Ân Điển và Lẽ Thật – Lời Chúa Còn Mãi Đời Đời
- Sự cần thiết của cả ân điển lẫn đức tin. Bài giảng tuần qua về ân điển theo gia phả ĐCJC.
- Bài giảng hôm nay về lẽ thật, sự cần thiết và quan trọng của lẽ thật trong xã hội và hội thánh hôm nay.
- KT dạy khi nói sự thật phải nói trong tình yêu thương với ân điển. Ân điển xây cây cầu quan hệ vững đủ để chấp nhận sự thật. “Our love grows soft if it is not strengthened by truth, and our truth grows hard if it is not softened by love.” (John Stott)
[Đọc Giăng 1:14; Ê-sai 40:3-8]
Ê-sai 3:-5 tiên tri về một tiếng gọi trong đồng vắng sẽ chuẩn bị, dọn đường cho Đấng Cứu Tinh. Đoạn KT này được Ma-thi-ơ dùng khi nói về Giăng Báp-tít trong Ma-thi-ơ 3:3: Ấy là về Giăng Báp-tít mà đấng tiên tri Ê-sai đã báo trước rằng: Có tiếng kêu trong đồng vắng: Hãy dọn đường Chúa, Ban bằng các nẻo Ngài. Và Giăng 1:15: Giăng làm chứng về Ngài khi kêu lên rằng: Ấy là về Ngài mà ta đã nói: Đấng đến sau ta trổi hơn ta, vì Ngài vốn trước ta.
Những lời viết của Ê-sai đã được ứng nghiệm hơn 500 năm trước khi Giăng Báp-tít và ĐCJC sinh ra. Sự ứng nghiệm tiên tri trong KT là một trong những lý do chúng ta tin rằng KT là lời chân thật của ĐCT. Phúc âm Ma-thi-ơ từ đoạn 1 (gia phả ĐCJC) và sự giáng sinh của Chúa đến đoạn 3 nói về Giăng Báp-tít dọn đường cho ĐCJC cho biết những điều đã được ứng nghiệm:
1:23-24: Một nữ đồng trinh sẽ sinh con trai và được gọi là Ê-ma-nu-ên, tức là ĐCT ở cùng chúng ta, theo Ê-sai 7:14. Trước khi về trời ĐCJC phán cùng các môn đồ: Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế. (28:20b. ĐCT cũng ban chúng ta ĐTL
2:56: Jêsus hạ sinh nơi làng Bết-lê-hem theo Mi-canh 5:2
2:15: Con Trời phải ẩn trốn nơi xứ Ai cập theo Ô-sê 11:1
2:18: Con trẻ mới sinh sẽ bị tìm giết theo Giê-rê-mi 31:15
3:1:3: Giăng Báp-tít dọn đường cho ĐCJC theo Ê-sai 40:3, đoạn KT đã đọc
Những tiên tri ứng nghiệm hằng 500 năm trước khi xãy ra giúp chúng ta có thể tin rằng KT là lời thật, đáng tin. Lời đáng tin cậy đó đã tiên tri về một Đấng đầy ân điển và lẽ thật sẽ đến thế gian cứu chuộc tội.
Voltaire là một triết gia Pháp đã tiên đoán 100 năm sau khi ông chết, KT sẽ không còn tồn tại nữa. Voltaire chết năm 1728 tức 287 năm trước đây. KT vẫn còn và hôm nay đã được dịch ra cho trên hơn 2000 ngôn ngữ, thổ ngữ trên toàn thế giới. Một điều mĩa mai cho Voltaire là 50 năm sau khi mất, hội KT Geneva dọn vào nhà ông và dùng để in ra hằng ngàn quyển KT.
Phải chăng điều này là một phần nhỏ ứng nghiệm lời tiên tri trong Ê-sai 40:6-8: Mọi xác thịt giống như cỏ, nhan sắc nó như hoa ngoài đồng. 7 Cỏ khô, hoa rụng, vì hơi Đức Giê-hô-va thổi qua. Phải, dân nầy khác nào cỏ ấy: 8 cỏ khô, hoa rụng; nhưng lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời!
