Ân Tứ Thánh Linh – Cho Đi Có Phước Hơn Nhận Lãnh
Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người. Vả, như thân là một, mà có nhiều chi thể, và như các chi thể của thân dầu có nhiều, cũng chỉ hiệp thành một thân mà thôi, Đấng Christ khác nào như vậy. Vì chưng chúng ta hoặc người Giu-đa, hoặc người Gờ-réc, hoặc tôi mọi, hoặc tự chủ, đều đã chịu phép báp-tem chung một Thánh Linh để hiệp làm một thân; và chúng tôi đều đã chịu uống chung một Thánh Linh nữa. (1 Cô-rinh-tô 12:11-14)
QUÀ – AI KHÔNG MUỐN NHẬN?
Thiết nghĩ không ai lại không muốn nhận quà. Một lý do mà thế giới đón mừng Giáng Sinh là vì những món quà họ sẽ được nhận. Dĩ nhiên tín đồ nói về sự giáng thế của ĐCJC trong mùa GS như một món quà vô giá của ĐCT cho loài người.
Thường thì có hai loại quà chính: 1) cho sự vui thỏa của cá nhân (personal enjoyment) như áo quần, iphone, nhẫn vàng, 2) để làm công việc (service) nào đó như dụng cụ sửa nhà, máy hút bụi, bộ nồi nấu.
Mọi tín đồ cũng mong nhận ân tứ ĐTL, hay những món quà thuộc linh ĐTL ban cho những người tin Chúa. KT xác nhận rằng mọi tín đồ đều sẽ nhận được món quà đặc biệt, hay ân tứ của ĐTL, không ngoại lệ. ĐTL ban ân tứ, quà đặc biệt cho người tin Chúa không phải chỉ để cho sự vui thỏa cá nhân, để chỉ dùng cho mình họ nhưng chủ yếu để hiệp một và làm ích lợi chung cho hội thánh, cho thân thể Đấng Christ. Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh. Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung. (1 Cô-rinh-tô 12:4-7)
KT TU viết về ân tứ ĐTL hay quà thuộc linh từ ĐTL trong 4 đoạn: Rô-ma 12:3-8, 1 Cô-rinh-tô 12:1-11, Ê-phê-sô 4:11-13, và 1 Phi-e-rơ 4:10-11. Quí vị có thể đọc trong các đọan KT này về những ân tứ khác nhau như tiên tri, mục sư, phục vụ, giảng dạy, lãnh đạo, dâng hiến, thương xót, yên ủi… Tôi chỉ muốn nêu lên hai điều quan trọng trong 4 đoạn KT này về ân tứ TL:
1. Nếu là quà tặng thì chúng ta chỉ là kẻ nhận. Người ban cho là ĐTL của ĐCT. Không có gì để chúng ta có thể khoe khoang như của chính mình.
2. Trước khi liệt ra các ân tứ, PL bắt đầu Rô-ma 12:3-5 với lời khuyên bảo: Vậy, nhờ ơn đã ban cho tôi, tôi nói với mỗi người trong anh em chớ có tư tưởng cao quá lẽ, nhưng phải có tâm tình tầm thường, y theo lượng đức tin mà Đức Chúa Trời đã phú cho từng người. Vả, như trong một thân chúng ta có nhiều chi thể, và các chi thể không làm một việc giống nhau, thì cũng vậy, chúng ta là nhiều người mà hiệp nên một thân trong Đấng Christ, và hết thảy chúng ta đều là các phần chi thể của nhau.
Hai câu KT này nhắc hai điều quan trọng: chớ kiêu ngạo, chớ nghĩ mình cao quá mức hơn người, và cần biết rõ rất tất cả ân tứ ban cho khác nhau như chi thể của một thân, dù khác nhau nhưng cùng phục vụ một thân.
Ý về những ban cho khác nhau, ân tứ khác nhau để cùng phục vụ một thân cũng được lập lại trong 1 Cô-rinh-tô 12:4-7 Vả, có các sự ban cho khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Thánh Linh. Có các chức vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa. Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. Đức Thánh Linh tỏ ra trong mỗi một người, cho ai nấy đều được sự ích chung.
Cũng như trong Ê-phê-sô 4:11-13: Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư, để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ, cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ.
Và 1 Phi-e-rơ 4:10: Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời.
