Vì Đức Chúa Trời Yêu Thương Thế Gian (Giăng 13:1-4)
Một điều vô cùng quí báu trong đời sống là được yêu thương. Không có gì vui sướng, hạnh phúc hơn khi biết rằng có người yêu thương, trìu mến tôi. Dù là người giàu có đến mấy, tài giỏi đến mấy, thành công đến mấy, hay là người nghèo khó, tầm thường, thậm chí đến phường trộm cướp cũng mong mõi được có người yêu thương mình chân thật. Biết bao nhiêu người tìm đủ mọi phương cách, trả mọi giá để được tình cảm.
[Khi đi xa khi phi cơ cất cánh hay đáp xuống thường nghĩ về căn nhà với người thân yêu.
Vì công việc tôi thường đi đến các thành phố xa ngoài tiểu bang chúng ta đang sinh sống. Sau khi máy bay cất cánh, tôi thường nhìn qua khung cửa sổ nhỏ để cố định được dãy núi Sandia phía đông thành phố hay con sông Rio Grande nơi phía tây. Nhưng hơn hết, tôi cố định cho được ngôi nhà của tôi. Từ trên không trung, dù không thấy rõ, hay nếu có thấy chăng cũng chỉ là một chấm nhỏ, nhưng trong tâm hồn tôi cái chấm đó to lớn và quan trọng hơn tất cả các khách sạn nhiều tầng trong thành phố. Tại sao vậy? Bởi vì trong ngôi nhà đó có sự hiện diện của vợ và các con tôi, là những người tôi vô cùng thương mến, là những người gắn bó với đời tôi, gần gũi cùng tôi trong lúc những lúc vui buồn của cuộc sống. Chính vì sự hiện diện của người thân yêu khiến cho nơi ở đó trở nên ngôi nhà của mỗi chúng ta. Người Việt chúng ta dùng chữ nhà, nhà tôi không những nói đến nơi ở nhưng còn để nói về người vợ, người chồng, là người gần gũi, thân thương nhất trong đời.]
Không được ẳm bồng, thương yêu, trẻ sơ sinh sẽ trở nên èo uột, bệnh hoạn. Không được yêu thương con người trở nên cô độc, lẽ loi, chết dần mòn trong tâm hồn, hoặc trở nên cay đắng, chua chát với người và đời. Sau khi giết em mình, Ca-in bị ĐCT trừng phạt. Chúa phạt Ca-in Ngươi sẽ lưu lạc và trốn tránh trên mặt đất (Ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên đất –BDM). Chúng ta nghe lời kêu than của Ca-in Sự hình phạt tôi nặng quá mang không nổi. Mang không nổi bởi vì con người sống mà không có quan hệ, không được yêu thương. Vì vậy mà sự trừng phạt đáng sợ nhất là tù cách ly: người tù bị giam một mình không được liên lạc với bất cứ ai. Khi bị giam cầm như vậy, có người xem con chuột, con gián như loài có thể tâm sự, an ủi.
KT viết rất rõ rằng ĐCT yêu thương thế gian dù khi loài người vẫn còn đang đắm chìm trong tội lỗi. Điều này thật khác với suy nghĩ phổ thông của người Á Châu và người Việt chúng ta. ĐCT, hay chúng ta còn gọi là Thượng Đế, Ông Trời thường nghĩ rằng Trời là đấng ở trên cao luôn luôn canh chừng để xem ai làm lỗi mà trừng phạt. Chúng ta thờ cúng Trời để được yên thân mà sinh sống, làm ăn. Quan hệ với Trời thì thật là điều khó tin. Huống chi đến việc Trời yêu thương mình đến nỗi ban Con Độc Sinh của Ngài chết cho tội loài người.
[Nhận xét của các nhà xã hội học, và nhân chủng học về số người tù giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. sCâu chuyện về tù nhân bên Nhật Bản bị gia đình từ bỏ khi ra khỏi tù.]
TUẦN LỄ CUỐI CÙNG
Buổi tối nay chúng ta đến đây để tưởng niệm về sự thương khó của ĐCJC và tình yêu thương Chúa dành cho tội nhân như tất cả chúng ta tại đây. Chúa chịu thương khó, chịu xỉ nhục, chịu chết trên thập giá vì Ngài yêu thương Chúa ta. Tôi xin giải thích về vài sự việc xảy trong tuần lễ cuối cùng và đêm cuối cùng của cuộc đời ĐCJC để giúp cho quý vị hiểu phần nào về tình yêu bao la này.