Ê-sai tương phản giữa sự tạm bợ, nông cạn của con người và đời sống con người với sự chân thật và đời đời của lời Chúa. Vì lời Chúa là thật nên sự giáng sinh của ĐCJC là thật.
3 điều từ bài giảng này: 1) Sự vắng mặt của lẽ thật, 2) Sự khó nhận của lẽ thật, 3) Sự cần thiết của lẽ thật
SỰ VẮNG MẶT CỦA LẼ THẬT
Xã hội ngày nay ít chú trọng vào sự thật, nhất là sự thật tuyệt đối. Đúng hay sai tùy hoàn cảnh, tùy thời điểm, tùy người đối diện, tùy nhu cầu. Ai cần sự thật nếu đời sống thành công, đầy đủ tiện nghi? Nói thật người ta còn ghét thêm. Nên mọi người dù tự bảo mình đang và sẽ nói thật, nhưng thực tế, sự thật! thì không ai muốn động ổ ong, hay làm mất lòng người chung quanh cả. Ngay cả trong hội thánh.
Trong xã hội ngày nay, dù tại HK hay VN, dù Âu Châu hay Á Châu, Phi Châu, có 3 lý thuyết (chủ thuyết, chủ nghĩa) bác bỏ sự thật tuyệt đối: [slide giới thiệu]
1) Cá nhân (individualism) - sống cho tôi, sống theo ý tôi
- Chỉ có tôi mới có thể quyết định điều gì tốt nhất cho tôi. Không ai có quyền bảo tôi làm điều, điều nọ cả. Vì tôi là chủ, là thuyền trưởng của đời tôi nên tôi tự định cho tôi hướng đi, tốc độ đi, điều gì tôi muốn đem trên thuyền. Nếu muốn dừng tàu lại nơi này, nơi nọ đó là quyền của tôi. Anh chị, qv, ông bà là ai mà xét đoán, đánh giá, mà kết luận sự thật & giả dối, đúng & sai, phải & trái, tội & tốt…
- Lý thuyết, suy nghĩ, cách sống này đã được KT ghi lại trong trong cuối cùng của sách Các Quan Xét: Trong lúc ấy, dân Y-sơ-ra-ên không có vua; ai nấy đều làm theo ý mình cho là phải (21:25)
- Tôi sống theo ý tôi muốn, I run my own life
- Lý thuyết này cũng len vào hội thánh, vào niềm tin, vào lời giảng, giải thích KT: chỉ có tôi với Chúa là đủ, không cần đến tổ chức, hội thánh, không cần đi nhà thờ gặp những người đạo đức giả; ở nhà đọc KT, cầu nguyện là đủ rồi. => Đẩy niềm tin vào suy nghĩ, sở thích, thói quen của cá nhân
2) Vật chất (secularism) – không cần Thượng Đế, ĐCT
- Vô thần = phủ nhận sự hiện hữu của ĐCT, nhưng chủ thuyết vật chất = tất cả sự thật nằm trong những gì mắt thấy, tai nghe, mũi ngưỡi, lưỡi nếm, tay sờ, tức thế giới vật chất hữu hình này.
- ĐCT dần dần được loại bỏ ra khỏi công cộng: niềm tin là điều riêng tư giữa anh chị với Chúa, giữ nói trong lòng, trong nhà, trong nhà thờ, nơi phòng kín. Khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài, xã hội chung quanh, cất dấu niềm tin đó đi.
