Ánh Sáng của Sự Sống
Ánh sáng là nguồn của sự sống. Không có sự sáng thì không có sự sống. Địa cầu sẽ là một hành tinh chết nếu thiếu đi ánh sáng của mặt trời. Loài người và tất cả các loài sinh vật, cây cỏ cũng sẽ chết mất nếu không có sự sáng. Theo STK ĐCT đầu tiên tạo ra điều gì sau khi dựng nên trời đất? Sự sáng. Đức Chúa Trời phán rằng: Phải có sự sáng; thì có sự sáng.
Ánh sáng là nguồn yên ủi, an ninh. Tôi nghĩ hầu hết qv đây đều có những đèn tự động theo giờ trong nhà, để khi trời xụp tối thì đèn cháy lên như có người ở nhà. Qv chắc nhớ hồi xưa còn ở VN khi còn đi xe đạp, có lúc đường tối thui chỉ sợ sụp ổ gà thì bỏ mạng! Trong hang động tối tăm, dù khi rắn độc ở sát bên mình chúng ta vẫn không biết được; đến khi biết được thì đã quá muộn vì bị cắn! Khi ở nhà một mình thì nhiều người để cả đèn lúc ngủ cho thấy an toàn. Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng (TT 30:5).
Ánh sáng là nguồn hy vọng. Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi: Tôi sẽ sợ ai? Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai? (TT 27:1)
Gióp ví ánh sáng như một hy vọng thoát ra khỏi cơn khổ nạn: Tôi đợi chờ phước hạnh, tai họa bèn xảy đến; Tôi trông cậy ánh sáng, tăm tối lại tới cho. Lòng tôi trằn trọc không an nghỉ; Các ngày gian nan xông áp vào tôi. (Gióp 20:26-27)
Dân đi trong nơi tối tăm đã thấy sự sáng lớn; và sự sáng đã chiếu trên những kẻ ở xứ thuộc về bóng của sự chết. (Ê-sai 9:1)
Ánh sáng là hình ảnh, biểu tượng của chân lý, thánh khiết. Cũng như bóng tối là biểu tượng của dối trá, tội lỗi. Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, Ánh sáng cho đường lối tôi. (TT 119:105)
ĐCJC tự nhận Ngài là NSTG, là Ánh Sáng của Sự Sống.
Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. 5 Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng. (Giăng 1:4-5)
Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống. (Giăng 8:12)
Đương khi ta còn ở thế gian, ta là sự sáng của thế gian. (Giăng 9:5)
Ta là sự sáng đã đến thế gian, để ai tin ta, chẳng ở nơi tối tăm nữa. (12:46)
Một lời tự nhận không tiền khoáng hậu, có một không hai trong suốt lịch sử nhân loại. Nhiều lãnh tụ tôn giáo, triết gia nhận họ biết chân lý, biết sự sáng nhưng không ai tự nhận mình là sự sáng. ĐCJC còn dạy ai theo Ngài, không chỉ bước đi trong ánh sáng của chân lý, lẽ thật nhưng còn được ánh sáng lớn phản chiếu để trở nên những điểm sáng trong thế gian này.
XÁC THẬT LỜI TỰ NHẬN CỦA CHÚA
Sau khi nghe những lời tự nhận của ĐCJC, những người Pha-ri-si không tin và vấn hỏi: Thầy tự làm chứng về mình, thì lời chứng thầy không đáng tin. (8:13) Đây cũng là câu hỏi của rất nhiều người. Họ hoài nghi, không tin lời của ĐCJC. Làm thế nào để chúng ta xác nhận lời của một người là trung thật và đáng tin. Qua ba cách.
Cách thứ nhất là lắng nghe, xét đoán cách cẩn thận lời của người đó xem có đáng tin và trung thật hay không. Chúng ta cũng xem xét tính hạnh, đời sống đạo đức của người đó xem thế nào: Họ có sống như họ nói hay không? Lời nói của họ có đi đôi với hành động hay không? Họ đối xử với những người chung quanh thế nào? ĐCJC tự nhận Ngài là Nguồn Sáng Thế Gian. Không mấy người trong lịch sử nhân loại (ngoại trừ những người điên dại không biết mình nói gì) tự nhận là Nguồn Sáng Thế Gian nên lời tự nhận này của ĐCJC càng đáng để xem xét, phân tích, kiểm chứng. Bởi vì hễ lời tuyên bố, lời tự nhận càng to lớn thì việc xét nghiệm phải càng kỹ lưỡng, cẩn thận hơn.