Chúa nhật vào thành Jerusalem được dân và môn đồ đón như một vị vua.
Theo các sách Phúc Âm, ngày Chúa nhật của tuần lễ cuối cùng trong cuộc đời ĐCJC thì Ngài cưỡi lừa vào thành Jerusalem. Cả 4 sách PA đều ghi lại rằng khi ĐCJC đang đi tới thành thì có nhiều người trải áo trên đường, có những người khác thì trải lá trên đường. Rồi khi gần một dốc núi tên Ô-li-vê, tất cả các môn đồ (rất đông chứ không phải chỉ 12 người) mừng rỡ và cất tiếng ngợi khen ĐCT.
Lý do gì dân chúng và các môn đồ đón rước Chúa như vậy? Bởi vì họ nghĩ rằng Jêsus là vị cứu tinh của dân tộc sẽ giải phóng dân DT khỏi ách nô lệ của đế quốc La-mã. Có thể họ nhớ lại lời của tiên tri Xa-cha-ri: Hỡi con gái Si-ôn, hăy mừng rỡ cả thể! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hăy trổi tiếng reo vui! Nầy, Vua ngươi đến cùng ngươi, Ngài là công bình và ban sự cứu rỗi, nhu mì và cỡi lừa, tức là con của lừa cái. Thiết tưởng các sứ đồ vui mừng đến chừng nào. Họ nghĩ đến một tương lai sáng lạn với Jêsus là vua, họ là những quần thần có quyền chức.
Nhưng chỉ vài ngày sau đó, mọi sự việc thay đổi hoàn toàn
Chỉ vài ngày sau đó, mọi sự việc như thay đổi hoàn toàn. Bắt đầu với sự phản bội của một sứ đồ tên Giu-đa Iscariot. Lu-ca cho biết khi gần đến ngày lễ Vượt Qua (lễ kỷ niệm ngày ĐCT đem dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ nô lệ Ai Cập) Giu-đa đồng ý với những thầy thông giáo bán Jêsus với giá 30 miếng bạc. Ngày kỷ niệm lễ Vượt Qua nhằm vào ngày thứ Năm của tuần lễ cuối cùng đó. Vậy Giu-đa đã đồng ý bán thầy mình trước ngày đó, có thể vào ngày thứ Ba hay thứ Tư.
Chúng ta hỏi: Làm thế nào lòng dạ con người có thể thay đổi nhanh đến như vậy? Chỉ vì đồng tiền.
Tối thứ Năm tức vào đêm của lễ Vượt Qua theo phong tục Y-sơ-ra-ên, Jêsus cùng các môn đồ dự bửa ăn bánh không men tại một phòng cao (Lu-ca 22:1 cho biết Ngày lễ ăn bánh không men tức là lễ Vượt Qua). Đây cũng là đêm cuối cùng trong đời ĐCJC. Bởi vì chính trong đêm đó, Ngài bị bắt vì sự phản bội của Giu-đa, rồi bị xử trước các thầy thông giáo 3 lần. Đến gần sáng vì muốn giết Chúa nên họ giải Ngài đến quan La-mã. Trong buổi sáng đó, Chúa bị giải đến tổng trấn tên Phi-lát để xử, rồi đến vua Hê-rốt. Sau rốt trở lại Phi-lát. Và trong phiên xử cuối cùng này dân chúng trong thành kêu gào, “Hãy đóng đinh nó đi, hãy đóng đinh nó đi”. Trong đám dân này có bao nhiêu người mới Chúa nhật trước mừng đón Jesus như mừng đón một vị vua?
Chúng ta hỏi: Làm thế nào lòng dạ con người có thể thay đổi nhanh đến như vậy? Chỉ vì lời xách động của các thầy thông giáo.
Còn các sứ đồ khác ngoài Giu-đa thì sao? Một người tên Phierơ chối Chúa. Và 10 người kia bỏ chạy trốn khi thấy thầy mình bị bắt. Chúng ta hỏi: Làm thế nào lòng dạ con người có thể thay đổi nhanh đến như vậy? Chỉ vì sợ người hơn sợ Trời .
Rồi họ đóng đinh Jêsus trên cây thập tự giữa hai tên trộm cướp. Thập giá ngày đó là cách thức trừng phạt khủng khiếp nhất cho các tử tội. Người bị đóng đinh không những chết cách đau đớn, nhưng còn nhục nhả vô cùng. Bởi vì mọi người gồm cả những người thân yêu chứng kiến tận mắt. Có người chế diễu, có người khinh bỉ, có người thương hại, cũng có người lấy làm kinh sợ.