- Sau thế chiến thứ hai, ĐCT và đạo Chúa, KT từ từ bị loại ra khỏi xã hội, văn hóa, chính trị các xứ Âu Châu. 40 năm qua, KT và niềm tin vào ĐCT, ĐCJC trong xã hội HK cũng dần bị thu nhỏ lại rồi làm cho mất đi: không cầu nguyện trong trường dù mỗi khi thượng, hạ viện bắt đầu với lời cầu nguyện; 10 điều răn lấy ra khỏi trường học, khỏi công sở chính quyền
- Vật chất là chúa, tài sản, sắc đẹp, thành công, quyền thế là chúa, là sự thật. Cuộc sống hôm nay không ngừng chạy đuổi theo vật chất.
- Ai cần sự thật khi đã có đầy đủ vật chất?
- Lý thuyết này cũng được thay đổi để phù hợp đạo, trong lời giảng một số mục sư: Chúa muốn qv hạnh phúc (happy), giàu có, thành công, sung mãn (prosper), mạnh khỏe, ung dung trong mọi mặt của đời sống = Prosperity gospel! Tin Chúa đi, Chúa sẽ phù hộ cho mọi điều. Xin gì được nấy.
- Họ biến ĐCT thành ông thần đèn, ở đó để phục vụ cho đời sống vật chất con người. ĐCT này không đòi hỏi phải vác thập tự giá, phải đi con đường hẹp, phải làm người phục vụ, phải đóng đinh con người cũ với Đấng Christ…
Phao-lô giải thích về lý thuyết này trong Phi-líp 3:18-19: Vì tôi đã thường nói điều nầy cho anh em, nay tôi lại khóc mà nói nữa: lắm người có cách ăn ở như là kẻ thù nghịch thập tự giá của Đấng Christ. 19 Sự cuối cùng của họ là hư mất; họ lấy bụng mình làm chúa mình, và lấy sự xấu hổ của mình làm vinh hiển, chỉ tư tưởng về các việc thế gian mà thôi.
Chẳng ai được làm tôi hai chủ; vì sẽ ghét người nầy mà yêu người kia, hoặc trọng người nầy mà khinh người kia. Các ngươi không có thể làm tôi ĐCT lại làm tôi Ma-môn nữa. Vậy nên ta phán cùng các ngươi rằng: đừng vì sự sống mình mà lo đồ ăn uống; cũng đừng vì thân thể mình mà lo đồ mặc. Sự sống há chẳng quí trọng hơn đồ ăn sao, thân thể há chẳng quí trọng hơn quần áo sao? (Ma-thi-ơ 6:24-25)
3) Tương đối (relativism) – không có gì là tuyệt đối cả
- Tiêu chuẩn mỗi người mỗi khác => Sự thật mỗi người mỗi khác. Điều gì đúng cho anh không hẳn đúng cho tôi. Đây là tiêu chuẩn, mực thước, sự thật cho anh? Tốt cho anh. Nhưng tôi thì khác.
- Qv có nghe không hiểu cho hoàn cảnh tôi! để biện hộ cho lý thuyết tương đối này.
- Trường học thường dạy học sinh với những thí dụ nhấn mạnh sự thật tùy thuộc vào hoàn cảnh. Ví dụ như một người lái thuyền đưa một người mẹ và 4 người con sang sông lớn. Giữa đường, thuyền lũng, nước vào. Tát nước cũng không giúp được, phải bỏ bớt hàng hóa. Nhưng vẫn chưa đủ, cuối cùng phải bỏ thêm người, người mẹ sẽ quyết định thế nào? Chết cả mẹ lẫn con, hay hy sinh một đứa để cứu ba người?
- Hay tin gì cũng được, miễn là tin cách chân thật (doesn’t matter what you believe as long as you are sincere). Thử hỏi người đến gặp bác sĩ khám bệnh ung thu: anh tin có ung thư hay không có không quan trọng bằng anh tin cách chân thành. Mức độ tin tưởng không quan trọng bằng sự thật của niềm tin.
Qv có thể tin mãnh liệt cho đến chết, như bọn khủng bố hồi giáo cực đoan!
