Ân Điển Của Đức Chúa Trời
Ân điển là sự ban cho mà chúng ta không đáng nhận lãnh hay không bao giờ có thể trả hết được. Ân điển còn được gọi là đặc ân, ân trạch, ân huệ. Nếu xứng đáng được nhận, chúng ta không thể gọi là ân điển hay ân huệ. Một chiến sĩ can trường xã thân cho quê hương trong thời giặc giả xứng đáng được nhận huy chương khen tặng. Huy chương ấy không thể gọi là ân điển. Hằng ngày chúng ta làm việc để kiếm sống. Tiền lương nhận được từ công việc cũng không thể gọi là ân điển. Nhưng nếu một phạm nhân gây ra các tội ác tầy trời, được tha bổng trước khi hoàn tất bản án chung thân, đấy là ân điển. Công ơn dưỡng dục sinh thành, sự hy sinh vô bờ bến của cha mẹ, ông bà đối với chúng ta cũng có thể gọi là ân điển vì biết đến khi nào chúng ta mới trả hết được.
Vậy nếu ân điển là sự ban cho mà chúng ta không đáng nhận hay không thể trả nổi, chúng ta chẳng thể khoe khoang, tự hào về thành tích hay công sức của mình khi được ân điển. Người nhận ân điển mang lòng biết ơn sâu sắc và luôn ghi nhớ về món quà đặc biệt mà mình nhận được.
Ân điển rất hiếm thấy trong quan hệ giữa người và người trong cuộc sống hằng ngày. Thông thường khi bản thân chúng ta phạm lỗi, phạm tội, chúng ta nài xin ân điển. Chúng ta muốn được tha thứ, được ân xá lỗi lầm. Thế nhưng khi người khác phạm lỗi cùng mình, chúng ta buộc họ phải trả trọn thiệt hại đã gây ra. Hơn thế nữa, chúng ta muốn họ phải trả một giá đắt hơn để có thể nhớ rõ về bài học này mà đừng tái phạm!
Lý do? Sự công bình. Chẳng phải tôi và quý vị đều là những người chuộng công bình hay sao?
Nhưng công bình theo tiêu chuẩn nào, của ai? Có thật sự công bình khi chính mình phạm lỗi chúng ta van cầu ân huệ nhưng khi bị lỗi chúng ta buộc người phải trả. Nếu theo tiêu chuẩn cá nhân của chúng ta, công bình thường đồng nghĩa với sự trả thù! Người lấy của tôi một phải đền lại một rưỡi hay hai thì tôi mới hả lòng; có vậy mới công bình!
Khi vua Gia Long lên ngôi vào năm Nhâm Tuất (1802), các phạm nhân của vua đều bị mang về làm lễ hiến phù ở đền Thái miếu vào tháng bảy rồi bị lăng trì, tức bị xẻo thịt cho đến chết. Nữ tướng Bùi thị Xuân và con gái còn nhỏ tuổi thì bị voi giày, còn chồng là Trần quan Diệu thì bị chém. Mả vua Thái Đức Nguyễn Nhạc và Thái Tổ Nguyễn Huệ cũng bị quật lên, thây bị vứt đi, còn đầu bỏ vào chum giam vào ngục tối (theo Việt Sử Toàn Thư của học giả Phạm công Sơn).
Nếu đòi người sống phải trả giá cho tội lỗi họ gây nên thì mảy ra tạm gọi là công bình, nhưng trừng phạt trẻ thơ và người đã chết sao có thể gọi là phải lẽ. Đặc biệt là theo truyền thống, phong tục kính trọng người quá cố của người Việt chúng ta. Rõ ràng là vua Gia Long không dùng ân điển hay sự công bình để đối với kẻ thù mà dùng sự trả thù.
Cũng chính vì vậy mà mới có luật pháp, quy củ, điều lệ để thể chế công bình.
Ân điển khác với luật pháp. Luật pháp không thiên vị, theo khuôn khổ, đen trắng phân minh. Luật pháp xử người theo lý trí, lẽ thật. Ân điển là tiếng của con tim, của tình cảm. Dưới mắt luật pháp, cá nhân chỉ là một đối tượng để xét xử, buộc tội; dưới mắt ân điển, cá nhân là một con người bằng xương thịt đáng yêu thương, tha thứ. Luật pháp xử phạt, ân điển dung xóa.
Một xã hội không luật pháp là một xã hội bất an, mất trật tự, kỹ cương. Nhưng thiếu ân điển, xã hội ấy sẽ trở nên khắc nghiệt, vô nhân đạo và chỉ thích hợp cho người máy không tình cảm. Ân điển và luật pháp phải quân bình. Theo lý trí, chúng ta đòi hỏi luật pháp phải phân chính, công minh nhưng với con tim, chúng ta thèm khát sự dung thứ ngọt ngào của ân điển
Một phú hộ có hai người con trai. Ngày nọ, người con thứ bảo với cha chia phần gia tài cho cậu. Ít ngày sau khi nhận lấy hết phần gia tài từ cha, người con thứ bỏ nhà ra đi đến một phương xa. — đó, cậu ăn chơi hoang đàng, tiêu sạch gia tài mình. Khi đã hết của cải, bè bạn xa lánh ruồng bỏ. Đồng thời trong xứ có một nạn đói lớn, người con thứ trở nên nghèo thiếu phải đi làm mướn, làm nghề chăn heo ngoài đồng, cho một người bổn xứ. Khi chăn heo, cậu đói quá đến nỗi muốn lấy vỏ đậu heo ăn mà ăn cho no nhưng chẳng ai cho.
