Với Bài Ca, Dâng Chúa Lời Cảm Tạ
[2] Đáng ngợi khen Đức Giê-hô-va thay! Vì Ngài đã nghe tiếng cầu khẩn của tôi. Đức Giê-hô-va là sức mạnh và là cái khiên của tôi; Lòng tôi đă nhờ cậy nơi Ngài, và tôi được cứu tiếp; Vì vậy, lòng tôi rất mừng rỡ, Tôi sẽ lấy bài ca mà ngợi khen Ngài. (Thi Thiên 28:6-7)
Người Việt chúng ta rất quí trọng ơn nghĩa. Thay vì kỷ niệm sinh nhật chúng ta có ngày giỗ quẫy để tưởng nhớ cha mẹ, ông bà. Ca dao, tục ngữ ta gồm rất nhiều lời dạy về sự biết ơn, lòng kính trọng ơn nghĩa: "Uống nước nhớ nguồn", "ơn trả nghĩa đền", "ơn sâu nghĩa nặng", "ơn to khó trả, nghĩa cả khó đền". Từ khi còn nhỏ đã được cha mẹ, thầy cô dạy rằng khi được ai cho gì, tặng gì, giúp gì đều phải biết ngõ lời cám ơn. Bị trách, bị mắng là người vô ơn, bội nghĩa là một điều trách mắng hết sức nặng nề mà không ai có thể cam lòng chấp nhận.
Tuy nhiên lòng biết ơn, trọng nghĩa không phải là tánh bẩm sinh của loài người. Chính vì vậy mà Khổng Lão ngày xưa dạy rằng tiên học lễ, hậu học văn, tức là trước hết phải học lễ nghĩa làm người rồi mới học đến kiến thức. Cũng lý do này mà ca dao tục ngữ Việt nam có rất nhiều lời dạy về lòng biết ơn, trọng nghĩa. E rằng cứ để tự nhiên, không nhắc dạy thì khi lớn lên chúng ta sẽ không còn biết cám ơn, biết trả ơn ai hết.
Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) là ngày mà người dân HK tạ ơn ĐCT, Đấng đã đem những người tiên phuông đầu tiên đến vùng đất này và ban cho dân tộc sự trù phú, ấm no, thịnh vượng. Thật là phải lẽ làm người khi chúng ta bày tỏ lòng biết ơn đối với Chúa. Buổi sáng nay chúng ta kỷ niệm lễ Tạ Ơn qua lời ca tiếng hát, qua những lời làm chứng về ơn phước Chúa. Tôi cũng muốn được nhắc lại về lịch sử của ngày lễ quan trọng này.
Một đêm mùa thu năm 1607, một nhóm người độ chừng 50-60, đàn ông, phụ nữ và cả trẻ con lén lút trốn ra những thuyền nhỏ bé từ một làng nhỏ của Anh Quốc tên Scrooby. Đi bằng những thuyền nhỏ, họ đến tập hợp tại cửa vịnh của (không phải thành phố của Hoa Kỳ). Rồi trong đêm tối, họ cùng nhau lên tàu vượt biển từ giả quê hương Anh Quốc để đến xứ Hòa Lan. Họ là ai? Tại sao họ lại phải trốn khỏi Anh Quốc? Đây là nhóm người mà 12 năm sau đó lại một lần nữa từ giả Anh Quốc để đến vùng đất mới Mỹ Châu trên chiếc tàu Mayflower. Họ là những người Pilgrims, những người đầu tiên đến , tiểu bang Massachussetts vào năm 1620. Họ là những người sáng lập đất nước Hoa Kỳ mà ngày hôm nay tôi và quý thính giả chọn làm quê hương thứ hai. Cũng như chúng ta, họ đã rời bỏ quê hương Anh Quốc để tìm tự do. Nhưng khác với chúng ta, họ phải vượt biển hai lần. Lần đầu từ Anh Quốc tạm trú tại Hòa Lan. Rồi từ đó họ lại phải vượt Đại Tây Dương mênh mông để đến Mỹ Châu. Khác chúng ta, họ bỏ quê hương, chọn lấy một vùng đất hoang vu, nguy hiểm chỉ để được sự tự do thờ phượng Đức Chúa Trời, sống theo lời Kinh Thánh, chứ không phải tuân theo những mạng lệnh từ Giáo Hội Anh Quốc.
