Xuân Vĩnh Cửu
Theo âm lịch năm nay là năm con trâu, Tân Sửu. Trâu còn được gọi là Ngưu, hay Sửu, là con vật đứng thứ nhì trong 12 con giáp. Nghĩ về trâu, chúng ta thường nghĩ đến cảnh đồng quê với những thửa ruộng bùn xìn như viết trong ca dao VN: Trên đồng cạn, dưới đồng sâu. Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa. Nghĩ về trâu là nghĩ về công việc làm vất vả, nặng nhọc, như người ta thường nói: làm cực như trâu.
Dù trung thành chịu khổ, chịu cực, chịu bẩn với người làm ruộng rẫy trong việc cày bừa, trâu cũng thường bị hiểu lầm hay khi dể bởi người thành thị. Dù trâu không bị mắng là ngu như bò, nhưng trâu cũng bị chê là xấu xí, hung ác trong lời “đầu trâu, mặt ngựa” để chỉ những người côn đồ, hung ác.
Thành ngữ “đầu trâu, mặt ngựa” này theo tiếng Hán là “Ngưu Đầu, Mã Diện”. Trâu không chỉ bị chê là xấu xí, mắng là hung ác, mà còn bị vu oan là tai sai cho Diêm Vương (tức quỉ vương địa ngục). Người ta gọi 2 tai sai của Diêm Vương chuyên đi bắt bớ, hành hạ người khác là “Ngưu Đầu, Mã Diện”.
Thật là tội nghiệp cho trâu vì nó vốn là con vật hiền hòa, chịu khổ, chịu cực suốt đời cày bừa trong những thửa ruộng bùn xìn dơ dái, hôi hám mà lại bị chê bai, giá tội oan uổng như vậy! Làm việc cực khổ vậy đó mà trâu được ăn uống gì? Chỉ có cỏ tươi hay rơm khô với nước lã bùn xìn!
Tuy nhiên bên cạnh hình ảnh cày bừa nặng nhọc của trâu, một hình ảnh khác thơ mộng hơn là hình ảnh của em bé chăn trâu ngồi trên lưng trâu mà thổi tiêu, thổi sáo. Có lẽ đây là hình ảnh những người sống nơi thành thị thường nghĩ đến nên mới thi vị hóa qua lời Ai bảo chăn trâu là khổ, chăn trâu sướng lắm chứ! Ngôi lưng trâu phất ngọn cờ lau, rồi miệng hát nghêu ngao.
Tôi đố qv có biết hình ảnh của em bé chăn trâu thổi tiêu, thổi sáo từ đâu không? Nhiều người trong qv đây chắc có lần nghe về câu chuyện tình lãng mạng của Ngưu Lang Chức Nữ. Ít người biết Ngưu Lang làm nghề gì. Ngưu Lang là một vị thần chăn trâu trên thiên đình. Ai ngờ trên thiên đình cũng có trâu! Vì sai mê một tiên nữ dệt vải tên Chức Nữ mà Ngưu Lang bỏ bê việc chăn trâu. Ai bảo chăn trâu là khổ? Ngưu Lang bảo chăn trâu là khổ. Khổ vì không có thời gian mà theo đuổi nàng Chức Nữ.
NL dùng tiếng sáo để thu phục tấm lòng của Chức Nữ. Vì mê tiếng sáo của NL, nên CN trễ nải việc dệt vải. Vì thế cả hai bị Ngọc Hoàng phạt phải ở cách xa nhau. Người ở đầu sông Ngân, kẻ ở cuối sông Ngân. Mỗi năm vào đêm mùng 7 tháng 7, hai người mới được gặp nhau một lần trên cầu Ô Thước. Họ nhớ thương nhau, đau buồn, khóc lóc. Nước mắt rơi xuống trần gian thành cơn mưa Ngâu.
Mấy ai nghĩ rằng trâu cũng có phần trong một câu chuyện tình yêu trai gái thơ mộng, lãng mạn nhưng đau buồn như câu chuyện tình Ngưu Lang, Chức Nữ. Vậy từ rày tôi mong qv đừng coi thường hay hiểu lầm trâu nữa nhé!