ĐÊM CUỐI CÙNG
Tuần lễ cuối cùng trong đời của ĐCJC là như vậy: Đầu tuần được chào đón như một trọng khách, một vị vua; giữa tuần bị phản bội; đêm thứ Năm bị bắt, qua 6 phiên xử; ngày thứ Sáu bị đóng đinh trên cây gỗ cho đến chết. Tôi tin chắc rằng không một người nào, dù chỉ một người, muốn cuộc đời của mình, tuần lễ cuối cùng trong đời mình kết thúc như vậy. Con loài người không muốn như vậy nhưng con Trời lại chịu thương khó như vậy. Hãy dừng lại mà suy nghĩ: Ngôi Hai ĐCT, ĐCT bị con người đóng đinh. Chúa chịu chết trên cây thập tự cho tội nhân. Lính chịu chết cho tướng. Có đời nào tướng lại chịu chết cho lính? Nhưng KT ghi rõ rằng Con Trời chịu chết cho những kẻ hèn mòn, tội lỗi.
Trở lại với đêm cuối cùng trong cuộc đời của ĐCJ khi Ngài dự buổi ăn cuối cùng các môn đồ trên phòng cao. Giăng, một sứ đồ tự nhận rằng là người ĐCJC yêu thương hơn hết, viết: Trước ngày lễ Vượt Qua, Đức Chúa Jêsus biết giờ mình phải lìa thế gian đặng trở về cùng Đức Chúa Cha đến rồi; Ngài đă yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, thì cứ yêu cho đến cuối cùng. Đương bữa ăn tối (ma quỉ đã để mưu phản Ngài vào lòng Giu-đa Ích-ca-ri-ốt con trai Si-môn), Đức Chúa Jêsus biết rằng Cha đă giao phó mọi sự trong tay mình, và mình sẽ về với Đức Chúa Trời, nên đứng dậy khỏi bàn, cởi áo ra, lấy khăn vấn ngang lưng mình. Kế đó, Ngài đổ Nước vào chậu, và rửa chơn cho môn đồ, lại lấy khăn mình đă vấn mà lau chơn cho. (Giăng 13:1-5)
ĐCT bày tỏ tình yêu thương của Ngài cho mọi người qua sự cứu chuộc của Jêsus trên thập giá. Nhưng trong đêm cuối này, ĐCJC bày tỏ tình yêu thương của Ngài một cách đặc biệt với kẻ thuộc về Ngài trong thế gian. Họ là ai? Là các sứ đồ. Là những người đặt trọn niềm tin và cuộc đời vào tay của Chúa. Ai trong số quý vị hiện diện đây đã đặt trọn niềm tin vào Chúa thì chắc sẽ được nhận tình yêu thương hết sức quí báu này từ Chúa.
Dù biết Giu-đa bội phản, Phierơ không nhận, số còn lại bỏ trốn nhưng Chúa vẫn yêu thương họ cho đến cuối cùng. Chúa yêu những kẻ thuộc về Ngài, dù họ yếu đuối, vấp phạm tội lỗi; miễn sao họ biết ăn năn tội và quay lại về cùng Chúa. Điều này thật tương phản với niềm tin của rất nhiều người Việt ta về Trời. Người ta tin rằng Trời là đấng ở xa lắm, không có quan hệ với loài người, lúc nào cũng sẵn sàng để trừng phạt. Nên người ta dâng của cúng để làm vừa lòng Trời và hy vọng Trời sẽ để yên cho mình và gia đình. Nhưng Chúa thể hiện tình yêu của Ngài qua sự tha thứ.
ĐCT của KT qua ĐCJC hoàn toàn khác với hình ảnh đó về Trời. Chúa không yêu thương những người như con người thường chọn để yêu thương.
Loài người thường chọn để yêu; chọn người giàu có, học thức, địa vị, người có thể giúp đở mình. Chúa không chọn những người giàu có, học thức, địa vị để yêu thương họ và gọi họ theo Ngài. Các môn đồ gồm những người đánh cá hết sứ tầm thường từ vùng biển Ga-li-lê, người hay nghi ngờ, người thu thuế.
Loài người chọn để yêu những người đẹp đẻ, toàn hảo, mạnh mẽ. Chúa không chỉ yêu thương những người toàn hảo, luôn mạnh mẽ, không bao giờ vấp ngã hay phạm tội, nhưng tất cả tội nhân. Các môn đồ của Chúa là những người bình thường, có lúc yếu mềm, phạm tội. Nếu có khác chăng đây là những người biết ăn năn, xám hối.