- Nếu không có sự thật tuyệt đối thì làm sao biết đúng sai? Như đèn xanh đèn đỏ, ai muốn nghĩ sao cũng được, hay như lane trên xa lộ, nếu muốn chạy giữa 2 lanes cũng không sai vì đúng cho anh chưa hẳn đúng cho tôi. Nếu không biết đúng sai thì ai sẽ là người xét xử? Như khi ra tòa, thẩm phán lúc vui xử nhẹ tội, lúc buồn xử nặng tội hay vào đi lấy thuốc, dược sĩ vui cho thuốc nhẹ chút, buồn cho thêm mấy liều!
- Hay như sức hút trái đất? Qv nghĩ sao nếu Chúa mở tắt sức hút trái đất mỗi tiếng đồng hồ? Hay có ngày mặt trời mọc, có ngày không?
- Dù tôi nhấn mạnh sự hiệp một trong hội thánh, nhưng sự hiệp một phải trong sự thật của lời Chúa, chứ không phải ai muốn tin gì thì tin, làm gì thì làm.
- Người nói sự thật trong ân điển cho qv không phải là người phán xét, xử đoán, nhưng là người thật sự tử tế, lo lắng, yêu thương qv. Người tâng bốc, nịnh hót hay không nói thật sợ mất lòng là người chỉ quan tâm đến chính họ. [Câu chuyện vị vua không mặc áo quần – The Naked Empire]
- Ngày hôm nay giá trị cao hơn sự thật là sự thông cảm, dung thứ (tolerance), đặc biệt trong trường học, công xưởng. Thông cảm khác với đồng ý. Thông cảm không phải là chấp nhận, đồng ý rằng mọi ý nghĩ, mọi cách sống, mọi niềm tin, mọi tôn giáo đều giống nhau và đều có giá trị như nhau. “Some people are so open minded that their brains fall out!” (Rick Warren)
Có 4 điều dối trá từ ma quỉ nhiều tín đồ, hội thánh, mục sư tin vào:
Tôn giáo nào cũng như nhau, niềm tin nào cũng như nhau, đừng đoán xét nhau
Qv là người tốt. Nhân chi sơ tính bổn thiện. Chỉ vì môi trường, hoàn cảnh khiến người ta trở nên xấu
ĐCT luôn luôn muốn qv hạnh phúc, hanh thông, giàu có, mạnh khỏe
ĐCT sẽ cho mọi người lên thiên đàng, sẽ không cho ai xuống địa ngục
- ĐCJC khẳng định trong KT rằng chỉ có một ĐCT, một con đường đến với Ngài qua sự cứu chuộc của ĐCJC: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. 7 Ví bằng các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài. (Giăng 14:6-7)
Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; Nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết. (CN14:12);
Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. 14 Song cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít. (Matthew 7:13-14)
SỰ KHÓ NHẬN CỦA LẼ THẬT
Ê-sai nói về người dọn đường cho Đấng đầy ơn và lẽ thật: Hãy mở đường trong đồng vắng cho Đức Giê-hô-va; hãy ban bằng đường cái trong đất hoang cho Đức Chúa Trời chúng ta! 4 Mọi nơi sủng thấp sẽ được cao lên; mọi núi mọi gò sẽ bị hạ xuống; các nơi gập ghềnh sẽ làm cho bằng; các nơi dốc hãm sẽ làm thành đồng nội (40:3-4)
Tại đâu? Trong đồng vắng. Ai ở trong hay muốn ở trong đồng vắng, dù trong đồng vắng có người nói lên lẽ thật?
Cách nào? Ban bằng đường cái trong đất hoang. Đường cái là đường chính, đường mọi người đều muốn đi, thường đi; đường mọi người biết. Nhưng ngay đường cái, nếu không dẫn đến sự thật, cũng phải cần được san bằng. Khó! Nhưng đường cái ở đâu? Một lần nữa trong đất hoang! Đồng vắng, đất hoang? Ai muốn nghe sự thật.
