Tuần Lễ Cuối Trong Đời Chúa Jêsus – Mừng Đón, Từ Khước, Mưu Hại
Trong khi Đức Chúa Jêsus đi lên thành Giê-ru-sa-lem, Ngài đem riêng theo mười hai môn đồ, dọc đường, phán cùng họ rằng: Nầy, chúng ta đi lên thành Giê-ru-sa-lem, và Con người sẽ bị bắt nộp cho các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo, bọn đó sẽ luận giết Ngài. Họ sẽ nộp Ngài cho dân ngoại hầu để nhạo báng, đánh đập, và đóng đinh trên cây thập tự; đến ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại. (20:17-19)
Chỉ còn hai tuần nữa sẽ đến ngày kỷ niệm sự sống lại mầu nhiệm của Đức Chúa Jêsus Christ. Tôi muốn dùng tuần lễ này và tuần lễ tới để chia xẻ với HT về vài sự kiện quan trọng trong tuần lễ cuối cùng trong cuộc đời của Chúa chúng ta. Tuần lễ cuối này cũng được gọi là tuần lễ thương khó (the Passion week) bởi vì nó gồm đêm Chúa dự buổi ăn tối cùng các môn đồ lần cuối cùng trên phòng cao, bị phản bội và bị bắt trong đêm. Rồi Ngài phải trả qua 6 phiên toà án: 3 trước người Giu-đa, 3 trước chính quyền La-mã. Chúa bị đánh đập, bị xỉ nhục. Sau phiên toà cuối cùng trước Phi-lát Jêsus bị xử án tử hình trên thập tự giá. Ngài bị đóng đinh giữa 2 tên trộm cướp rồi chết trên thập tự giá.
Trong bốn sách Phúc âm tuần lễ cuối của đời Chúa được viết lại với nhiều chi tiết hơn các khoảng thời gian khác trong đời Ngài. Ma-thi-ơ gồm 28 đoạn thì 7 đoạn viết về tuần cuối, tức 1/4 sách. Mác gồm 16 đoạn với 5 đoạn về tuần lễ cuối, tức khoảng 1/3 sách. Lu-ca gồm 24 đoạn với 5 đoạn, tức gần 1/6 sách. Giăng gồm 7 đoạn trong số 21 đoạn của sách.
Ngoại trừ ngày thứ Tư trong tuần lễ đó, từ Chúa nhật cho đến Chúa nhật tới các sách phúc âm đều ghi lại nhiều chi tiết về điều Chúa dạy, điều Ngài làm, điều xảy ra cho Ngài. Vì các lý do này có thể nói tuần lễ cuối cùng trong đời Chúa được bốn tác giả phúc âm xem là một thời gian hết sức đặc biệt, ý nghĩa và quan trọng.
CÁC DIỄN TIẾN TRONG TUẦN CUỐI
Sau đây là những diễn tiến chính yếu nhất trong tuần lễ cuối bắt đầu từ Chúa nhật trước lễ Vượt Qua cho đến sáng Chúa nhật sau khi Chúa bị đóng đinh và chết trên thập giá:
1. Chúa nhật trước lễ Vượt Qua – ĐCJC cưởi lừa vào thành Giê-ru-sa-lem. Chúa được tất cả các môn đồ, những người theo để nghe lời Ngài dạy và cả một số dân chúng trong thành mừng đón như một vị vua. Họ mong Jêsus như một vị vua có thể giải phóng họ và dân tộc ra khỏi ách đô hộ của đế quốc La-mã. Lúc này dân chúng mừng đón Chúa vì thấy những phép lạ Ngài đã làm.
Bấy giờ phần nhiều trong đám dân đông trải áo mình trên đường; kẻ khác chặt nhánh cây mà rải ra giữa đường. Đoàn dân đi trước và theo sau đều kêu lên rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! Đáng khen ngợi cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao! (Matt 21:9)
2. Thứ Hai – Chúa vào đền thờ thành Giê-ru-sa-lem và một lần nữa lật đổ các bàn của những người buôn bán trong đền thờ. Đây là lần thứ hai Chúa vào đền thờ và lật đổ các bàn của những người buôn bán. Lần đầu tiên được ghi lại trong Giăng 2:13-15. Một sự việc khác cũng được ghi lại trong ngày này là việc Chúa rủa cây vả không trái (Mathiơ 21:18-21, Mác 11:1-11).