Cách thứ hai để kiểm chứng lời nói của một người là qua lời làm chứng của những người đáng tin cậy. Khi những người chúng ta tin tưởng, kính trọng, những người chúng ta biết có uy tín, nói điều gì đó hay xác nhận với chúng ta về một điều gì đó, chúng ta tin lời cho dù không tự mình kiểm chứng. Đây là cách thức phổ thông hơn hết trong mọi lãnh vực của đời sống. Con cái tin lời cha mẹ, ông bà. Học sinh tin tưởng lời dạy, kiến thức truyền đạt từ thầy cô, từ sách vở giáo khoa được viết bởi các giáo sư có kiến thức về ngành học. Bệnh nhân tin lời bác sĩ. Tín đồ tin lời mục sư. Bởi vì không ai đủ khả năng, thời gian để kiểm chứng lại mọi lời của mọi người. Điều này đặc biệt đúng khi viết về những sự kiện lịch sử, những điều đã xảy ra trong quá khứ. Khoa học không thể chứng minh lời tự xưng của ĐCJC là Nguồn Sáng Thế Gian. Chúng ta biết, tin hay không căn cứ vào những lời ghi lại trong 4 sách PA, qua các thư tín của các sứ đồ, qua các tài liệu lịch sử trong thời điểm đó.
Cách thứ ba là qua sự báo trước, tiên tri. Nếu kiểm chứng lại lời tự xưng của ĐCJC, chúng ta thấy hơn 700 năm trước đó tiên tri Ê-sai đã viết về sự sáng lớn đến từ một con trẻ sinh bởi một nữ đồng trinh. Và khi lớn lên sẽ nổi tiếng trong vùng biển Ga-li-lê của dân ngoại. Tiên tri Mi-chê báo trước rằng con trẻ đó sẽ sinh tại làng Bết-lê-hem. Tiên tri Ô-sê báo trước con trẻ và gia đình phải tạm trụ tại xứ Ai-cập. Tiên tri Giê-rê-mi tiên đoán hơn 500 năm trước đó rằng khi con trẻ sanh ra nhiều người mẹ sẽ than khóc vì con nhỏ mình bị giết hại. Sự giáng sinh của ĐCJC xác nhận sự thật của những lời tiên tri này.
Hai phân đoạn KT chúng ta đã cùng đọc trong Giăng 1 & 8 gồm lời làm chứng, không chỉ của Giăng Báp-tít và sứ đồ Giăng người ĐCJC chọn, nhưng của hàng trăm, hàng ngàn tín đồ tin lời ĐCJC sống trong thế kỷ thứ I và cũng chính là lời làm chứng của hàng tỉ tỉ người tin Chúa trong suốt 20 thế kỷ qua về NSTG.
ÁNH SÁNG CỦA SỰ SỐNG
Bối cảnh của lời Chúa: Lễ lều tạm (feast of Tabernacles). Lễ lều tạm là 1 trong 3 lễ quan trọng và lớn nhất của dân tuyển Ỵ: lễ vượt qua, lễ ngũ tuần và lễ lều tạm.
Theo luật pháp Mô-se thì tất cả những người nam dù ở đâu cũng sẽ kỷ niệm, cử hành 3 trọng lễ này.
Sau khi dân sự được ĐCT giải cứu ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập, họ trên đường đến vùng đất hứa ĐCT ban cho. Nhưng thay vì biết ơn, vâng lời Chúa để được vào đất hứa, thì họ lại nghe theo lời của 10 trong số 12 thám tử mà nổi loạn, trách móc, buộc tội ĐCT đem họ ra khỏi xứ để giết họ trong đồng vắng. Hậu quả là dân sự phải đi trong đồng vắng 40 năm trời. Cả thế hệ nổi loạn phải bỏ xác nơi đồng vắng. Chính trong đồng vắng 40 năm trời, ĐCT dạy họ bài học về sự quan phòng, ban cho, gìn giữ, bảo vệ của ĐCT.