Đòi hỏi gì? nơi thấp được cao; gò bị hạ xuống; nơi gập ghềnh sẽ bằng; dốc hãm sẽ thành đồng nội
So sánh gì? Mọi xác thịt (con người) giống như hoa cỏ, nhan sắc nó tàn lụi
- Có khi mục sư sợ mất tín đồ nên giảng nhẹ nhàng một chút, tránh đụng chạm đến những đề tài có thể mất lòng. Nếu qv muốn có mục sư như vậy, xin tìm hội thánh khác!
- Dù khó nhận, nhưng KT dạy chúng ta phải nói sự thật của Tin Lành trong tình yêu thương:
Hãy truyền giảng lời Chúa, hãy sẵn sàng, dù gặp thời hay không, cứ khuyên bảo, khiển trách và khích lệ với tất cả lòng kiên nhẫn để giáo huấn, 3 vì sẽ đến thời kỳ người ta không chịu nhận giáo lý chân chính, 4 nhưng theo tư dục mà quy tụ nhiều giáo sư quanh mình để dạy những điều bùi tai. Họ tránh không nghe chân lý nhưng xoay hướng về chuyện hoang đường. (2 Ti-mô-thê 4:2-4 - BDM)
- ĐCJC rất rõ trong lời dạy của Ngài: Chúa là đường đi, lẽ thật, chân lý duy nhất: Thô-ma thưa rằng: Lạy Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu; làm sao biết đường được? 6 Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. 7 Ví bằng các ngươi biết ta, thì cũng biết Cha ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài. (Jn 14:5-7)
- Phao-lô khẳng định chỉ có một lẽ thật, một Tin Lành. Nếu ai giảng khác TL đó thì người đó, hay dù là thiên sứ, cũng sẽ bị nguyền rủa (đến nỗi gọi các tín đồ Ga-la-ti là người ngu muội, khờ khạo):
Tôi lấy làm lạ cho anh em đã vội bỏ Đấng gọi anh em bởi ơn Đức Chúa Jêsus Christ, đặng theo tin lành khác. 7 Thật chẳng phải có tin lành khác, nhưng có mấy kẻ làm rối trí anh em, và muốn đánh đổ Tin Lành của Đấng Christ. 8 Nhưng nếu có ai, hoặc chính chúng tôi, hoặc thiên sứ trên trời, truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin Lành chúng tôi đã truyền cho anh em, thì người ấy đáng bị a-na-them! 9 Tôi đã nói rồi, nay lại nói lần nữa: Nếu ai truyền cho anh em một tin lành nào khác với Tin Lành anh em đã nhận, thì người ấy đáng bị a-na-them! (Ga-la-ti 1:6-9)
SỰ CẦN THIẾT CỦA LẼ THẬT
KT dạy nhiều điều trái với suy nghĩ của thời đại, xã hội hôm nay: 1) Mọi người đều là tội nhân; 2) Không có gì (khoa học, kỹ thuật, văn minh, học vấn, đạo đức, công quả) có thể cứu mình vì mọi điều đều không đủ tiêu chuẩn của ĐCT; 3) Chỉ khi thật lòng tin nhận ĐCJC là Cứu Chúa mới được cứu; 4) Thiên đàng và địa ngục là nơi có thật.
Dù khó tin, nhưng tin Chúa không tốn qv điều gì cả. Nhưng theo Chúa, làm môn đồ Ngài sẽ tốn qv cả cuộc đời:
Đi trong con đường hẹp, ít người đi. Chấp nhận sự thật, lời dạy KT và làm theo.
Vác thập tự giá mỗi ngày: chết đi con người cũ ích kỷ, tham lam, dục vọng và sống với người mới theo ĐTL
Là người làm nhỏ, người phục vụ thay vì đòi hỏi được phục vụ
Qv có tin và chấp nhận trả giá đó để được nhận Đấng đầy ơn và lẽ thật không? ĐCJC, ĐTL không phải là thần đèn, nhưng là Chúa, là chủ của mọi lãnh vực, ngõ ngách trong đời sống chúng ta.