Cuộc vượt biên năm 1620 của những người Pilgrims đầy những bất trắc, khó khăn. Thậm chí tưởng như đã không thành. Tháng 7, 1620 những người Pilgrims rời thành phố , Hòa Lan trên con tàu Speedwell. Họ đến một thành phố vùng biển phía nam của nước Anh. Tại đó họ bổ thêm lương thực rồi cùng một chiếc tàu khác lớn hơn tên Mayflower nhổ neo ra khơi. Nhưng không lâu sau khi ra biển, con tàu Speedwell lại bị nước vào nên phải cố lắm mới trở lại một cảng tại , Anh Quốc. Sau khi sửa chửa đến cuối tháng Tám, hai tàu Speedwell và Mayflower lại một lần nữa ra khơi đi đến Mỹ Châu. Chỉ đi được độ 300 miles, tàu Speedwell lại bị nước vào. Rồi một lần nữa cả hai tàu phải trở lại Anh Quốc. 20 người trong số 120 người đầu tiên trên 2 tàu giờ nản lòng, một số bỏ trở về Hòa Lan, một số ở lại Anh Quốc.
Ngày 6 tháng 9 năm đó, 102 người còn lại lên tàu Mayflower vượt biển. Cuộc hành trình vượt biển của họ trong hơn hai tháng trời đầy những nguy hiểm. Một vài người chết trên chuyến đi đó. Cuối cùng vào ngày 9 tháng 11, 1620, con tàu Mayflower nhìn thấy đất liền. Là vùng đất ngày nay gọi là , tiểu bang Massachussetts. Những người di cư để tàu chạy dọc bờ biển trong hai ngày. Ngày 11 tháng 11 họ thả neo tại nơi mà hôm nay là . Tại đó 41 người đàn ông đã cùng ký bản Khế Ước Mayflower. Tổng thống John Quincy Adams đã xem Khế Ước này là nền tảng của chế độ dân chủ cho hiến chương và luật pháp của quốc gia này. Vào ngày 21 tháng 12 họ định cư tại . Mùa đông năm đó vô cùng khắc nghiệt. Một số người vì thiếu thức ăn, thiếu dinh dưỡng không chịu nổi cơn lạnh kinh khủng của vùng Đông Bắc đã phải bỏ mạng. Đến mùa xuân 1621 chỉ còn phân nửa số 102 người đầu tiên vượt biển sống sót.
Một ngày mùa xuân năm đó, một người da đỏ biết nói tiếng Anh tên Squanto liên lạc với nhóm người định cư đầu tiên này và giúp họ trong việc trồng trọt, săn bắn. Nhờ sự giúp đở này, đến mùa thu 1621, số mùa màng thu gặt không những đủ cho mùa đông tới mà con dư dùng cho năm tới. Họ quyết định tổ chứa một buổi tiệc lớn với người bản xứ da đỏ, buổi tiệc Tạ Ơn. Mục đích của tiệc là để tạ ơn Đức Chúa Trời là Đấng đã bảo vệ họ trong cuộc hành trình nguy hiểm, gìn giữ mạng sống họ trong mùa đông đầu tiên, đem người đến giúp đở và ban cho mùa màng thuận lợi. Buổi tiệc cũng để bày tỏ lòng biết ơn đối người dân bản xứ đã giúp đỡ cho họ. Tiệc kéo dài đến ba ngày liền.
Tuy nhiên chúng ta hỏi tại sao cả toàn quốc HK kỷ niệm ngày lễ Tạ Ơn này vào ngày thứ năm tuần lễ cuối của tháng 11?