HY VỌNG VÀ ĐỨC TIN
Khi viết về mùa xuân, Kinh Thánh có lời như sau, "Vì, mùa đông đã qua, mưa đã dứt hết rồi; bóng hoa nở ra trên đất; mùa hát xướng đã đến nơi, và tiếng chim cu nghe trong xứ. Cây vả đương chín trái xanh tươi của nó, và nho trổ hoa nực mùi hương" (Nhã Ca 2:11). MSTS Lê Hoàng Phu diễn ý câu KT qua dòng thơ sau: "Mưa đông vừa dứt, mùa hoa đã về. Cây nứt lộc, lá sum sê. Oanh ca, phượng múa bên lề rừng mai. Em ơi, xuân đã lên ngai. Hoa nho thơm phức ca bài yêu đương".
Xuân đến khí trời ấm áp hơn, cây nhú các mầm non báo hiệu sự sống đang trở lại, hoa sẽ nở. Ngay cả loài thú vật cũng đón mừng xuân: các loài chim sẽ trở về vùng đất quen thuộc sau khi di cư đến một nơi khác để chạy trốn mùa đông băng giá; các con thú thức dậy sau một giấc ngủ dài trong mùa đông lạnh lẽo. Dĩ nhiên không phải mọi người đều mong mỏi mùa xuân vì đây cũng là mùa của dị ứng cây cỏ (allergy)! Nói đến xuân là nói đến hy vọng. Chính vì hy vọng mà chúng ta mới chúc nhau trong ngày đầu xuân.
Tiếng Anh có một thành ngữ Pandora Box có nghĩa là món quà mới xem tưởng như vô cùng quí báu nhưng thật sự là một tai họa. Thành ngữ này dựa theo câu chuyện thần thoại Hy Lạp về nữ thần rất xinh đẹp tên Pandora, còn gọi là món quà của các thần. Khi thần Prometheus ăn cắp lửa từ trời để cho loài người thì thần Zeus, trưởng thần, rất giận dữ. Để trừng phạt các thần, thần Zeus tạo ra một người phụ nữ vô cùng xinh đẹp là thần Pandora. Rồi thần Zeus mới tặng cho nữ thần Pandora một món quà là một bình rất đẹp; nhưng căn dặn bà khi xuống thế gian không được mở ra. Dĩ nhiên vì sự tò mò nên Pandora mở bình ra. Từ trong bình thoát ra tất cả những vấn đề thế giới ngày nay phải chịu: chiến tranh, bệnh tật, hung ác, giết chóc, đau khổ… Sau khi thấy những điều nầy thoát ra khỏi bình, thần Pandora vội đóng lại thì đã muộn rồi. Nhưng còn lại trong bình là một điều duy nhất: Hy vọng.
Tôi nghĩ đây là một câu chuyện rất ý nghĩa. Vì trước tất cả mọi mất mát, đau khổ, thất vọng, bệnh tật trong cuộc sống này, điều gì khiến con người có thể tiếp tục sống, cho dù không biết ngày mai, năm tới cuộc đời mình sẽ ra sao? Chỉ có hy vọng!
Khi nói đến hy vọng, chúng ta nói đến những điều chưa xảy ra, những điều thuộc về tương lai. Như KT viết: nhưng hy vọng mà đã thấy rồi thì không còn là hy vọng nữa; vì điều gì người ta thấy thì còn hy vọng gì nữa? (Rô-ma 8:24). Hy vọng về tương lai ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định, hành động trong đời sống hiện tại.
2 ví dụ sau đây giúp qv hiểu rõ rằng điều chúng ta hy vọng, mong mỏi về tương lai ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hiện tại. Hai người bị bắt giam vào ngục. Trước khi vào ngục, một người biết chắc rằng vợ và các con vẫn luôn chờ đợi và mỗi tháng đều gởi thư động viên, khích lệ hay vào thăm chồng, cha. Gia đình cũng tìm mọi cách để khán án, giảm đi thời gian trong tù. Người kia hoàn toàn không có thân nhân, bè bạn, hoàn toàn cô độc, không thư từ khích lệ, cũng không ai vào thăm viếng. Qv nghĩa người tù nào có thể chịu đựng cảnh khổ dễ hơn?