Khi nói về sự sống lại của ĐCJC Phao-lô viết rất rõ rằng nếu ĐCJC đã không thật sự sống lại thì niềm tin của qv và tôi vô nghĩa, vô ích, thì PL đã giảng điều dối, thì chúng ta vẫn còn ở trong tội lỗi mình (không được cứu tội!)
Lại nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích. 15 Lại nếu kẻ chết quả thật không sống lại, thì Đức Chúa Trời đã chẳng khiến Đấng Christ sống lại, mà chúng tôi đã làm chứng trái với Đức Chúa Trời rằng Ngài đã làm cho Đấng Christ sống lại, té ra chúng tôi làm chứng dối cho Đức Chúa Trời. (2 Cô-rinh-tô 15:14-15)
Chỉ có ba giả thuyết về Đấng đầy ơn và lẽ thật: 1) Kẻ nói dối (liar); 2) Kẻ điên dại (lunatic); 3) Cứu Chúa (Lord).
Many years ago there was an Emperor so exceedingly fond of new clothes that he spent all his money on being well dressed. He cared nothing about reviewing his soldiers, going to the theatre, or going for a ride in his carriage, except to show off his new clothes. He had a coat for every hour of the day, and instead of saying, as one might, about any other ruler, "The King's in council," here they always said. "The Emperor's in his dressing room."
In the great city where he lived, life was always gay. Every day many strangers came to town, and among them one day came two swindlers. They let it be known they were weavers, and they said they could weave the most magnificent fabrics imaginable. Not only were their colors and patterns uncommonly fine, but clothes made of this cloth had a wonderful way of becoming invisible to anyone who was unfit for his office, or who was unusually stupid.
"Those would be just the clothes for me," thought the Emperor. "If I wore them I would be able to discover which men in my empire are unfit for their posts. And I could tell the wise men from the fools. Yes, I certainly must get some of the stuff woven for me right away." He paid the two swindlers a large sum of money to start work at once.
They set up two looms and pretended to weave, though there was nothing on the looms. All the finest silk and the purest old thread which they demanded went into their traveling bags, while they worked the empty looms far into the night.
"I'd like to know how those weavers are getting on with the cloth," the Emperor thought, but he felt slightly uncomfortable when he remembered that those who were unfit for their position would not be able to see the fabric. It couldn't have been that he doubted himself, yet he thought he'd rather send someone else to see how things were going. The whole town knew about the cloth's peculiar power, and all were impatient to find out how stupid their neighbors were.
"I'll send my honest old minister to the weavers," the Emperor decided. "He'll be the best one to tell me how the material looks, for he's a sensible man and no one does his duty better."
So the honest old minister went to the room where the two swindlers sat working away at their empty looms.
"Heaven help me," he thought as his eyes flew wide open, "I can't see anything at all". But he did not say so.
Both the swindlers begged him to be so kind as to come near to approve the excellent pattern, the beautiful colors. They pointed to the empty looms, and the poor old minister stared as hard as he dared. He couldn't see anything, because there was nothing to see. "Heaven have mercy," he thought. "Can it be that I'm a fool? I'd have never guessed it, and not a soul must know. Am I unfit to be the minister? It would never do to let on that I can't see the cloth."
"Don't hesitate to tell us what you think of it," said one of the weavers.
"Oh, it's beautiful -it's enchanting." The old minister peered through his spectacles. "Such a pattern, what colors!" I'll be sure to tell the Emperor how delighted I am with it."
"We're pleased to hear that," the swindlers said. They proceeded to name all the colors and to explain the intricate pattern. The old minister paid the closest attention, so that he could tell it all to the Emperor. And so he did.
The swindlers at once asked for more money, more silk and gold thread, to get on with the weaving. But it all went into their pockets. Not a thread went into the looms, though they worked at their weaving as hard as ever.
The Emperor presently sent another trustworthy official to see how the work progressed and how soon it would be ready. The same thing happened to him that had happened to the minister. He looked and he looked, but as there was nothing to see in the looms he couldn't see anything.
