Rất nhiều lần khi đọc về cuộc đời của Đức Chúa Giê-xu trong Phúc Âm Ma-thi-ơ, tôi tự hỏi tại sao Ma-thi-ơ lại bắt đầu câu chuyện với gia phả của Chúa. Khi đọc qua danh sách các tên xa lạ, khó phát âm, tôi cũng nhớ đến lời dạy của sứ đồ Phao-lô: Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình (2 Ti-mô-thê 3:16). Cả Kinh Thánh gồm cả gia phả Chúa trong Ma-thi-ơ. Câu hỏi là đoạn Kinh Thánh về gia phả Chúa Giê-xu có ích gì cho sự dạy dỗ chúng ta, những người tin Chúa và tin lời Kinh Thánh dạy? Mục đích bài viết nhằm trả lời phần nào câu hỏi này. Tôi tin gia phả của Đức Chúa Giê-xu Christ trong Ma-thi-ơ dạy chúng ta bài học vô cùng quan trọng và quí báu về ân điển của sự cứu rỗi.
Sứ đồ Phao-lô giải thích ý nghĩa của gia phả Đấng Christ như sau: Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29 để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. 30 Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta; 31 hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa. (1 Cô 1:28-31)
GIA PHẢ TRONG KINH THÁNH CỰU ƯỚC
Gia phả hay gia phổ là bản ghi chép lại danh sách cha mẹ, ông bà, tổ tiên một người, một dòng họ theo thứ tự thời gian. Gia phả cho biết thân thế, gốc gác, và quan hệ của những người trong cùng một gia đình, dòng tộc từ quá khứ đến hiện tại. Kinh Thánh Cựu Ước gồm ít nhất 50 gia phả. Đối với dân sự Y-sơ-ra-ên trong thời Cựu Ước, gia phả không chỉ liên quan đến gốc gác, thân thế một người, một gia đình, nhưng còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, cụ thể là nơi sinh sống và công việc làm.
Theo Dân Số Ký 26:52-56 Nhưng phải bắt thăm mà chia xứ ra; dân Y-sơ-ra-ên sẽ lãnh phần sản nghiệp mình theo tên của các chi phái tổ tông. và 31:1-5, dân sự Y-sơ-ra-ên sẽ được nhận các vùng đất khác nhau tùy theo “tên của các chi phái tổ tông”. Dân Y-sơ-ra-ên gồm 12 chi phái. Mỗi chi phái được nhận một phần đất riêng. Dân của mỗi chi phái sống trên vùng đất đã định cho chi phái của tổ tông họ (Giô-suê 13-19).
Chín đoạn đầu tiên của sách 1 Sử Ký ghi lại gia phả của dân sự Y-sơ-ra-ên. Bình luận về những bản gia phả này, học giả Adam Clarke viết: "Các gia phả này, cả sự cố và sự quan tâm thật khô khan với chúng ta biết bao! Tuy nhiên, cũng như những tảng đá khô cằn và sa mạc đầy cát tạo nên những phần đất quan trọng và cần thiết trên toàn cầu, các bản gia phả này cũng là những phần cần thiết cho lịch sử của sự quan phòng và ân điển trong việc duy trì lẽ thật, và thành lập hội thánh của Đấng Christ".
Đọc sách Ru-tơ chúng ta biết Bô-ô có thể chuộc lại đất cho con trai bà Na-ô-mi vì hai người đều cùng một dòng họ. Để có thể chuyển nhượng thẩm quyền, mua bán đất đai, người Y-sơ-ra-ên phải chứng minh họ là con cháu của chủ đất qua gia phả. Gia phả cũng quyết định việc kiểm tra dân số: Giô-sép và Ma-ri dù là người làng Na-xa-rét vẫn phải đi đến làng Bết-lê-hem cho việc kiểm tra dân số vì thuộc về dòng Đa-vít.
Quan trọng hơn nữa, gia phả xác nhận một người có thật sự thuộc về dòng dõi vua chúa, hoàng tộc, hay thuộc dòng thầy tế lễ. Sách Ê-xơ-ra giải thích rất rõ những người được chọn làm thầy tế lễ phải chứng minh họ thật sự thuộc dòng Lê-vi theo như đã ghi trong gia phả: Những người nầy tìm kiếm tên mình trong gia phả nhưng không tìm được nên người ta kể họ là ô uế, và bị truất khỏi chức tế lễ. (Ê-xơ-ra 2:62 – BHD). Mục đích chính của gia phả trong Ma-thi-ơ (và trong cả Lu-ca 3) nhằm để chứng minh Giê-xu, Đấng Mê-si-a thật sự thuộc dòng vua Đa-vít, ứng nghiệm lời tiên tri Cựu Ước.