Rất nhiều tín đồ tự hỏi tại sao Chúa lại rủa cây vả không trái. Khi Chúa vào thành Giê-ru-salem là vào mùa lễ Bánh Không Men (hay lễ vượt qua) tức vào tháng 3-4. Trong tháng này các cây vả chưa ra trái vì thường mùa trái là vào tháng 6 và tháng 9. Tuy vậy cây vả này có lá. Thường thì trái vả thường có khi lá đã có và nếu trái xanh (vẫn ngọt) thì từ xa khi nhìn cây có lá người ta chắc nghĩ rằng cây đang có trai. Tuy nhiên cây này dù có lá nhưng không có trái. Cây vả trong CU thường tượng trưng cho dân tộc Y-sơ-ra-ên. Vậy câu chuyện nói lên tình trạng “không trái” của dân sự trong thành nói riêng và dân tộc Y-sơ-ra-ên nói chung. Khi Chúa vào thành ngày hôm qua Chúa nhật thì dân chúng mừng đón nhưng thật sự tấm lòng của họ không phải vì muốn được cứu khỏi tội nhưng chỉ mong một đấng cứu tinh ra khỏi La-mã. Vào đền thờ Chúa cũng chỉ thấy nơi này trở nên một nơi thương mãi thay vì là nhà thờ phượng của ĐCT. Khi nhìn bên ngoài cây sanh đây lá tưởng như có trái như dân này tưởng như đầy sự tôn kính chân thành nhưng như cây không trái thì đời sống thực của họ hoàn toàn không trái, hoàn toàn xa cách ĐCT.
[Liên hệ đến đời sống, bước đi của quí vị với Chúa.] Nếu đây là tuần lễ cuối cùng của cuộc đời chúng ta thì Chúa sẽ thấy gì? Một đền thờ đầy người buôn bán thương mãi hóa nơi thờ phượng hay một cây vả xanh lá nhưng hoàn toàn không trái?
3. Thứ Ba. Từ Chúa nhật cho đến thứ hai và cả thứ ba mỗi tối Chúa đều về Bê-tha-ni nơi đồi Ô-li-ve để tạm trú qua đêm. Cũng có thể Chúa tạm trú tại nhà của Ma-tha, Ma-ri và Lazarus. Ngày thứ ba Chúa vào thành Giêrusalem từ lúc sáng sớm và chỉ trở về Bê-tha-ni lúc ban đêm. Đây cũng là ngày cuối cùng Chúa dạy tại đền thờ cho dân chúng. Đây cũng là ngày cho thấy dân sự bắt đầu sự từ khước lời dạy Chúa. Dĩ nhiên đối với các thầy thông giáo và thầy tế lễ thì họ đã có mưu mô để giết Chúa từ khi nghe dân sự reo hò Hô-sa-na, Chúc phước cho Đấng nhơn danh Chúa mà đến, là Vua của Y-sơ-ra-ên! (Giăng 12:13). (Từ hô-sa-na đầu tiên có nghĩa là xin cứu, hãy cứu nhưng khi dân sự hò reo lời này thì bấy giờ ý nghĩa là sự cứu rỗi đến rồi, hoan hô sự cứu rỗi!).
Vậy dân chúng bắt đầu với sự mừng đón khi Ngài vào thành Chúa nhật. Nhưng chỉ đến thứ Ba như khi cây vả héo rụi thì dân sự bắt đầu từ khước Ngài. Chúa không còn là Đấng Đáng ngợi khen Vua nhơn danh Chúa mà đến! Bình an ở trên trời, và vinh hiển trên các nơi rất cao! (Lu-ca 19:38) .
Những thầy thông giáo và tế lễ tìm nhiều cách thức để vặn hỏi hầu buộc tội Chúa. Họ vặn hỏi Chúa với quyền nào, phép nào Chúa lại có thể lật đổ bàn buôn bán trong đền thờ, dạy trong đền thờ. Họ hỏi Ngài có nên nộp thuế cho đại đế Ceasar hay không. Họ hỏi Chúa theo luật Do Thái một người đàn bà mất chồng, phải lập gia đình 7 lần (sát phụ ) thì đến ngày sống lại ai sẽ là chồng bà.