Vào năm 1863, khi xứ Hoa Kỳ đang trong cuộc nội chiến đẫm máu và tàn khốc nhất của lịch sử quốc gia, Tổng Thống Abraham Lincoln đã ký thành sắc luật một nghị quyết của thượng viện Hoa Kỳ. Nghị quyết của tổng thống tuyên bố rằng ngày thứ năm 30 tháng 04 năm đó sẽ là ngày toàn quốc kiên ăn và cầu nguyện. Lời tuyên ngôn kêu gọi cho ngày kiên ăn cầu nguyện của tổng thống Lincoln có những lời như sau:
"Bổn phận của các dân tộc và con người là phải biết ơn quyền năng tể trị của Thượng Đế; xưng nhận tội lỗi với tấm lòng thống hối, khiêm nhu nhưng cũng với hy vọng vững chắc rằng sự hối cãi sẽ dẫn đến sự tha thứ và nhân từ của Thượng Đế. Và ý thức về sự thật cao cả theo lời Kinh Thánh và đã được chứng minh qua lịch sử rằng những quốc gia được ơn phước là những quốc gia nhận Đức Chúa Trời là Chúa của họ... Quốc gia chúng ta đã được nhận những của ban tốt nhất từ Trời; chúng ta đã hưởng hòa bình, thịnh vượng trong nhiều năm; chúng ta đã gia tăng về dân số, về sự giàu có và về sức mạnh như chưa một quốc gia nào kinh nghiệm được. Nhưng chúng ta đã quên Thượng Đế. Chúng ta đã quên đi cánh tay nhân lành đã gìn giữ chúng ta trong những năm tháng hòa bình và giúp chúng ta trù phú, giàu mạnh. Trong sự lừ dối của lòng mình, qua suy nghĩ hão huyền, chúng ta nghĩ rằng mọi ơn phước đó là sản phẩm của sự khôn ngoan vượt bực và do công đức của chính mình. Say sưa với những thành công liên tục, chúng ta trở nên tự đắc và quên đi ân điển của Thượng Đế. Chúng ta trở nên kiêu hảnh đến nỗi không còn cầu nguyện cùng Đức Chúa Trời là Đấng đã sáng tạo chúng ta. Vậy nay thật chính đáng để chúng ta khiêm nhường trước Đấng mà chúng ta đã phạm tội để cầu nguyện cho tội lỗi của dân tộc chúng ta, để xin Đức Chúa Trời tha thứ và thương xót."
Đến ngày 03 tháng 10 cùng năm đó, tổng thống đã tuyên bố ngày lễ Tạ Ơn toàn quốc đầu tiên vào ngày thứ năm cuối của tháng 11 năm 1863. Bản tuyên ngôn về ngày lễ Tạ Ơn đầu tiên có lời kêu gọi như sau: "Tôi thiết nghĩ thật xứng đáng và thích hợp để toàn thể dân tộc Hoa Kỳ đồng một tâm tình, một tiếng nói mà long trọng, kỉnh kiền và với lòng biết ơn mà xưng nhận Đức Chúa Trời. Vì vậy tôi kêu gọi toàn thể đồng bào đang sinh sống trên mọi vùng của đất nước, cùng những ai đang ở biển khơi, và những đồng bào đang ở nước ngoài, biệt riêng ra ngày thứ năm cuối của tháng 11 như ngày lễ Tạ Ơn và ca ngợi đến Cha Nhân Từ là Đấng ngự trên cao."
Cả hai bản tuyên ngôn về ngày lễ kiên ăn, cầu nguyện và ngày lễ Tạ Ơn toàn quốc đều xác nhận rằng Đức Chúa Trời là Đấng đã ban rất nhiều ơn phước cho dân tộc Hoa Kỳ và khẳng định Chúa là Đấng chủ tể và Đấng phán xét cả quốc gia. Lời tuyên ngôn cũng nói lên lòng biết ơn của người dân trong nước đối với Thượng Đế. Một điều đặc biệt là cả hai bản tuyên ngôn này được viết ra giữa khi đất nước Hoa Kỳ đang trong cuộc nội chiến tàn khốc và đẩm máu giữa Nam Bắc, một giai đoạn không khác mấy cuộc nội chiến Việt Nam chúng ta. Một cuộc nội chiến mà trên một triệu người đã mất mạng và thương tích, biết bao nhiêu gia đình phải ly tán, làng xóm bị tàn phá, nhà cửa bị hủy diệt.
Cám ơn Trời khi đất nước thanh bình đã là điều hiếm thấy. Nhưng dân chúng Hoa Kỳ lại dâng lời cảm tạ khi đất nước tan tóc vì chiến tranh lại là điều chưa từng thấy bao giờ. Mấy ai trong số quý thính giả có thể nghĩ rằng ngày lễ Tạ Ơn toàn quốc đầu tiên và chính thức của Hoa Kỳ lại được kỷ niệm vào giữa một thời kỳ đen tối nhất của lịch sử đất nước này.