GIA PHẢ THEO QUAN ĐIỂM CON NGƯỜI
Chính vì gia phả cho biết dòng dõi, gốc gác, thân thế của ông bà, cha mẹ nên không ai muốn trong gia phả mình có những vết xấu xa, nhơ bẩn cả. Nếu trong gia phả có người giữ các chức vụ quan trọng như thủ tướng, bộ trưởng, tổng thống, chắc chắn tên những người đó sẽ được viết với chữ hoa lớn và tô đậm để làm nổi bật tên tuổi, vai vế của họ trong gia tộc. Trái lại con cháu của những kẻ lừa lọc, của các trùm băng đảng thật khổ sở khi phải nói về gia phả họ! Thử nghĩ xấu hổ biết bao khi gia phả một người cho biết “ông tổ tôi là trùm băng đảng Ma-cao bị bắn chết bởi trùm băng đảng Thượng Hải!”
Hễ dòng dõi càng quí phái, quyền thế bao nhiêu thì các nhân vật và vai trò trong gia phả càng phải được duyệt xét, gạn lọc cẩn thận bấy nhiêu. Gia đình nổi tiếng lại càng giữ gìn mặt mũi, không muốn bất cứ người ngoài nào biết điều không hay, không tốt về gia đình. Như gia đình lừng danh Kennedy tại Hoa Kỳ và câu chuyện vô cùng thương tâm về bà Rosemary Kennedy.
Bà Rosemary là con gái đầu tiên, người thứ ba trong gia đình chín anh chị em của ông Joseph Kennedy Sr. và bà Rose Fitzgerald Kennedy. Ông Joseph là một triệu phú và cũng là đại sứ Hoa Kỳ tại Anh Quốc từ năm 1938 đến 1940. Gia đình của bà Rose Fitzgerald thuộc thành phần thượng lưu, nổi tiếng khắp thành phố Boston với cha là thị trưởng thành phố và cũng là hạ nghị sĩ liên bang. Bà Rosemary là em gái của tổng thống John F. Kennedy và là chị của bộ trưởng tư pháp Robert F. Kennedy và thượng nghị sĩ Ted Kennedy. Từ khi còn nhỏ bà Rosemary đã bị động kinh và có vấn đề tâm sinh lý. Năm 22 tuổi trong một lần nghĩ hè bà tỏ sự bạo động, đánh các anh chị em khi giận. Một lần người ta tìm thấy bà lang thang trên đường phố thủ đô Washington DC lúc 2:00 sáng.
Để tránh sự xấu hổ cho gia đình nên năm bà 23 tuổi, ông Joseph quyết định để bác sĩ làm phẩu thuật lobotomy (cắt một phần não bộ để làm cho người bệnh tâm thần dịu lại!) Cuộc giải phẩu hoàn toàn thất bại, khiến cho bà không nói và không đi được. Sau một thời gian tập vật lý trị liệu, bà hồi phục việc đi đứng nhưng vẫn còn khuyết tật và chỉ có thể nói vài chữ. Bà không thể tự lo cho mình mà cần người thường xuyên bên cạnh để chăm sóc suốt đời. Năm 30 tuổi bà được chuyển vào một tu viện và ở đó trong suốt 56 năm còn lại của cuộc đời!
Mẹ bà không hề một lần đến thăm con gái mình tại tu viện trong suốt 20 năm trời. Chỉ một lần khi đến một phi trường gần tu viện, bà Rose gọi các nữ tu đem con gái mình ra phi trường để gặp. Khi thấy mẹ tiến đến để ôm thì bà Rosemary gào thét và đấm vào ngực người mẹ đã bỏ phế mình trong suốt 20 năm dài. Từ năm 30 tuổi cho đến khi qua đời lúc 86 tuổi, bà Rosemary sống trong tu viện như một người hoàn toàn tàn phế và hoàn toàn cách ly với gia đình.
Chỉ vì không muốn cho quần chúng biết về một người con gái có căn bệnh tâm thần mà gia đình, hệ tộc Kennedy nhẫn tâm buộc bà Rosemary phải qua một cuộc giải phẫu não bộ khiến cho bà trở nên tàn phế. Sau đó lại giấu nhẹm nạn nhân trong tu viện suốt 56 năm dài. Lý do? Chỉ vì bà Rosemary là một vết đen, một xấu hổ, một thất bại trong gia tộc Kennedy. Tất cả chỉ để bảo vệ danh dự, tiếng tăm, mặt mũi cho gia đình, dòng họ!