Trong đêm cuối đời, trước khi chịu chết trên thập giá, ĐCJC hứa cùng các môn đồ rằng sau khi Ngài rời họ, Chúa sẽ ban cho họ Đấng Yên Ủi, Thần Lẽ Thật. Chúa hứa không để các môn đồ mồ côi. Chúa cũng hứa Ngài đi là để sắm sẵn cho họ nơi ở trên thiên đàng. Đây là hy vọng của người tin Chúa. Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, 17 tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. 18 Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi. (Giăng 14:16-18)
Một ví dụ khác. Hai người nhận cùng một công việc rất khó nhọc, cực khổ trong 1 năm. Một người được hứa trả $20K cuối năm. Người kia được hứa trả $20 triệu. Qv nghĩ người nào sẽ vui vẻ mà làm việc suốt năm đó? Dĩ nhiên là người được trả $20 triệu. Đây là hy vọng của người tin Chúa như lời PL: 17 Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên, 18 bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:17-18)
Hơn thế nữa, hy vọng của người tin Chúa hoàn toàn dựa vào lời hứa của ĐCT trong KT và sự thành tín của Chúa. Dù cảnh ngộ sẽ thay đổi thế nào, thuận lợi hay bất lợi, theo ý nguyện hay trái với ý nguyện, dù hanh thông hay hoạn nạn thì cái neo của hy vọng cho đời sống chúng ta vẫn bám chặt vào lời hứa và sự thành tín của Chúa. Chúng ta có hy vọng nầy như cái neo vững vàng bền chặt của linh hồn. (Hê-bơ-rơ 6:19 – BDM)
ĐCT hứa sẽ ban phước về tâm linh lẫn vật chất, ban bình an thịnh vượng cho con dân Ngài: Chúa sẽ yêu thương, ban phước và tăng gia nhân số anh chị em. Chúa sẽ ban phước cho con cháu anh chị em, cho thổ sản ngoài đồng kể cả ngũ cốc, rượu nho và dầu, cho các con mới sinh của bầy bò và bầy chiên tại trong xứ Ngài thề hứa với các tổ tiên là sẽ ban cho anh chị em. (PT 7:13 – BDM) Nhưng có một điều hoàn toàn khác với những lời chúc của người đời. Điều đó là nguồn gốc của mọi sự thịnh vượng, sức khỏe, thành công, hạnh phúc, giàu có là từ ĐCT.
Đây là lời cầu chúc đầu xuân Tân Sửu của tôi cùng con cái Chúa trong HT: Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự, và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy. (3 Giăng 2)
XUÂN VĨNH CỬU
Xuân đến rồi xuân sẽ đi. Năm mới đến rồi năm mới sẽ qua đi. Không ai có thể giữ hoài hiện tại của mùa xuân cũng như không ai có thể giữ hoài hiện tại hạnh phúc. Lời chúc xuân của người trong Chúa không chỉ cho những ơn phước trong cuộc sống này, nhưng quan trọng hơn là hy vọng vào một mùa xuân vĩnh cửu nơi thiên đàng.
KT xác nhận chắc chắn rằng cuộc sống trên đất này không phải là duy nhất và tất cả. Xuân đến, xuân đi trên thế gian này. Nhưng một mùa xuân vĩnh cửu sẽ đến với những người tin Chúa nơi thiên đàng. KT viết: Đoạn, tôi thấy trời mới và đất mới; vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến đi mất, và biển cũng không còn nữa. 2 Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. 3 Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: Này, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. 4 Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. 5 Đấng ngự trên ngôi phán rằng: Nầy, ta làm mới lại hết thảy muôn vật. (KH 21:1-5)
KH 21:1 viết về một trời mới và đất mới. Trong tiếng Hy-lạp, tức ngôn ngữ nguyên thủy của KT dùng khi viết KH, có 2 từ khác nhau về sự mới, là kainos và neos. Neos dùng để nói về một điều mới, mới xảy ra, mới đến, mới xây; chúng ta có thể thay vào từ non, trẻ cho từ mới này, tức một vật, một sự việc mới có, mới xảy ra không lâu theo thời gian. Khác với neos, kainos có thể dùng để nói về một vật, một sự việc, việc diễn biến đã có, đã xây, đã lập, đã xảy ra lâu trước, dù là 1 ngàn hay 1 triệu năm, nhưng về chất lượng vẫn còn mới như ban đầu.
Kainos dùng để nói về sự mới mẻ về chất lượng, về phẩm tính, về giá trị cho dù đã có rất lâu. Mới như kainos là thời gian không hề ảnh hưởng đến chất lượng, giá trị dù là 1 năm hay 100 năm. Vàng hay kim cương không thể gọi là neos, mới có, vì đã có từ biết bao nhiêu trăm ngàn năm. Nhưng dù theo thời gian giá trị của vàng và kim cương ngày càng kainos, quí báu, giá trị.