TẠI SAO LẠI BÀI HÁT
Đạo Chúa tôn vinh, thờ phượng Đức Chúa Trời với lời ca, tiếng hát. Thi Thiên là những bài thơ, bài hát. Nếu thơ là đúc kết những tinh lũy của ngôn ngữ thì âm nhạc là tinh lũy của của ngôn ngữ loài người. Dù có thể không hiểu được một ngôn ngữ của một quốc gia, dân tộc nào đó nhưng chúng ta vẫn tìm nghe âm nhạc của dân tộc đó. Mọi người đều có cảm nhận âm nhạc. Trong lúc vui hay buồn âm nhạc đem đến sự yên ủi, động viên. Vắng đi âm nhạc đời sống này thiếu sót rất lớn.
Chúng ta tin rằng âm nhạc là món quà tuyệt vời ĐCT ban cho loài người để có thể cảm thông nhau, mang thêm ý nghĩa cho đời sống và cũng để dùng để tôn vinh, cảm tạ Ngài.
Có người (William Congreve) viết Âm nhạc có sự quyến rũ làm cho thuần thú dữ, mềm đá cứng, uốn cong được cả cây cổ thụ. MS Chuck Swindoll kể câu chuyện: Gia đình ông rất thích ca hát. Lắm lúc mẹ và người anh chị với ông hát đến lúc khuya. Cạnh nhà ông là một gia đình rất giàu có. Nhưng rồi người mẹ cuối cùng tự tử và người cha bỏ nhà đi. Những người con phải tự lo lấy chính mình. Một Giáng Sinh, gia đình MS Swindoll hát các bài hát giáng sinh đến lúc khuya. Vì sợ làm phiền hàng xóm lúc khuya nên họ dừng hát. Không lâu sau đó chỉ vài phút, điện thoại reng. Thì ra là người anh lớn nhất trong 4 anh em hàng xóm gọi, yêu cầu gia đình ông hãy mở màng cửa và tiếp tục hát .
Sau khi được ĐCT giúp dân sự vượt qua biển đỏ, dân sự và Mô-se ngợi ca Chúa với bài hát (Xuất 15:1). Khi được Chúa ban cho nước trong xa mạc cằn cỏi, dân sự dùng bài hát để cảm tạ Chúa với lời mà hôm nay được dùng cho một bài hát “Spring up o well”, Hỡi giếng, hăy tuôn lên! hăy ca hát cho nó! (DSK 21:17). Vua Đa-vít và Sô-lô-môn cũng đã chọn những người hát hay, biết xử dụng các nhạc cụ và biệt riêng họ ra cho việc thờ phượng với âm nhạc.
Trong đêm cuối cùng với 12 sứ đồ, sau buổi ăn tối, ĐCJC cùng họ từ phòng cao đi đến vườn Ghết-sê-ma-nê. Trước khi đi Chúa và các sứ đồ cùng nhau hát một bài thơ thánh, có lẽ là một bài hát từ Thi Thiên (Ma-thi-ơ 26:30). Khi Phie-rơ và Si-la bị bắt bỏ vào ngục, nữa đêm họ làm gì? Họ hát ngợi khen Chúa. Phao-lô cũng khuyên bảo các tín đồ HT Ê-phê-sô và Cô-lô-se hãy dùng lời hát, âm nhạc mà ngợi ca, tôn vinh Chúa:
Hăy lấy ca vịnh, thơ thánh, và bài hát thiêng liêng mà đối đáp cùng nhau, và hết lòng hát mừng ngợi khen Chúa.( Ê-phê-sô 5:19)
Nguyền xin lời của Đấng Christ ở đầy trong lòng anh em, và anh em dư dật mọi sự khôn ngoan. Hăy dùng những ca vịnh, thơ thánh, bài hát thiêng liêng mà dạy và khuyên nhau, vì được đầy ơn Ngài nên hăy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời (Cô-lô-se 3:16)
Vậy trong mùa lễ Tạ Ơn này chúng ta dâng lên Chúa chúng ta bài hát chân thành nhất từ tận đáy lòng. Bài hát bày tỏ lòng biết ơn, dâng lời cảm tạ, ngợi ca Đấng đã gìn giữ, chăm sóc, và ban cho chúng ta mọi điều trong cuộc sống. Không chỉ trong mùa lễ Tạ Ơn hay Giáng Sinh nhưng mỗi ngày trong đời sống chúng ta cũng sẽ luôn hát ca ngợi Chúa chúng ta.