Một nhân vật quen thuộc trong câu chuyện giáng sinh là vua Hê-rốt, người ra lệnh giết các con trẻ dưới hai tuổi. Sử gia không thật sự biết được gia phả của vua Hê-rốt vì vua thường xuyên thay đổi chi tiết trong dòng tộc mình. Mục đích là để dấu đi những điều không hay trong gia đình, dòng họ và thêm thắt những chi tiết nổi bật. Điều này cũng không khác gì một số lãnh tụ nổi danh trong lịch sử: dấu nhẹm những điều xấu xa, tội lỗi và thêm thắt các chi tiết không thật để đánh bóng, mạ vàng cho lý lịch, gia phả của họ. Chúng ta cũng có thể thấy được điều này khi đọc tiểu sử của nhiều người viết về mình trên mạng tuyến hay trong lý lịch (resume) của nhiều người khi xin việc làm.
GIA PHẢ ĐỨC CHÚA GIÊ-XU CHRIST
Gia phổ Đức Chúa Jêsus Christ, con cháu Đa-vít và con cháu Áp-ra-ham. Áp-ra-ham sanh Y-sác; Y-sác sanh Gia-cốp; Gia-cốp sanh Giu-đa và anh em người. 3 Giu-đa bởi Tha-ma sanh Pha-rê và Xa-ra. Pha-rê sanh Ếch-rôm; Ếch-rôm sanh A-ram; 4 A-ram sanh A-mi-na-đáp; A-mi-na-đáp sanh Na-ách-son; Na-ách-son sanh Sanh-môn. 5 Sanh-môn bởi Ra-háp sanh Bô-ô. Bô-ô bởi Ru-tơ sanh Ô-bết. Ô-bết sanh Gie-sê; 6 Gie-sê sanh vua Đa-vít. Đa-vít bởi vợ của U-ri sanh Sa-lô-môn… Gia-cốp sanh Giô-sép là chồng Ma-ri; Ma-ri là người sanh Đức Chúa Jêsus, gọi là Christ. (Ma-thi-ơ 1:1-6, 16)
Gia phả của Đức Chúa Giê-xu Christ hoàn toàn tương phản với quan điểm con người. Có ba điều thật lạ lùng, ngạc nhiên trong gia phả Chúa Giê-xu theo Phúc Âm Ma-thi-ơ.
Thứ nhất, gia phả Chúa gồm tên của năm người phụ nữ: Tha-ma, Ra-háp, Ru-tơ, vợ của U-ri và Ma-ri. Thời đó gia phả không có tên phụ nữ. Ngay cả gia phả theo Phúc Âm Lu-ca (Lu-ca 3) cũng không hề có tên phụ nữ. Tại sao? Vì phụ nữ không được xem là bình đẳng, đồng vai vế với nam giới. Nữ được xem thấp hơn nam. Nam trọng nữ khinh là một điều bình thường trong phần lớn các quốc gia, xã hội ngày xưa gồm cả các nước Á Châu và cả xứ Việt Nam của chúng ta! Chỉ mới vào cuối thế kỷ 20 khi Trung quốc có chính sách mỗi gia đình một con, rất nhiều cha mẹ đều muốn có con trai “để nối dõi tông đường”, dù phải phá thai hay bỏ rơi con gái. Ngay cả một số nước hồi giáo hôm nay vẫn xem phụ nữ chỉ có giá trị phân nửa nam giới! Trong lời cầu nguyện mỗi ngày, người Pha-ri-si ngày xưa cảm tạ Đức Chúa Trời vì họ không phải là người ngoại, cũng không phải là phụ nữ hay nô lệ.
Thứ hai, gia phả Chúa có tên của người phụ nữ là dân ngoại, gồm giống dân bị xem thường, khinh dễ như người Mô-áp, Ca-na-in. Tha-ma và Ra-háp là người Ca-na-in, Ru-tơ thuộc dân Mô-áp. Các dân này tuyệt đối cấm không được gia nhập vào cộng đồng dân tuyển Y-sơ-ra-ên: Dân Am-môn và dân Mô-áp sẽ không được phép vào hội Đức Giê-hô-va, dầu đến đời thứ mười cũng chẳng hề bao giờ vào được (PTLLK 23:3). Vậy đó mà tên của ba phụ nữ người ngoại lại được ghi rõ là tổ mẫu trong gia phả của Chúa Giê-xu. Lẽ nào Ma-thi-ơ lại nhầm lẫm hay không biết? Dĩ nhiên không.
