kém thời gian, công sức và tài của. Họ phải trải qua bao nhiêu ngày đêm từ phương đông đi đến Jerusalem, rồi Bết-lê-hem. Nắng cháy thịt da ban ngày, rét lạnh cắt xương ban đêm. Ngồi trên lưng lạc đà hay lưng lừa trong một chuyến đường xa xôi không phải là điều dễ dàng, đặc biệt đây là những người giàu có, chức tước, kiến thức có kẻ hầu người hạ.
Họ có thể gởi người đi với của vật để mừng tặng Jêsus mới sinh. Tuy nhiên chính đích thân họ lặng lội đường xa đem theo báu vật để tìm cho được con trẻ mà thờ lạy Ngài. Đức tin không thể vay mượn nhưng phải là của chính cá nhân mình.
TIN DÙ KHÔNG HIỂU HẾT (CÁC BÁC SĨ TIN DÙ KHÔNG THẤY)
Một bài học khác hết sức giá trị là dù không thấy Đấng Christ nhưng họ vẫn tin. Tin dù khi những người kiến thức như các thầy tể cả và thông giáo không đến tìm và không tin Jêsus. Tin dù khi đến nơi họ chỉ thấy chuồng chiên máng cỏ nhơ nhớp, nghèo nàn. Tin dù khi nhìn thấy Ma-ri, Giô-sép một cặp vợ chồng thợ mộc tầm thường, nghèo khó. Tin dù khi chỉ thấy một trẻ thơ bọc bằng khăn, nằm trong máng cỏ. Tin dù không thấy một khải tượng nào từ thiên sứ khi trên đường, ngoại trừ dấu ngôi sao trên trời đêm. Tin dù không có lời Chúa trong CU để tra cứu, tìm hiểu như những người Pha-ri-si, thầy tế lễ.
Sau khi hiện ra cùng Thô-ma, một người đa nghi, Chúa phán với ông: Vì ngươi đă thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đă tin vậy! (Giăng 20:29). Các bác sĩ chẳng từng thấy bằng chứng, chẳng từng biết CU. Chỉ trông vào ngôi sao chỉ đường để đi tìm con trẻ Jêsus. Quả thật đức tin của họ lớn quá và thật đáng kính trọng. Vì đức tin thật sự thể hiện qua hành động dù kiến thức vẫn còn chưa rõ lắm, dù bằng chứng vẫn chưa tận tường.
Ngày nay chúng ta đòi hỏi bằng chứng trước khi tin. Có người đòi hỏi phép lạ: Chúa chửa lành bệnh cho tôi hay cho chồng vợ, con cái tôi trước khi tôi tin. Có người đòi hỏi bằng chứng hay chứng minh chứ không chỉ tin cách mù dại, thiếu hiểu biết.
Khi phi hành gia Nga Sô Pavel Popovich được hỏi năm 1962 ông có thấy ĐCT trong chuyến bay. Ông trả lời cách chê diễu: “Có, tôi có thấy ĐCT. Tôi hỏi tên ông và ông trả lời ông là Andrian Nikolayev (tên của người đồng chuyến bay)” Trái lại, vào đêm Giáng Sinh 24 tháng 12, 2968 khi phi thuyền Apollo 8 vào quỉ đạo mặt trăng các phi hành gia HK đã có một chương trình truyền hình trực tiếp chiếu hình trái đất và mặt trăng từ phi thuyền. Khi kết thúc chương trình phi hành gia William Anders có lời: “For all the people on Earh the crew of Apollo 8 has a message we would like to send you”. Rồi ông đọc STK 1:1-4, sau đó phi hành gia Jim Lovell tiếp tục đọc STK 1:5-8. Cuối cùng phi hành gia trưởng Frank Borman đọc STK 1:9-10 và kết thúc với lời chúc: “a Merry Christmas, and God bless all of you – all of you on the good Earth”
Có người trải qua đau khổ, mất mát, bệnh tật, đức tin càng thêm mạnh mẽ. Niềm tin vào ĐCT, vào tình yêu thương của Ngài đối với họ càng rõ hơn, càng quí báu, ngọt ngào hơn. Những cũng có bao nhiêu người mất niềm tin khi trải qua cùng những cảnh ngộ đau khổ đó hay khi chỉ chứng kiến những khổ đau chung quanh. Cùng một thế giới, một sự thật nhưng sinh ra hai niềm tin, hai quyết định!
Đức tin của các bác sĩ từ phương đông là đức tin đáng trọng, đức tin làm vui lòng ĐCT. Dù chưa thấy hết, chưa hiểu hết, chưa biết hết nhưng họ vẫn tìm đến Chúa để tôn thờ. Dù gặp khó khăn, thử thách họ vẫn kiên trì cho đến khi gặp con trẻ. Đức tin này không phải qua lời nói nhưng thể hiện cụ thể qua hành động. Đây cũng chính là đức tin mỗi chúng ta đều cần học hỏi làm theo.