Khi đó cậu tỉnh ngộ mà nhớ lại rằng trong nhà cha mình ngay người đầy tớ cũng đầy đủ thức ăn. Cậu quyết định trở về và tự nhủ khi gặp cha sẽ xưng nhận tội rằng: “Thưa cha, con đã đặng tội với trời và với cha, không đáng gọi là con của cha nữa; xin cha đãi con như người làm mướn của cha vậy”. Rồi cậu trở về cùng cha mình.
Từ lúc con ra đi, người cha ngày ngày luôn trông ngóng, mong đợi con mình trở về. Ngày người con thứ trở về, người cha thấy bóng dáng con từ đàng xa thì chạy vội ra ôm lấy con mà hôn. Cha lại bảo đầy tớ lấy áo tốt nhất cho con mặc, lấy nhẫn đeo vào tay, mang giày vào chân. Lại bảo bắt bò con mập làm thịt thết đãi, mướn người đàn ca hát xướng, mở tiệc linh đinh để mừng đứa con hoang đàng tưởng đã chết nay lại sống trở về (theo Lu-ca 15:11-31).
Câu chuyện trên là một ví dụ sâu sắc về ân điển của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Như người con thứ trác táng, hoang đàng, bội nghịch, loài người chúng ta cũng mang đầy tội lỗi, cố ý bất tuân Thượng Đế, đáng bị trừng phạt. Nhưng cánh tay từ ái của Cha Trên Trời vẫn mở rộng, chờ đón ngày chúng ta trở về. Ngày trở về, không những tội lỗi con được xóa bỏ nhưng trọn quyền làm con còn được hồi phục.
Theo luật pháp tuyệt đối của Thượng Đế, chúng ta đều mắc tội và đáng bị trừng phạt. Ai có thể vỗ ngực tự hào giữ trọn luật pháp của loài người hay sự nhắc nhở của lương tâm? Huống chi luật pháp tuyệt đối của một Thượng Đế toàn năng, toàn thiện, toàn mỹ. Chúng ta có thể chạy thoát lưới luật pháp con người nhưng lưới Trời lồng lộng làm sao chúng ta đào tẩu.
Duy bởi ân điển chúng ta được Đức Chúa Trời tha thứ và nhận làm con trai, con gái của Ngài. Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. „y chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình (Ê-phê-sô 2:9).
Hơn thế nữa, ân điển của Đức Chúa Trời đối với loài người chúng ta tốn Ngài một giá rất đắt: chính mạng sống của Chúa Giê-Xu Christ trên cây thập tự. Vả, họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành. Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là ngưòi có tội, thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết (Rô-ma 5:8). Ân điển là khi tôi và quý vị còn là người có tội (chứ không phải đã là người hết tội hay đang là người bớt tội!), thì Chúa hy sinh chính thân Ngài để cứu chúng ta. Có giá gì trả cho hết; có công đức nào xứng với ân điển ấy.
Hằng năm cứ vào đầu tháng mười khi trời bắt đầu chớm Thu, hàng trăm ngàn du khách từ khắp nơi trên thế giới đổ về thành phố Albuquerque để dự Hội Khinh Khí Cầu Thế Giới (International Balloon Festival). Trong suốt một tuần lễ hàng trăm khinh khí cầu đủ màu sắc, hình dạng từ khắp thế giới tô điểm bầu trời xanh thẳm, trong vắt, mênh mông của thành phố. Đặc biệt vào sáng sớm thứ Bảy và Chúa Nhật hàng trăm khinh khí cầu được thả lên cùng một lúc (Mass Assession). Từ xa nhìn về hướng Tây Nam của thành phố mấy buổi sáng này, chúng ta có thể thấy cả một góc trời lấm chấm với những chiếc khinh khí cầu đa sắc, đa dạng.
Bước đi giữa hàng trăm khinh khí cầu khổng lồ đủ màu sắc, hình dạng trong sân thả, người xem không tránh phải trầm trồ, thán phục công sức và sự sáng tạo của con người. Một khinh khí cầu dạng đặc biệt hình ống heo (Miss Penny) cao khoảng 80 feet, dài 100 feet từ mũi đến đuôi và có thể chứa 39 triệu đồng pennies trong bụng. Một khinh khí cầu khác hình con thỏ đánh trống cao 166 feet, gấp hai lần Miss Penny, với dung tích là 180,000 feet khối (bằng dung tích của hằng trăm chiếc xe hơi). Nhưng sau khi những chiếc khinh khí cầu khổng lồ này được thả lên, nó chỉ là những chấm nhỏ so với bầu trời xanh vĩ đại, mênh mông. Càng lên cao, càng “gần trời” bao nhiêu, nó càng trở nên nhỏ nhoi bấy nhiêu. Hàng trăm, hằng ngàn, hằng tỉ khinh khí cầu khổng lỗ kia cũng không thể lấp nỗi một phần nhỏ của bầu trời, huống chi của vũ trụ ngân hà với hằng hà ngôi sao, tinh tú.
Công đức con người có thể được ví như những chiếc khinh khí cầu khổng lồ kia: nhìn gần rất đáng nễ, đáng phục nhưng so với trời cao thì quá nhỏ nhoi, chẳng đáng kể chi. Khổng lồ là khi so với tiêu chuẩn con người, nhưng chỉ là bụi cát khi so với tiêu chuẩn Thượng Đế.
Chúng ta được cứu chuộc không phải bởi công đức hay sự vâng giữ luật pháp của mình nhưng do ân điển, lòng nhân từ của Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời (Giăng 3:16). Chúng ta có thể đứng dưới đất mà ngưỡng mộ sự khổng lồ của những khinh khí cầu đa dạng, đủ màu sắc như ngưỡng mộ công đức của con người. Nhưng một khi đã có dịp bay cao trong bầu trời rộng mênh mông chúng ta mới nhận thức rõ hơn về sự nhỏ nhoi, không đáng kể của khinh khí cầu.