Thứ ba, gia phả Chúa có tên những người phụ nữ thiếu đạo đức, phẩm hạnh, những người xấu nết. Gia phả Đức Chúa Giê-xu theo Ma-thi-ơ không chỉ gồm tên của các phụ nữ dân ngoại, những người bị cấm không được gia nhập cộng đồng dân tuyển, nhưng ngạc nhiên và lạ lùng hơn hết là ba trong số năm phụ nữ này lại là những người bị xã hội xem là thiếu đạo đức, thiếu phẩm hạnh, những người đàn bà xấu nết!
Ra-háp là người kỵ nữ bán thân (Giô-suê 2:1). Tha-ma chủ ý ăn nằm với cha chồng để có con! (Sáng Thế Ký 38). Gia phả chủ ý ghi rõ hai tên Pha-rê và Xa-ra để xác nhận rằng hai con trai này sinh ra từ quan hệ tội lỗi giữa Giu-đa và Tha-ma (STK 38:29-30). Vợ của U-ri là bà Bát-sê-ba, vợ của một cận tướng trung thành với vua Đa-vít tên U-ri. Đa-vít cướp vợ của cận tướng U-ri để phạm tội tà dâm cùng bà. Qua quan hệ tội lỗi đó, Bát-sê-ba sinh ra Sô-lô-môn. Chú ý một điều vô cùng tế nhị và quan trọng là gia phả không dùng tên Bát-sê-ba nhưng là vợ của U-ri. Dưới mắt Đức Chúa Trời người phụ nữ mà vua Đa-vít phạm tội tà dâm chính thật là vợ của U-ri và để nhấn mạnh về hành động tội lỗi của vua Đa-vít.
Có thể nào Ma-thi-ơ không biết hay hiểu lầm về những người phụ nữ này và cuộc đời họ? Dĩ nhiên không. Đây là một chủ ý với mục đích cho mọi người biết rõ rằng tổ mẫu của Đức Chúa Giê-xu gồm cả những người phụ nữ dân ngoại thiếu đạo đức, phẩm hạnh.
Thử nghĩ xem có ai muốn ghi trong gia phả mình về bà tổ, bà sơ là kỹ nữ, hay người ăn ở với cha chồng, hay phạm tội tà dâm rồi sinh ra ông tổ, ông sơ hay không? Dĩ nhiên trăm lần không, vạn lần không. Hầu hết mọi người, nếu không nói tất cả sẽ tìm mọi cách để giấu nhẹm các chi tiết xấu xa, nhục nhã này!
Không chỉ tổ mẫu trong gia phả Chúa Giê-xu gồm những người xấu nết, nhưng rất nhiều tổ phụ cũng là những người thiếu đạo đức, thậm chí độc ác. Gia-cốp là một người mưu mô, thủ đoạn, lừa gạt anh và cha để đoạt quyền trưởng nam. Giu-đa là người ăn nằm cùng con dâu mình là Tha-ma để sinh ra hai con trai ghi rõ trong gia phả là Pha-rê và Xa-ra. Đa-vít, dù là một anh hùng dân tộc, một vị vua tài giỏi, lại phạm tội tà dâm với vợ của U-ri rồi lập mưu để giết chồng bà dấu nhẹm tội lỗi.
Gia phả Chúa ghi lại tên của 14 vị vua xứ Giu-đa thuộc dòng dõi vua Đa-vít: Sa-lô-môn sanh Rô-bô-am; Rô-bô-am sanh A-bi-gia; A-bi-gia sanh A-sa; 8 A-sa sanh Giô-sa-phát; Giô-sa-phát sanh Giô-ram; Giô-ram sanh Ô-xia. 9 Ô-xia sanh Giô-tam; Giô-tam sanh A-cha; A-cha sanh Ê-xê-chia. 10 Ê-xê-chia sanh Ma-na-sê; Ma-na-sê sanh A-môn; A-môn sanh Giô-si-a. 11 Giô-si-a đang khi bị đày qua nước Ba-by-lôn sanh Giê-chô-nia và anh em người. (Ma-thi-ơ 1:7-11).