Tiến sĩ John Suppe, giáo sư trường đại học Princeton và cũng là thành viên của Hàn Lâm Viện Khoa Học Hoa Kỳ (US National Academy of Sciences), “Vài người Cơ Đốc không phải là khoa học gia khi gặp một khoa học gia, thường nghĩ rằng họ cần tranh luận về thuyết tiến hóa. Đây là điều chắc chắn sai lầm. Nếu quý vị biết về các khoa học gia và những nan đề họ đối diện trong đời sống: kiêu hãnh, ích kỷ, tham vọng, ghen tị; đây chính là điều mà Jê-sus đã đề cập và Ngài đến để giải thoát… Tin lành về sự cứu rỗi đều đồng nhất cho mọi người dù là khoa học gia. Nếu các khoa học gia muốn tìm ý nghĩa cho cuộc đời họ, họ sẽ không tìm được trong thuyết tiến hoá”.
Hơn thế nữa Chúa thể hiện tình yêu thương của Ngài qua sự phục vụ, qua sự tha thứ. Khi rửa chân cho các môn đồ, ĐCJC làm công việc của một người đầy tớ. Hãy dừng lại mà suy nghĩ: ĐCT rửa chân cho con người!
Hai vợ chồng ông bà Ken & C.J. có một cửa tiệm nhỏ tại một thành phố nhỏ tên Bodaga Bay, phía bắc của San Francisco, CA. Họ là người tin Chúa. Cũng trong thành phố nhỏ này có một người homeless (người không nhà) tên . Ông Garland thường ngủ ở các công viên thành phố và ăn mặc lượm thượm, dơ dái. Nhưng Ken và vợ tìm cách làm bạn để có thể giúp đở ông . Một ngày nọ cửa tiệm họ bị trộm. Mọi người đều nghi rằng kẻ trộm là người homeless đó. Ken và vợ không tin bạn mình đã làm điều này. Trái lại, họ làm một rỗ quà lớn và đẹp đắt tiền để tặng cho người bạn không nhà kia. Ngày hôm sau, cảnh sát đem ông đến tiệm hai vợ chồng với rỗ quà đắt tiền vì nghĩ rằng họ đã bắt được kẻ trộm tiệm. Hai vợ chồng cố tránh cho bạn mình sự xấu hổ, nên nói rằng, "Ồ, cám ơn ông đã đem rỗ quà này trở lại, chúng tôi xin lỗi đã quên mất một vài món khi chuẩn bị rỗ quà này". Rồi họ thối lại $38.67 cho ông như đã quên vài món đồ. Sau đó cảnh sát đành phải thả ông. Vài ngày sau đó, người ta tìm thấy xác của ông Garland trong công viên nơi ông thường ngủ. Văn phòng luật sư thành phố gọi cho hai vợ chồng ông bà Ken và C.J. báo cho biết họ là người thừa tự duy nhất của ông . Trong di chúc ông viết, "Tất cả đồ trong túi của tôi thuộc về anh chị". Họ tìm thấy trong túi một bao thức ăn cho chim, một cuốn Kinh Thánh và một sổ trương giám ngân hàng. Tên trong sổ là , Ken và C.J. Số nhập cuối cùng là $38.67 mấy ngày trước đó, là số tiền thối lại. Nhưng tổng cộng tiền trong trương mục hơn ba triệu đô-la. Sổ trương mục được dùng làm đồ chận sách cho quyển Kinh Thánh sách Ma-thi-ơ đoạn 25. Trong đoạn Kinh Thánh đó, câu 35 được gạch dưới, "Vì ta đói, các ngươi đã cho ta ăn; ta khát, các ngươi đã cho ta uống; ta là khách lạ, các ngươi tiếp rước ta... Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy (Ma-thi-ơ 25:35, 40) . Ông Garland có một gia tài lớn mà không ai biết được.
Khi Đức Chúa Jê-sus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá giữa hai tên trộm cướp không ai nghĩ rằng Ngài có thể cứu chuộc tội cho chúng ta. Cũng không ai có thể tin rằng đến ngày thứ ba Ngài sẽ sống lại. Như ai có thể tin rằng người không nhà như ông lại có một gia tài khổng lồ như vậy. Nhưng Kinh Thánh khẳng định rằng Đấng đã chết và sống lại cũng chính là Đấng sẽ cứu tội chúng ta.