Bài học quan trọng có thể rút ra từ trong 4 đoạn KT về ân tứ ĐTL trong TU là trước khi liệt ra các ân tứ, KT dạy chúng ta cần nhớ rõ, suy gẫm cẩn thận về mục đích của sự ban cho. Chính vì mục đích để làm lợi ích cho hội thánh và tín đồ mà ĐTL ban ân tứ. Vậy ân tứ được ban cho với mục đích cụ thể để làm lợi ích chung cho hội thánh, chứ không phải cho hưởng thụ cá nhân.
ÂN TỨ VÀ THÂN THỂ ĐẤNG CHRIST
Không có gì buồn lòng cha mẹ hơn trong buổi sáng GS sau khi nhận quà tặng, mở ra xem xong các con lại tranh cải với nhau về giá trị quà mình nhận hay trách móc cha mẹ sao không cho đồng đều. Thực tế hội thánh thường không khác gì cảnh tượng đáng buồn này. Thay vì cùng nhau đóng góp cho công việc chung, tín đồ vì bao nhiêu lý do “không thể nói ra” hay “mục sư không hiểu được đâu” mà không muốn làm việc chung với nhau hay hờn giận với nhau, hay buồn trách Chúa sao không cho mình món quà này mà lại cho “cái người đáng ghét kia”, hay giận mục sư sao coi thường sự đóng góp mình mà trọng sự đóng góp của người.
ĐTL của ĐCT hiểu biết rõ lòng dạ con người dù là tín đồ hội thánh vẫn còn đầy dẫy sự ghen tức, kiêu hãnh, dễ hờn trách, mau nóng giận, khó làm việc chung với nhau nên trong cả 4 đoạn KT đều dạy dỗ trước khi nói về sự ban cho ân tứ.
Có gì đau lòng ĐTL của ĐCT hơn tín đồ dùng chính ân tứ đã nhận để làm tổn thương thân thể Đấng Christ. Thay vì gây dựng, đả kích. Thay vì đóng góp, chê bai. Thay vì tham gia, trách móc, hờn giận. Dù có hằng ngàn ân tứ trong một người tín đồ như vậy thì có lợi ích gì? Ân tứ ĐTL chỉ có giá trị thật sự trong đời sống tín đồ khi được xử dụng cho lợi ích của thân thể ĐCJC là hội thánh. Quí vị hỏi làm lợi ích cho thân thể Đấng Christ, cho hội thánh trừu tượng quá. Điều gì cụ thể hơn. Tôi có hai điều cụ thể sau đây cho tất cả chúng ta:
1. Chia sẻ, san sớt để làm cho nhau thêm mạnh mẽ - Rô-ma 1:11-12: Thật vậy, tôi rất mong mỏi đến thăm anh em, đặng thông đồng (chia xẻ, san sớt) sự ban cho thiêng liêng (ân tứ) cùng anh em, hầu cho anh em được vững vàng, tức là tôi ở giữa anh em, để chúng ta cùng nhau giục lòng mạnh mẽ bởi đức tin chung của chúng ta, nghĩa là của anh em và của tôi.
Khi anh chị em ngã lòng, chùng bước, thậm chí vấp ngã, hãy tương trợ, yên ủi, nâng đở thay vì chỉ trích, chê bai. Lắm lúc một cái nhìn cảm thông, một lời khuyến khích, một hành động ân cần quan trọng hơn bao nhiêu bài giảng từ đoạn KT này, đoạn KT khác. Có lúc anh chị em chỉ cần có người lắng nghe để biết rằng họ còn có người quan tâm cho mình.
Đôi lúc hội thánh chú ý quá nhiều về việc phân tích ân tứ này, ân tứ nọ và tìm nhiều cách để giúp tín hữu biết họ có ơn gì qua trắc nghiệm, bài thử… Đơn giản nhất đối với tôi là nghĩ đến cách nào giúp cho anh chị em trong hội thánh được thêm mạnh mẽ trong đức tin, có hy vọng, niềm tin yêu trong đời sống hằng ngày, có niềm vui trong sự hầu việc Chúa. Quan trọng nhất không phải là biết mình có ân tứ gì, nhưng muốn làm gì để giúp cho anh chị em trong Chúa được mạnh mẽ hơn.