Vậy một vật vẫn có thể kainos dù không còn neos, tức một vật vẫn còn mới về giá trị, phẩm chất như ngày nào dù đã về vật thể đã có từ rất lâu.
Trong Ma-thi-ơ 9 ĐCJC giải thích cùng các môn đồ về luật pháp Mô-se và sự cứu rỗi, tha tội của Ngài như sau: Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ; nếu làm như thế, bầu da sẽ nứt, rượu chảy hết mà bầu cũng hư; nhưng người ta đổ rượu mới vào bầu da mới, thế là giữ được cả hai." (9:17 – BDM) Từ mới về rượu mới là neos nhưng từ mới trong bầu da mới là kainos. Có nghĩa là bầu da cũ là cũ về chất lượng, không thể giữ được rượu, có thể vì da đã khô, đã mòn, đã mỏng. Nhưng bầu da mới là bầu da với chất lượng vẫn còn tốt, da vẫn còn dầy để giữ được rượu trong bình cho dù, cho dù bình đã có từ lâu.
Trong Chúa, một người dù không còn neos, trẻ trung nhưng vẫn có thể ngày càng kainos, mới mẻ, giá trị như lời PL: Vậy nên chúng ta chẳng ngã lòng, dầu người bề ngoài hư nát, nhưng người bề trong cứ đổi mới càng ngày càng hơn. (2 Cô-rinh-tô 4:16). Từ đổi mới này có cùng một gốc từ kainos, có nghĩa là dù có xưa cũ nhưng ngày lại càng mới mẻ về tính hạnh, về lòng nhiệt thành, niềm vui trong Chúa.
Từ mới trong KH 21:1 về trời mới và đất mới là kainos, có nghĩa là thời gian không hề ảnh hưởng, không hề làm cho cũ đi, làm giảm đi phước hạnh, tươi mới. Không một vật gì trong thế giới hữu hình này càng trở nên mới hơn, tốt hơn, dù là kim cương hay vàng quí. Đúng như lời PL viết: Bởi chúng ta chẳng chăm sự thấy được, nhưng chăm sự không thấy được; vì những sự thấy được chỉ là tạm thời, mà sự không thấy được là đời đời không cùng vậy. (2 Cô-rinh-tô 4:18). Trời và đất này rồi sẽ cũ đi, hư hỏng và tàn rụi, nhưng trời và đất mới sẽ không.
Trong mùa xuân vĩnh viễn trên thiên đàng sẽ không còn có sự chết, tang chế đáng sợ chia cắt những người yêu mến nhau, yêu mến Chúa. Cũng sẽ không có khóc than, đau khổ vì tật bệnh trong thân thể mõi mòn, già yếu với thời gian; về sự tranh dành, bon chen về miếng ăn, manh áo trong cuộc sống tất bật với con người gian dối này; hay về chiến tranh triền miên đẫm đầy nước mắt, khổ đau, đến nỗi đất đậm cả màu máu và lời than khóc.
ĐCT hứa chính Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt cho con dân Ngài. Chính Chúa hứa sẽ thay đổi mới lại (tân tạo) tất cả vạn vật. STK viết về sự sáng tạo của ĐCT nên vũ trụ, trời đất, và về sự sáng tạo con người đầu tiên A-đam từ bụi đất. Chính ĐCT đã hà hơi của Ngài vào A-đam bụi đất để trở nên A-đam sinh động với sự sống. STK cũng viết về vườn địa đàng đầu tiên Ê-đen là nơi mà thiên nhiên, mọi loài vật hòa hiệp, nơi cuộc sống hạnh phúc thỏa mãn.
Viết về vườn địa đàng đó, KT nói đến hai cây: cây của sự sống và cây của sự thiện và ác. 8 Giê-hô-va, Đức Chúa Trời trồng một khu vườn tại Ê-đen ở phía đông và đặt người Ngài đã dựng nên tại đó. 9 Giê-hô-va, Đức Chúa Trời khiến từ đất mọc lên mọi cây cối đẹp mắt và ăn ngon. Giữa vườn có Cây Sự Sống và Cây Biết Thiện Ác. (STK 2:7-9). STK cũng đề cập đến một dòng sông có bốn nhánh: Một dòng sông chảy ra từ Ê-đen để tưới vườn và từ đó chia làm bốn nhánh. (2:10)
E-va và chồng A-đam ăn trái của cây của sự thiện và ác, trái lại với mạng lệnh của ĐCT. Từ đó, tội lỗi lan tràn trong thế gian. Tội lỗi phá hủy quan hệ của con người với ĐCT, quan hệ giữa người và người và với thiên nhiên.