ĐCT ban cho nước uống cách mầu nhiệm từ hòn đá, ban cho bánh thịt từ trời. ĐCT gìn giữ giày dép họ không mòn, chân không đau khi đi trong đồng vắng. Lễ lều tạm nhắc nhở dân sự về sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng này. Về đồng vắng, về sự ban cho, gìn giữ của ĐCT với dân Ngài trong đồng vắng.
Lễ lều tạm gồm 2 nghi lễ quan trọng: 1) Mỗi ngày thầy tế lễ múc nước từ hồ Si-lô-ê (Si-lưu, Xi-lôm, Si-lô-am) đổ vào các bình vàng để nhắc nhở dân sự về việc ĐCT thực hiện phép lạ ban nước uống cho dân trong đồng vắng. 2) Mỗi đêm 4 cây đèn khổng lồ cao 75 ft, mỗi đèn có bốn chân hình hoa chứa nhiều dầu, sẽ được thắp lên sáng cả thành Giê-ru-sa-lem.
ĐCJC tự nhận mình là nguồn nước của sự sống: Ngày sau cùng, là ngày trọng thể trong kỳ lễ, Đức Chúa Jêsus ở đó, đứng kêu lên rằng: Nếu người nào khát, hãy đến cùng ta mà uống. 38 Kẻ nào tin ta thì sông nước hằng sống sẽ chảy từ trong lòng mình, y như Kinh thánh đã chép vậy (Giăng 7:37-38)
Và ánh sáng của sự sống: Đức Chúa Jêsus lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống. (Giăng 8:12)
Đương khi ta còn ở thế gian, ta là sự sáng của thế gian. (Giăng 9:5)
Ta là sự sáng đã đến thế gian, để ai tin ta, chẳng ở nơi tối tăm nữa. (12:46)
Chính khi dân sự kỷ niệm một ngày lễ quan trọng do chính ĐCT ra lệnh cho họ, thì ĐCJC “cả gan” mà tự xưng Ngài là sông nước hằng sống, ai uống nước Ngài ban cho sẽ không bao giờ khát nữa; tự nhận mình là sự sáng (không chỉ cho người DT) nhưng cả thế gian, là ánh sáng của sự sống. Nói khác Giê-xu tự nhận rằng lễ lều tạm này chỉ là bóng, mà hình là chính nơi Ngài. Nếu ngày xưa ĐGHV đã ban cho dân sự nước uống, dẫn đường, che chở họ qua đám mây ban ngày khi nắng nồng cháy da, qua trụ lửa đem lại hơi ấm, ánh sáng ban đêm thì hôm nay chính Ta, Giê-xu Christ là Đấng ban cho mọi dân nước uống không khát, ban cho ánh sáng sự sống.
ĐCT dẫn đường cho dân sự qua đám mây ban ngày và trụ lửa ban đêm. Ban ngày đám mây che phủ, bảo vệ dân sự khỏi nắng nồng cháy da; ban đêm trụ lửa đem lại ánh sáng, sự ấm áp. ĐCJC tự nhận rằng mình là trụ lửa ngàn xưa cho dân sự. Trụ lửa trong CU là bóng mà hình chính là Ta, Jesus Christ. Điều này cũng xác nhận rằng cả KTCU đều viết về Ngài. Ta chính là ĐCT, Đấng đã dẫn đường cho dân sự trong đồng vắng.
Hình ảnh đồng vắng là một hình ảnh vô cùng quan trọng. KT ví cuộc đời này như đồng vắng đầy dẫy hiểm nguy, gian khổ, khó khăn. Ban đêm trong đồng vắng giá lạnh, ngọn lửa đem lại sự ấm áp. Bóng tối trong đồng vắng ban đêm đầy dẫy những nguy hiểm.