Bản tính con người hay đả phá hơn xây dựng, làm cho yếu đuối hơn làm cho mạnh mẽ. Chỉ trích, phàn nàn, chê bai, trách móc dễ hơn là tham gia, đóng góp, khen ngợi, động viên. Chúng ta cần bắt đầu mỗi ngày với sự cầu nguyện: Xin ĐTL giúp con được ơn Ngài để con có thể làm cho anh chị em con thêm mạnh mẽ, vững mạnh trong đức tin. Cần tìm cách để dùng những khả năng mình có mà làm điều này.
2. Giúp cho mọi người được thành nhân trong Đấng Christ - Ấy chính Ngài đã cho người nầy làm sứ đồ, kẻ kia làm tiên tri, người khác làm thầy giảng Tin Lành, kẻ khác nữa làm mục sư và giáo sư, để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể Đấng Christ, cho đến chừng chúng ta thảy đều hiệp một trong đức tin và trong sự hiểu biết Con Đức Chúa Trời, mà nên bậc thành nhân, được tầm thước vóc giạc trọn vẹn của Đấng Christ. (Ê-phê-sô 4:11-13)
Không chỉ làm cho mạnh mẽ nhưng cuối cùng giúp cho mọi người được trưởng thành trong Chúa. Lý do gì hội thánh không mạnh mẽ? Vì tín đồ không trưởng thành. Con trẻ thật dễ thương nhưng không thể ở trong tình trạng đó suốt đời. Dù có dễ thương đến mấy cũng phải đến thời gian nào đó lớn lên, rồi trưởng thành.
Dấu hiệu của người trưởng thành trong đức tin là gì? Là có khả năng để giúp người khác trở nên mạnh mẽ, giúp người khác trưởng thành như chính họ đã trưởng thành. Phải chăng đây là trách nhiệm chính yếu và quan trọng nhất của những người làm cha mẹ: giúp con mình tự lập, có gia đình, rồi dạy lại con cái của chính chúng nó được nên người. Quá trình tái tạo này là lý do ĐCT ban cho tín đồ trong hội thánh ân tứ.
ÂN TỨ VÀ SỰ TẬP TÀNH
Nhiều người nghĩ rằng vì ĐTL ban cho ân tứ, quà đặc biệt từ ĐCT nên sẵn sàng để xử dụng. Như mì ăn liền, chỉ cần mở gói ra, bỏ vào nước sôi là có bửa ăn ngon ngay lập tứ. Phải chăng ân tứ ĐTL cũng như vậy? Chỉ cần mở ra là sử dụng liền cách thành công, mãn nguyện? KT không dạy chúng ta như vậy.
Ân tứ ĐTL cũng cần có sự tập tành. Hễ càng dùng ân tứ càng trở nên hữu dụng hơn. Ít dùng ngày cũng sẽ giảm dần hiệu quả rồi với thời gian sẽ mất đi. Có tín đồ hỏi: tại sao tôi không có ân tứ ĐTL? Câu hỏi đúng hơn là quí vị có làm gì hay không? Nếu không làm, không tập làm thì sao biết ân tứ Chúa ban cho?
Sinh sống trong thành phố và tiểu bang này chúng ta chắc không thể không nghĩ đến sa mạc. Hình ảnh sa mạc tượng trưng cho sự khô cằn, lặng lẽ, tương phản với sự xanh tươi của những nơi có nước, nơi đất tốt. Nhưng ĐCT dùng sa mạc để huấn luyện người hầu việc Ngài và cả dân sự Ngài. Ân tứ, lắm lúc chỉ được ban cho một người sau khi họ trải qua thời gian thử thách, khó khăn, lặng lẽ. Tại sao? Vì qua thời gian đó chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về mình và về ĐCT.
Mô-se, dù là hoàng tử lớn lên trong triều đình Ai-cập nhưng ĐCT để ông trong sa mạc 40 năm trời làm người chăn chiên vô danh. Đa-vít, sau khi giết người khổng lồ Gô-li-át, trở nên anh hùng dân tộc, con rễ vua Sau-lơ, bạn chí thân hoàng tử Jonathan. Nhưng chỉ sau gần 15 năm chạy trốn nơi đồng vắng, trong hang động, ĐCT mới dùng ông là vua của xứ. Ngay cả 12 sứ đồ, 3 năm theo Chúa, phạm nhiều lỗi lầm sau khi Chúa chết, rồi mới trở thành những trụ cột của hội thánh đầu tiên. Chính Phao-lô cũng vào sa mạc trong khoảng 3 năm trời trước khi ông bắt đầu các cuộc truyền giáo và viết các lá thư.