"Isn't it a beautiful piece of goods?" the swindlers asked him, as they displayed and described their imaginary pattern.
"I know I'm not stupid," the man thought, "so it must be that I'm unworthy of my good office. That's strange. I mustn't let anyone find it out, though." So he praised the material he did not see. He declared he was delighted with the beautiful colors and the exquisite pattern. To the Emperor he said, "It held me spellbound."
All the town was talking of this splendid cloth, and the Emperor wanted to see it for himself while it was still in the looms. Attended by a band of chosen men, among whom were his two old trusted officials-the ones who had been to the weavers-he set out to see the two swindlers. He found them weaving with might and main, but without a thread in their looms.
"Magnificent," said the two officials already duped. "Just look, Your Majesty, what colors! What a design!" They pointed to the empty looms, each supposing that the others could see the stuff.
"What's this?" thought the Emperor. "I can't see anything. This is terrible!
Am I a fool? Am I unfit to be the Emperor? What a thing to happen to me of all people! - Oh! It's very pretty," he said. "It has my highest approval." And he nodded approbation at the empty loom. Nothing could make him say that he couldn't see anything.
His whole retinue stared and stared. One saw no more than another, but they all joined the Emperor in exclaiming, "Oh! It's very pretty," and they advised him to wear clothes made of this wonderful cloth especially for the great procession he was soon to lead. "Magnificent! Excellent! Unsurpassed!" were bandied from mouth to mouth, and everyone did his best to seem well pleased. The Emperor gave each of the swindlers a cross to wear in his buttonhole, and the title of "Sir Weaver."
Before the procession the swindlers sat up all night and burned more than six candles, to show how busy they were finishing the Emperor's new clothes. They pretended to take the cloth off the loom. They made cuts in the air with huge scissors. And at last they said, "Now the Emperor's new clothes are ready for him."
Then the Emperor himself came with his noblest noblemen, and the swindlers each raised an arm as if they were holding something. They said, "These are the trousers, here's the coat, and this is the mantle," naming each garment. "All of them are as light as a spider web. One would almost think he had nothing on, but that's what makes them so fine."
"Exactly," all the noblemen agreed, though they could see nothing, for there was nothing to see.
"If Your Imperial Majesty will condescend to take your clothes off," said the swindlers, "we will help you on with your new ones here in front of the long mirror."
The Emperor undressed, and the swindlers pretended to put his new clothes on him, one garment after another. They took him around the waist and seemed to be fastening something - that was his train-as the Emperor turned round and round before the looking glass.
"How well Your Majesty's new clothes look. Aren't they becoming!" He heard on all sides, "That pattern, so perfect! Those colors, so suitable! It is a magnificent outfit."
Then the minister of public processions announced: "Your Majesty's canopy is waiting outside."
"Well, I'm supposed to be ready," the Emperor said, and turned again for one last look in the mirror. "It is a remarkable fit, isn't it?" He seemed to regard his costume with the greatest interest.
The noblemen who were to carry his train stooped low and reached for the floor as if they were picking up his mantle. Then they pretended to lift and hold it high. They didn't dare admit they had nothing to hold.
So off went the Emperor in procession under his splendid canopy. Everyone in the streets and the windows said, "Oh, how fine are the Emperor's new clothes! Don't they fit him to perfection? And see his long train!" Nobody would confess that he couldn't see anything, for that would prove him either unfit for his position, or a fool. No costume the Emperor had worn before was ever such a complete success.
"But he hasn't got anything on," a little child said.
"Did you ever hear such innocent prattle?" said its father. And one person whispered to another what the child had said, "He hasn't anything on. A child says he hasn't anything on."
"But he hasn't got anything on!" the whole town cried out at last.
The Emperor shivered, for he suspected they were right. But he thought, "This procession has got to go on." So he walked more proudly than ever, as his noblemen held high the train that wasn't there at all.