Dân sự không thể sống còn nếu ĐCT không hiện diện, dẫn dắt họ ban ngày qua đám mấy, ban đêm qua trụ lửa. ĐCT chính là nguồn sự sống của dân sự trong đồng vắng. ĐCJC nhận rằng chính Ngài cũng là nguồn sự sống của cả thế gian, không chỉ cho dân tuyển nhưng cho tất cả muôn người trong thế gian.
ĐCJC tự nhận Ngài chính là NSTG, là ánh sáng của sự sống. Nguồn là nơi bắt đầu, nơi phát sinh. Như mặt trời là nguồn sự sáng của trái đất và tất cả các hành tinh khác trong thái dương hệ. Chính từ nguồn sáng đó chúng ta mới thấy được mọi vật chung quanh: Vì nguồn sự sống ở nơi Chúa; trong ánh sáng Chúa chúng tôi thấy sự sáng. (TT 36:9)
Quả thật một lời tự nhận lộng ngôn, phạm thượng đối với người Pha-ri-si! Thật là một lời tự nhận không tiền khoáng hậu, có một không hai trong lịch sử loài người!
Ý NGHĨA CHO NGƯỜI NHẬN ÁNH SÁNG SỰ SỐNG
Khi nói ĐCJC là ánh sáng sự sống có nghĩa gì? 1) Chúa ban cho người tin Ngài sự sống mới qua sự tái sinh. 2) Chúa ban cho Thần Lẽ Thật, như ánh sáng là biểu tượng của chân lý, lẽ thật. 3) Chúa ban cho Đấng Yên Ủi như ánh sáng là nguồn của an ninh, yên ủi. 4) Chúa ban cho người tin Chúa hy vọng lớn nhất được làm con cái của ĐCT và sẽ được ở cùng Ngài cho đến đời đời nơi nước thiên đàng, nơi không còn khóc than, đau đớn, bệnh tật, chiến tranh, tội ác.
Chúa ban cho những người tin Ngài sự sống mới. Họ được tái sanh và được ĐTL đến ngự trong tâm linh để thay đổi. Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới. (2 Cô-rinh-tô 5:17)
ĐCJC khẳng định chính Ngài là NSTG, là Ánh sáng của sự sống. Nên ai tin Ngài sẽ đi trong sự sống, sẽ có ánh sáng của sự sống. Nhưng hơn thế nữa họ phản ánh nguồn sáng để trở nên ánh sáng trong thế gian:
Đức Chúa Jêsus bèn đáp rằng: Sự sáng còn ở giữa các ngươi ít lâu; hãy đi trong khi các ngươi còn có sự sáng, e rằng sự tối tăm đến thình lình cùng các ngươi chăng; kẻ đi trong nơi tối tăm thì chẳng biết mình đi đâu. Các ngươi đương có sự sáng, hãy tin sự sáng, hầu cho trở nên con cái của sự sáng. Đức Chúa Jêsus phán như vậy, rồi đi, và ẩn mình cách xa họ. (Giăng 12:35-36)
Các ngươi là sự sáng của thế gian; một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được: 15 Cũng không ai thắp đèn mà để dưới cái thùng, song người ta để trên chân đèn, thì nó soi sáng mọi người ở trong nhà 16 Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời. (Ma-thi-ơ 5:14-16)
Vả, lúc trước anh em đương còn tối tăm, nhưng bây giờ đã nên người sáng láng trong Chúa. Hãy bước đi như các con sáng láng; 9 vì trái của sự sáng láng ở tại mọi điều nhân từ, công bình và thành thật. (Ê-phê-sô 5:8-9)
Sự dẫn dắt, che chở, bảo vệ, dạy dỗ của ĐCT cho dân sự ngày xưa chỉ là sự nếm trước mà hương vị thật sự đầy đủ trong ĐCJC với sự ban cho của ĐTL, lời dạy dỗ trong KT và sự đùm bọc, thông công của HT Chúa. Là bóng mà hình trong Chúa.