Trong số 14 vua có tên trong gia phả, 7 vua được xem là xấu (tên in đậm). Độc ác nhất là vua Ma-na-sê “thiêu dâng con trai mình trong lửa. Vua thực hành phép phù thủy và bói khoa. Vua cậy vào đồng bóng và thầy bói. Vua làm nhiều điều tội lỗi trước mặt CHÚA, chọc giận Ngài… Ngoài ra, Ma-na-se còn làm đổ máu nhiều người vô tội, cho đến khi vua làm ngập Giê-ru-sa-lem với máu vô tội từ đầu nầy đến đầu kia” (2 Các vua 21:6, 16 - BDM).
Hãy xem lại gia phả Chúa Giê-xu: Gồm các phụ nữ người ngoại Mô-áp và Ca-na-in, người kỵ nữ, người ăn ở cùng cha chồng, người gạt gẫm cha anh, người phạm tội tà dâm và giết chồng đoạt vợ, các vị vua thờ tà thần với chủ ý bội nghịch cùng Đức Chúa Trời, người độc ác giết con tế tà thần và đổ máu vô số dân sự vô tội!
Dù theo tiêu chuẩn loài người, đây là những người hoàn toàn không xứng đáng có tên trong gia phả Chúa. Tên họ cần phải được bôi xóa khỏi gia phả vì không đủ tiêu chuẩn công nghĩa, đạo đức. Nhưng ngạc nhiên và lạ lùng thay là tên của những người “xấu nết” này lại được ghi vào gia phả Chúa Giê-xu! Lý do gì? Ân điển.
Ma-thi-ơ chủ ý ghi lại tên của các tổ mẫu và tổ phụ thiếu phẩm hạnh, đạo đức trong gia phả Chúa để người đọc hiểu rằng trong gia tộc của Chúa Giê-xu không một ai xứng đáng theo tiêu chuẩn công nghĩa, đạo đức. Họ được Đức Chúa Trời chọn vào gia tộc Chúa hoàn toàn duy bởi ân điển, không do công đức. Và nếu tổ mẫu và tổ phụ của Chúa Giê-xu là những tội nhân thì con cháu trong gia đình Chúa cũng sẽ gồm những tội nhân được cứu chuộc.
Mọi người, dù bất cứ giống dân nào, ở địa vị nào, đạo đức quá khứ ra sao, học thức thấp cao, giòng dõi thế nào đều được nhận vào gia đình Đấng Christ, trở nên con trai, con gái yêu dấu của nước Trời khi thật sự ăn năn, tin nhận Chúa Giê-xu là Cứu Chúa cuộc đời. Gia đình của Đấng Christ là gia đình của tội nhân được cứu chuộc hoàn toàn bởi ân điển.
Chính vì lý do này, sứ đồ Phao-lô dạy rằng sự cứu tội đến nhờ ân điển, là món quà vô giá ban cho bởi Đức Chúa Trời không ai trong chúng ta xứng đáng nhận lãnh: Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình. (Ê-phê-sô 2:8-9).
ĐẤNG BAN CHO SỰ YÊN NGHĨ CUỐI CÙNG VÀ NIỀM VUI TRỌN VẸN
Chú ý phần kết của gia phả: Như vậy, từ Áp-ra-ham cho đến Đa-vít, hết thảy có mười bốn đời; từ Đa-vít cho đến khi bị đày qua nước Ba-by-lôn, cũng có mười bốn đời; và từ khi bị đày qua nước Ba-by-lôn cho đến Đấng Christ, lại cũng có mười bốn đời. (Ma-thi-ơ 1:17)
Khi Ma-thi-ơ viết Áp-ra-ham sanh Y-sắc, hay Ra-háp sanh Bô-ô thì không hẵn có nghĩa là người sanh là cha, là mẹ. Từ sanh đây là gennaō có nghĩa là tổ tông của một người. Vậy có những nơi trong gia phả khi Ma-thi-ơ viết người này sanh người kia thì ông có thể bỏ qua vài đời hay nhiều thế hệ.
Lý do gì Ma-thi-ơ lại viết về 3 lần 14 đời? 14+14+14 = 42 cũng có thể viết là 6 lần 7 như sau: 7+7+7+7+7+7 = 42. Ma-thi-ơ chủ ý cho người đọc biết rằng Đức Chúa Giê-xu là thế hệ thứ 7 sau 6 thế hệ của 7. Điều này có thể khó hiểu đối với người Việt chúng ta khi đọc gia phả, nhưng dân sự Y-sơ-ra-ên xưa hiểu rõ về ý nghĩa và tầm quan trọng.