Thường thì chúng ta muốn nhận ân tứ, nhưng từ chối thời gian huấn luyện, tập tành. Sa mạc nhằm để dạy tôi và quí vị về điều quan trọng nhất trong đời sống đức tin: quan hệ với Chúa. Quan hệ với Chúa quan trọng vô cùng bởi vì chúng ta không cần nhiều thứ trong sa mạc để sống. Tuy nhiên chúng ta cần Chúa. Nếu có Chúa trong đời sống, có quan hệ với Ngài thì sẽ được ân tứ.
Người nghĩ mình có ân tứ nhưng không có quan hệ gần gũi với Chúa và không được thử luyện chắc sẽ trở nên kiêu ngạo, tự phụ và sẽ dùng ân tứ cách sai lầm, thậm chí nguy hiểm.
Trong câu chuyện ngụ ngôn ta-lâng trong Ma-thi-ơ 25:14-30 và Lu-ca 19:12-27, ĐCJC muốn dạy chúng ta điều gì? Không phải một người có bao nhiêu ta-lâng nhưng họ làm gì với ta-lâng chủ giao phó. Có người được giao phó 5 ta-lâng, người được 2, người được 1. Tuy nhiên chủ muốn mọi người đều đầu tư để sinh ra lợi. Ân tứ ĐTL ban cho cũng trở nên vô dụng nếu chúng ta không tập tành và sử dụng nó.
NHỚ GÌ VỀ NGƯỜI VÀ ĐỜI?
66 sách trong KT viết về hằng trăm, ngàn nhân vật. Nhiều nhân vật dù sống cách đây hằng ngàn năm, nay vẫn được thế gian nhắc đến như mỗi ngày, đặc biệt trong xã hội Tây phương như tại HK. Khi nghi ngờ người ta nói đến Thô-ma, nghi ngờ như Thô-ma. Khi trải qua những hoạn nạn, khổ đau vô cớ, người ta nhắc đến Gióp, kiên nhẫn như Gióp. Khi gặp những khó khăn, trở ngại, những nghịch cảnh tưởng như không thể nào vượt thắng được, người ta nhắc đến Đa-vít, Đa-vít và Gô-liát (mới đây một tác giả nổi tiếng tên là Malcom Gladwell ra một quyển sách có tựa đề này với phụ chú David and Goliath: Underdogs (người bị thua), misfits (người không thể hoà nhập), and the art of battling giants). Gặp người thông minh, xuất chúng, chúng ta nói họ khôn ngoan, thông minh, sáng suốt như Sô-lô-môn, thông minh như vua Sô-lô-môn.
Cuộc đời, tên tuổi và tiếng tăm của những nhân vật này gắn liền với hoặc tính hạnh của họ (nghi ngờ, rộng rãi, keo kiệt, hiền hòa, độc ác) hay công việc họ đã để lại cho đời này (lãnh đạo như Mô-se, tiên tri như Giê-rê-mi, truyền giáo như Phao-lô). Điều quan trọng chúng ta cần chú ý là tất cả những nhân vật này được khen ngợi hay cáo trách, đề cao hay khinh bỉ, không phải bởi vì những gì họ nhận được, có được nhưng từ những gì họ để lại, hay lấy đi.
Mô-se, dù là lớn lên trong triều đình Ai-cập nhưng ngày nay không ai nhớ đến ông như hoàng tử Ai-cập nhưng là một lãnh đạo của dân sự Chúa trong đồng vắng 40 năm. Đa-vít, dù là một thanh niên chăn chiên, nhưng chúng ta nhớ đến ông như một người yêu mến và tin cậy ĐCT với tất cả linh hồn, trí tuệ, sức lực. Phierơ, Giăng, không ai nhớ đến họ là những người đánh cá nhưng là những người sứ đồ của ĐCJC, hy sinh cả đời sống để nói về ĐCJC, về tin lành.
Chắc chắn không ai nhớ đến những gì chúng ta có trong đời sống này nhưng những gì chúng ta để lại cho đời.