NHỮNG ÁNH SÁNG CỦA THẾ GIAN
Tôi không phủ nhận là thế gian hôm nay không phải nơi nào cũng sống trong bóng tối cả. Đèn điện hôm nay là cả một tuyệt vời rất lớn mà không thể sống mà thiếu được. Năm nữ khi date thường ăn dưới ánh nến cho thơ mộng, tình tứ, nhưng khi lấy nhau rồi chỉ có khi cúp điện mới ăn dưới ánh đèn cầy hay đèn dầu, đèn bin. Cũng chính nhờ đèn điện mà biết bao nhiêu thành phố nhưng Sài Gòn, Las Vegas hay Thượng Hải 24/24 lúc nào cũng sáng cả, lúc nào cũng đông đảo người. Có người đi xem đại nhạc hội ánh đèn mờ mờ nhưng mặc áo quần kim tuyến chóa cả mắt khi nhìn.
Khi mới đến Hoa Kỳ hơn ba mươi năm trước đây, từ trên phi cơ nhìn xuống thành phố Dallas, tiểu bang Texas vào lúc ban đêm tôi cứ ngỡ như mình đến một hành tinh nào đó vì cả thành phố sáng rực lên trong đêm tối. Cơ quan không gian NASA có chụp nhiều bức hình về địa cầu trong đêm vào lúc ban đêm. Hình chỉ ra sự khác biệt rõ ràng giữa hai xứ Nam Hàn và Bắc Hàn vào lúc ban đêm.
Từ ngoài trái đất, hình cho thấy cả Nam Hàn đầy những chấm sáng nhưng Bắc Hàn thì tối tăm ngoài từ một đốm sáng nhỏ tại thủ đô Bình Nhưỡng. Cũng vậy cả Âu Châu hay Bắc Mỹ Châu thì sáng rực còn lục địa Phi Châu thì tối tăm lắm. Nếu có dịp đi phi cơ vào mùa Giáng Sinh, từ trên khung cửa sổ trước khi phi cơ hạ cánh chúng ta có thể thấy cả thành phố rực rỡ với những ánh đèn trang trí cho ngày lễ. Mới đây NASA lại chụp một số hình cho thấy số đèn tăng thêm rất nhiều lần tại các thành phố lớn HK trong mùa lễ GS.
Đây là ánh sáng nhân tạo. Để có ánh sáng thì phải cần điện. Để tạo nên điện thì phải cần nhiên liệu: than, dầu, gas, nguyên tử, hôm nay thì có solar, gió. Nhưng không có một nhiên liệu để tạo ra điện mà không có vấn đề cả: không ô nhiễm môi trường khói mù trời, thì cũng ô nhiễm phóng xạ. Hơn nữa, nếu nhân tạo thì nhân cũng có thể làm hỏng hay hủy diệt. Chúng ta thấy rất rõ điều này. Năm 2003 một vụ cúp điện tại vùng Đông Bắc khiến cho 55 triệu người mất điện, xe điện tại các thành phố lớn cũng phải ngừng lại, các cửa tiệm cũng không có điện nên không thể giữ thức ăn lâu sợ bị hư thối, cell phones, internet cũng không có vì không có điện. Khi trên đường về hôm nay khi chạy xe, qv có thể nghĩ xem khi không có điện thì cuộc sống hiện tại xứ này, tại các thành phố trên HK, tại các quốc gia khác như thế nào.
Tiếng Anh cũng có từ luminaries được dùng với hai nghĩa khác nhau: 1) Một vật thể gì đó tỏa ra ánh sáng như sao trên trời, mặt trăng, hay như các cây đèn cầy nhỏ bỏ trong túi giấy dầu có cát để chung quanh nhà, đặc biệt chung quanh những đường đi vào nhà. , là thủ đô xưa của thành phố, người ta sắp những luminaries thành hình một thập tự giá; 2) là gương sáng nói về những người nổi bật, những người vĩ nhân, những người rất tài giỏi đóng góp nhiều cho xã hội, thế giới. Theo nghĩa thứ 2 thì chúng ta có thể nói về rất nhiều gương sáng, điểm sáng để chúng ta có thể bắt chước, học làm theo.
Khi ĐCJC dạy Ngài chính là NSTG, là ánh sáng sự sống Chúa hàm ý rằng thế gian này có tối tăm. Chúa xác nhận nhiều người đang sống, đang đi trong bóng tối.