Mathiơ 23 ghi lại lời quở trách hết sức nặng nề của Chúa đối với những người này. Nếu trong bài giảng trên núi trong Mathiơ 5 có 8 phước thì trong đoạn 23 này Chúa có 8 lời rủa cho những người đạo đức giả này. Qua điều này chúng ta thấy sự can đảm và sự thẳng thắng của Chúa chúng ta trước những kẻ giả hình: đạo đức bên ngoài nhưng lòng xa cách, từ chối ĐCT.
Rồi KT cho biết khi Các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si nghe những lời ví dụ đó, thì biết Ngài nói về mình. Họ bèn tìm cách để bắt Ngài; song sợ thiên hạ vì thiên hạ tôn Ngài là đấng tiên tri. (Matt 21:46). Rồi lập mưu để giết Chúa Bấy giờ các thầy tế lễ cả và các trưởng lăo trong dân nhóm lại trong ṭa thầy cả thượng phẩm tên là Cai-phe; và bàn với nhau dùng mưu chước gì đặng bắt Đức Chúa Jêsus mà giết (Matt 26:3-4).
Quí vị có nhìn thấy sự thay đổi trong lòng của những thầy thông giáo và tế lễ: từ lòng ghen tức với Chúa khi thấy đoàn dân đông hò reo, ngợi ca, họ dùng các câu hỏi mưa mẹo hầu để Chúa trả lời sai quấy trước dân chúng trong đền thờ. Nhưng khi Chúa trả lời tất cả và đặt họ vào thế bí thì họ sinh ra thù hận. Từ thù hận họ lập kế để bắt cách lén lúc vì sợ dân chúng. Bắt để làm gì? Để giết.
Và để có thể làm điều này họ phải tìm cách để chuyển lòng dân từ mừng đón Chúa sang đến ngờ vực, hoài nghi. Và từ ngờ vực, hoài nghi sinh ra sự từ khước. Đây là điều họ sẽ sách động dân chúng nhẹ dạ vào buổi sáng sớm thứ Sáu khi họ buộc Phi-lát phải tuyên án đóng đinh Chúa trên thập giá.
Cũng chính trong ngày này Giu-đa Ít-ca-ri-ốt quyết định bán Chúa cho các thầy thông giáo với giá 30 miếng bạc. Không chỉ từ khước nhưng còn là sự phản bội của một người đã từng theo Chúa trong suốt 3 năm trời!
[Liên hệ đến đời sống tín đồ] Nếu đây là tuần lễ cuối cùng trong đời chúng ta, chúng ta hãy tự xét lấy mình. Chúng ta như các thầy thông giáo và tế lễ này khiến cho những tín đồ còn non yếu trong Chúa hay những người muốn tin Chúa lấy làm hoài nghi rồi từ khước Chúa. Hay như người giúp làm tăng trưởng đức tin, làm nóng lòng phục vụ, hầu việc Chúa.]
4. Thứ Tư – KT không ghi lại chi tiết gì trong ngày này.
5. Thứ Năm tức ngày Lễ Vượt Qua – Chúa dự buổi ăn cuối cùng các môn đồ trên phòng cao.
Trước buổi ăn ĐCJC rửa chân cho các môn đồ. Và cũng trong buổi ăn cuối cùng đó chính Chúa đã thiết lập tiệc thánh. Đức Chúa Jêsus lấy bánh, tạ ơn rồi, bẻ ra đưa cho môn đồ mà rằng: Hăy lấy ăn đi, nầy là thân thể ta. Ngài lại lấy chén, tạ ơn rồi, đưa cho môn đồ mà rằng: Hết thảy hăy uống đi; vì nầy là huyết ta, huyết của sự giao ước đă đổ ra cho nhiều người được tha tội. Ta phán cùng các ngươi, từ rày về sau, ta không uống trái nho nầy nữa, cho đến ngày mà ta sẽ uống trái nho mới cùng các ngươi ở trong nước của Cha ta. (Matt 26:29)
Rồi sau buổi ăn Chúa cùng các môn đồ đến vườn Gết-sê-ma-nê. Tại nơi đó Ngài cầu nguyện một mình vì các môn đồ mệt mỏi và ngủ. Chúa cầu nguyện 3 lần xin Cha cất chén đắng khỏi con nhưng không theo ý con mà theo ý Cha. Chén đắng là chén gì? Là sự thương khó khi bị đóng đinh trên thập giá, nhưng hơn hết khi bị chính Cha mình từ bỏ trong lúc đau thương nhất trên thập giá vì phải mang lấy tội lỗi của cả nhân loại.