Quyển sách cuối cùng của KT là KH. Hai đoạn cuối cùng của sách KH viết về trời mới đất mới, và về một giòng sông chảy giữa thành mới với cây dọc hai bên sông. Rồi thiên sứ chỉ cho tôi xem sông nước hằng sống trong như pha lê chảy ra từ ngai Đức Chúa Trời và ngai Chiên Con, 2 chảy giữa đại lộ của thành phố. Hai bên bờ sông trồng cây hằng sống ra trái mười hai mùa, mỗi tháng một lần kết quả, lá cây dùng để chữa bệnh cho các dân tộc. (22:1-2)
Sông nước trong vườn Ê-đen uống khi khát, nhưng rồi cơn khát vẫn sẽ đến. Sông nước trên thiên đàng là sông nước hằng sống, uống vào sẽ không bao giờ khát nữa. Sông nước trong vườn Ê-đen phân làm 4 nhánh, mỗi nhánh đem đến nước cho các vùng đất và dân chúng khác nhau. Tượng trưng cho sự chia cách. Sông nước thiên đàng phát nguồn từ chính ngai ĐCT và ĐCJC, và chảy giữa đại lộ của thành phố. Chỉ có một sông. Không còn có sự chia cách giữa các vùng, các đất, giữa các giống dân cư trên đất. Và dọc hai bên sông có cây của sự sống. Không còn cây của sự thiện và ác nữa vì sẽ không còn có sự ác trên thiên đàng và chính ĐCT sẽ là sự thiện. Hình ảnh hết sức ý nghĩa này cho chúng ta biết về một nơi mà mùa xuân sẽ là vĩnh viễn.
Hôm nay chúng ta đón mừng xuân Tân Sửu. Người tin Chúa không chỉ vui mừng về mùa xuân trên đất rồi sẽ qua đi. Người tin Chúa còn biết chắc rằng họ còn sẽ có một mùa xuân vĩnh cửu nơi trời mới, đất mới. ĐCT mời gọi: Thánh Linh và cô dâu cùng nói: "Xin hãy đến!" Người nào lắng nghe cũng hãy nói: "Xin hãy đến!" Người nào khát hãy đến, người nào muốn hãy nhận nước hằng sống miễn phí! (KH 22:17)
Làm thế nào để con người tội lỗi như tôi và qv có thể đến và nhận nước hằng sống miễn phí từ ĐCT thánh khiết, toàn thiện, toàn mỹ? Chỉ bởi ĐCJC. Chúa Jesus đã trả giá đắt của tội lỗi qua chính huyết đã đổ ra nơi thập tự giá. Chúng ta có thể đến với ĐCT thánh khiết vì Chúa Jesus đã đến thế gian để cứu tội con người. Chúng ta có thể nhận nước hằng sống miễn phí chỉ vì Chúa Jesus đã trả giá đắt cho những ai tin nhận Ngài.
Giăng 4 ghi lại câu chuyện về cuộc gặp gở giữa ĐCJC và người phụ nữ Sa-ma-ri tại một giếng nước lúc giữa trưa. Chúa khát và ngỏ lời xin nước bà. Nhưng xác nhận rõ một điều: Ai uống nước nầy rồi cũng khát lại, 14 nhưng uống nước Ta ban cho sẽ chẳng bao giờ khát nữa. Nước Ta ban cho sẽ biến thành giếng nước trong người, tuôn tràn sự sống vĩnh phúc. (Giăng 4:13 – BDM)
Đấng ban cho nước hằng sống, tuôn tràn sự sống vĩnh phúc cũng chính là Đấng đem lại mùa xuân vĩnh cửu cho những ai tin nhận Ngài vào đời sống. Tôi kêu gọi những ai chưa bao giờ tin nhận Chúa Jesus vào đời sống hãy làm điều này trong ngày hôm nay, trong giờ phút này. Ai đã tin nhận Ngài thì hãy sống trong niềm tin và hy vọng vào mùa xuân vĩnh cửu nơi thiên đàng.