Không một ánh sáng nào trong đời sống này là vĩnh viễn, trường cửu. Không một người nào trong đời lại không có lần sống trong bóng tối. Ngay cả các bậc vĩ nhân, lãnh đạo nổi bật này cũng có lúc sống trong bóng tối, không phải vì không có ánh sáng của đèn nhưng bóng tối của cuộc đời. Ai không sợ bóng tối của cô đơn, tuyệt vọng. Ai không phải đi qua trũng than khóc vì mất người mình thương mến, mất tình bạn, tình yêu. Ai không chùng lòng khi nghe tin mình mang căn bệnh ung thu. Chúng ta đi trong bóng tối đau khổ khi một ngày thình lình vợ mình, chồng mình nói rằng: tôi không còn muốn sống với anh, với em nữa, từ rày đường ai nấy đi. Hay bóng tối tủi nhục, hổ thẹn khi chính mình mắc vào những thói xấu không bỏ được. Khi người chủ bảo với chúng ta: anh chị bị đuổi, bị lay-off hôm nay. Khi số tiền dành dụm bao nhiêu năm trời bổng biến mất như mọc cánh bay đi vì con cái, hay chồng vợ lấy đi rồi ăn chơi, cờ bạc. Và bóng tối kinh khiếp nhất của đời người là sự chết.
Một bóng tối dày đặc ngay trong các nước văn minh đèn điện không bao giờ tắt là bóng tối của sự kỳ thị, bất bình đẳng, bất công trong xã hội: Cá lớn nuốt cá bé, kẻ giàu thắng người nghèo, người có quyền thế cai trị dân tầm thường. Làm sao cho chỗ cho người có lòng khó khăn, cho người nhu mì, cho người chuộng sự công bình? Ai sẽ lau nước mắt cho người than khóc? Nhưng khi Chúa đến, mọi sự thay đổi. Những người bần cùng của xã hội, người bị ruồng bỏ, chê khinh bây giờ có chỗ trong nước Trời, có hy vọng cho cuộc sống hiện tại. Sự sáng lớn đến trong tối tăm là như vậy.
Câu chuyện từ bài viết What I Learned from a dying patient của bác sĩ E. Wesley Ely, bác sĩ và giáo sư y khoa trường đại học y khoa Vanderbilt, Wall Street Journal 20/12/2014. Chuyện kể về một bệnh nhân 39 tuổi, tiến sĩ khoa học, brilliant được đưa đến cấp cứu và vào ICU vì có nhiều triệu chứng mà không biết nguyên nhân. Hai tháng trước đó, cô vẫn mạnh khỏe. Thình lình thở như hụt hơi, có máu trong nước tiểu và ngón chân cái bị đau. Khi chụp hình thì thấy cô bị một khối u trong mạch tim và nhiều phần của thận đang chết. .
Khi bác sĩ Ely nói chuyện với mẹ người bệnh thì được bà cho biết là cô không tin có thượng đế (agnostic). Sau một thử nghiệm phổi bác sĩ xác nhận cô bị ung thu và ung thu đã lan đầy trong cơ thể. Khi cho biết kết quả thì phổi cô đã đầy nước, cô không nói được. Nhưng mắt và nước mắt của cô như kêu gào với bác sĩ câu hỏi tại sao tôi! Chỉ 8 tiếng đồng hồ sau khi biết kết quả ung thu, cô qua đời. Bác sĩ Ely viết: Từ ngàn xưa, những nhà thông thái như Plato và Aristotle dạy chúng ta về khái niệm của thân xác, trí tuệ và linh hồn (body, mind, spirit)… Bệnh nhân tôi và tôi có hai phần đầu giống nhau (thân và trí) nhưng khi nói về tâm linh niềm tin chúng tôi khác nhau… Một cuộc xác nghiệm về thể xác (autopsy) sẽ trả lời rất nhiều câu hỏi, như bứu gì lớn lên trong mạch tim và có thể cả căn cơ của ung thu mà chúng tôi nghĩ từ các bộ phận vùng bụng, nhưng không một cuộc giảo nghiệm thể xác nào, không có kính hiển vi nào hay cuộc thử nghiệm phòng lab nào có thể giúp tôi biết hơn về tình trạng tâm linh của cô.