Số 7 trong Kinh Thánh là một con số rất đặc biệt, tượng trưng cho sự trọn vẹn, toàn hảo. Ngày thứ 7 trong tuần là ngày Sa-bát, ngày nghĩ ngơi (Xuất 16:29, 20:8). Năm thứ 7 là năm Sa-bát, năm đất nghỉ (Lê-vi-ký 25:2-4). Năm 49 tức sau 7 thất niên (7 lần 7 năm) đánh dấu một sự kiện vô cùng quan trọng và đặc biệt. Sau năm 49, năm thứ 50 được gọi là năm thánh, năm hoan hỉ.
Các ngươi hãy tính bảy thất niên, tức là bảy lần bảy năm, để có một thời kỳ bốn mươi chín năm. 9 Vào ngày mồng mười tháng bảy, tức là ngày lễ chuộc tội, phải thổi kèn vang dội khắp trong nước. 10 Phải biệt riêng năm thứ năm mươi làm năm thánh và công bố tự do khắp nơi cho mọi cư dân trong nước. Đó là năm hoan hỉ cho các ngươi, vì mỗi người sẽ nhận lại tài sản của mình và được trở về với gia đình mình. (Lê-vi-ký 25:8-10 - BDM)
Vào năm hoan hỉ đó, người nô lệ sẽ được trở nên người tự do. Đất đai, tài sản trước đó vì nghèo khó phải cầm bán sẽ được hồi phục lại cho con cháu của nguyên chủ. Nợ nần sẽ được xóa sạch. Đây là cơ hội để những người nô lệ, bần cùng, khốn khổ có thể bắt đầu lại một cuộc đời hoàn toàn mới, không tì vết, nợ nần.
Dụng ý của Ma-thi-ơ khi nêu lên 3 lần 14 đời để chỉ rõ rằng Đức Chúa Giê-xu Christ chính thật là ứng nghiệm của những lời dạy trong Cựu Ước về ngày yên nghĩ Sa-bát, về năm hoan hỉ. Chúa Giê-xu là Đấng đem đến sự yên nghĩ Sa-bát trọn vẹn và cuối cùng. Chúa cũng là Đấng Hoan Hỉ xóa hết mọi tội lỗi, giải cứu kẻ nô lệ được tự do, ban cho cơ hội để tái tạo một cuộc đời hoàn toàn mới. Như dân sự Y-sơ-ra-ên xưa vào năm thứ 50, những người đặt trọn niềm tin vào sự cứu rỗi của Chúa Giê-xu sẽ được xóa hết nợ của tội lỗi, được giải cứu khỏi vòng nô lệ của ma quỉ để trở nên con cái sáng láng trong Ngài, để cuộc đời cũ ngày xưa sẽ được hoàn toàn đổi mới.
Trong gia đình Chúa không ai có thể khoe mình vì tất cả đều là tội nhân được cứu bởi ân điển qua đức tin. Mọi người có tội đều có thể được đến dự buổi tiệc cưới Chiên Con. Điều kiện không phải là công nghĩa, đạo đức hay học thức, thành quả đạt được trong đời. Nhưng khi một người thú nhận rằng tôi là kẻ có tội, không tự cứu mình được nên với lòng chân thành, tôi đến với Chúa Giê-xu để ăn năn nhận tội, xin tha thứ và được cứu chuộc.
Trong bàn tiệc lớn của gia đình Chúa, mọi người đều là tội nhân. Phụ nữ sẽ ngồi cùng với nam giới. Dân ngoại ngồi cùng với dân tuyển. Vua ngồi cùng với kỹ nữ. Người lừa dối cha anh, cướp quyền trưởng nam ngồi cùng với kẻ phạm tội tà dâm. Ý thức rõ rằng duy bởi ân điển họ được ngồi chung với nhau trong bàn tiệc lớn của Chiên Con.
Sứ đồ Phao-lô giải thích ý nghĩa của gia phả Đấng Christ như sau: Đức Chúa Trời đã chọn những sự hèn hạ và khinh bỉ ở thế gian, cùng những sự không có, hầu cho làm những sự có ra không có, 29 để chẳng ai khoe mình trước mặt Đức Chúa Trời. 30 Vả, ấy là nhờ Ngài mà anh em ở trong Đức Chúa Jêsus Christ, là Đấng mà Đức Chúa Trời đã làm nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh, và sự cứu chuộc cho chúng ta; 31 hầu cho, như có lời chép rằng: Ai khoe mình, hãy khoe mình trong Chúa. (1 Cô-rinh-tô 1:28-31)
Đây cũng chính là bài học lạ lùng, diệu kỳ về ân điển qua gia phả Đấng Christ.