Làm sao để có thể nhận sự sáng thật vào cuộc đời mình, để tâm linh mình có thể thay đổi bởi sự sáng thật đó?
Chúa không nói Ta biết và sẽ chỉ cho ai theo Ta sự sáng thật, sự sáng của sự sống phước hạnh, sự sáng xua tan bóng tối sợ hãi của sự chết, sự sáng đem đến sự sống đời đời nơi thiên đàng. Phật bảo đừng nhằm ngón tay Ngài với mặt trăng khi dùng tay để chỉ mặt trăng; nói cách khác đừng lầm ta với chân lý. Nhưng ĐCJC thì tự nhận rằng Ta là sự sáng của thế gian, của cả thế gian! Nói cách khác ĐCJC tự nhận Ngài là nguồn sáng, chứ không phải chỉ là ánh sáng phản ánh từ một vật thể, một con người này khác, như mặt trời là nguồn sáng, mặt trăng chỉ phản ánh sáng mặt trời. Ngài là chân lý. Ngài là ĐCT.
ĐÓN NHẬN ÁNH SÁNG SỰ SỐNG
Làm thế nào để chúng ta có thể nhận được NSTG, ánh sáng của sự sống? Chúa hứa rất chắc chắn rằng "người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống". Theo đây không phải là sống giống như, làm giống như bởi vì ai có thể sống một đời sống hoàn toàn thánh khiết, vô tội như ĐCJC.
KT dạy rõ về việc đón nhận ánh sáng sự sống vào đời sống chúng ta. 1) Biết mình là người có tội, đang sống trong bóng tối của tội lỗi, bóng tối của sự xa cách với ĐCT; 2) Biết mình không thể vì công đức, việc làm thiện mà có thể ra khỏi bóng tối tội loi; 3) Tin nhận ĐCJC là nguồn sáng duy nhất cho cuộc đời để đón nhận sự cứu rỗi, tha thứ tội và ban cho của ĐTL.
Khi Jê-sus đến nơi nào thì Ngài đem sự sáng của chân lý, bình an và hy vọng đến nơi đó. Người mù được sáng, người câm được nói, được què được đi, những kẻ tật nguyền được chửa lành. Ngay cả những người phụ nữ bị xã hội coi rẻ cũng có một vị trí đặc biệt đối với Chúa. Đức Chúa Trời muốn chúng ta đón nhận, sống và bước đi trong sự sáng đó. Ngài muốn giúp tôi và qv sống trong bình an và hy vọng chứ không phải trong sự sợ hãi, lo âu, sống trong bóng tối của tuyệt vọng.
Và khi Chúa đến trong thế gian, lần đầu tiên trong lịch sự loài người, những người làm nô lệ có thể đứng ngang hàng với chủ mình khi thờ phượng, và được gọi là anh em trong Chúa. Những người thiếu thốn nhất, nghèo nàn nhất, khổ sở nhất tìm thấy hy vọng cho đời sống họ qua lời của Chúa dạy: "Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy! Phước cho những kẻ than khóc vì sẽ được yên ủi! Phước cho những kẻ nhu mì, vì sẽ hưởng được đất! Phước cho những kẻ đói khác sự công bình, vì sẽ được no đủ!" (Ma-thi-ơ 5:3-7).
Trong một xã hội mà cá lớn nuốt cá bé, kẻ giàu thắng người nghèo, người có quyền thế cai trị dân tầm thường, làm sao cho chỗ cho người có lòng khó khăn, cho người nhu mì, cho người chuộng sự công bình? Ai sẽ lau nước mắt cho người than khóc? Nhưng khi Chúa đến, mọi sự thay đổi. Những người bần cùng của xã hội, người bị ruồng bỏ, chê khinh bây giờ có chỗ trong nước Trời, có hy vọng cho cuộc sống hiện tại. Sự sáng lớn đến trong tối tăm là như vậy.
Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài, là kẻ chẳng phải sanh bởi khí huyết, hoặc bởi tình dục, hoặc bởi ý người, nhưng sanh bởi Đức Chúa Trời vậy. (Giăng 1:9-10)