Tại vườn Gết-sê-ma-nê Chúa bị Giu-đa phản bội với cái hôn. Ngài bị quân lính La-mã bắt. Và trong đêm đó cho đến sáng sớm sáng thứ Sáu Chúa phải qua 3 phiên án trước các thầy tế lễ và thông giáo Do Thái. Cũng chính trong đêm thứ năm này Phi-e-rơ chối Chúa 3 lần và các môn đồ tản lạc, bỏ chạy trốn vì sợ bị liên lụy. Trong đêm thứ năm Chúa bị giải đến An-ne, là ông nhạc của thầy tế lễ cả Cai-phe.
Trước đó các thầy tế lễ và thông giáo âm mưu cùng Giu-đa để bắt Chúa. Trong đêm này họ mưu hại để giết Chúa. Họ buộc tội Chúa lộng ngôn, phạm thượng cho mình là ĐCT. Họ tìm nhân chứng dối. Họ thêu dệt chuyện để bắt tội. Chúng ta chú ý đọc rõ đoạn KT này trong Lu-ca 22:70-7: Ai nầy đều hỏi rằng: Vậy, ngươi là Con Đức Chúa Trời sao? Ngài đáp rằng: Chính các ngươi nói ta là Con Ngài. Họ bèn nói rằng: Chúng ta nào có cần chứng cớ nữa làm chi? Chính chúng ta đă nghe từ miệng nó nói ra rồi. Dù Chúa trả lời Chính các ngươi nói ta là Con Ngài thì họ vẫn có thể buộc tội Ngài!
[Bài học: Một khi đã từ khước ĐCT thì lòng con người sẽ trở nên cứng cỏi. Người ta sẽ hiểu lầm hay chủ ý hiểu lầm chính lời Ngài, như hôm nay người chủ ý hiểu lầm lời KT. Người tín đồ cũng nên cẩn thận kẻo hiểu sai lời Chúa rồi dẫn đến hành động sai lầm.]
7. Thứ Sáu – Từ sau khuya thứ Năm hay sáng thứ Sáu, ĐCJC lại bị giải đến hai phiên xử khác của thầy tế lễ cả Cai-phê và trước toàn công luận (Sanhedrin). Đến sáng sớm thứ Sáu các thầy thông giáo và tế lễ giải Chúa đến tổng trấn Phi-lát. Để có thể giết Chúa họ phải cần lệnh của chính quyền La-mã. Sau khi Phi-lát tìm thấy Chúa không có tội gì hắn muốn phủi tay nên ra lệnh giao Chúa cho vua Hê-rốt. ĐCJC hoàn toàn im lặng trước Hê-rốt. Cuối rồi hắn trả ĐCJC lại cho Phi-lát. Trong lần xử thứ 3 này chính các thầy tế lễ và thông giáo xách động dân chúng trong thành để buộc Phi-lát phải đóng đinh Jêsus vì phạm thượng: Song các thầy tế lễ cả và các trưởng lăo dỗ chúng hăy xin tha Ba-ra-ba và giết Đức Chúa Jêsus. Quan tổng đốc cất tiếng hỏi rằng: Trong hai người nầy, các ngươi muốn ta tha ai? Chúng thưa rằng: Ba-ra-ba. Quan tổng đốc cất tiếng hỏi rằng: Trong hai người nầy, các ngươi muốn ta tha ai? Chúng thưa rằng: Ba-ra-ba. Phi-lát nói rằng: Vậy, còn Jêsus gọi là Christ, thì ta sẽ xử thế nào? Chúng đều trả lời rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự! (Matt 27:20-22)
Chỉ mới Chúa nhật trước đó cũng chính dân này reo hò mừng đón Jêsus như vua vào thành Giê-ru-sa-lem. Sáng thứ sáu cũng chính họ là những người reo hò thả tên giết người Ba-na-ba và đóng đinh Jêsus vô tội. Từ mừng đón cho đến từ khước cho đến mưu hại. Và dân chúng mắc vào chính âm mưu này của những người từ chối Chúa.
Đây cũng là một bài học quan trọng cho chính chúng ta. Nếu chỉ theo Chúa với xúc cảm nhất thời hay theo lời của người khác thì có thể sẽ vấp ngã. Có thể sẽ hoài nghi lời Chúa. Rồi từ khước lời dạy khó nghe từ KT, từ người dạy lời Chúa. Và cuối cùng dẫn đến sự hoàn toàn xa cách, mất đức tin, mất lòng nóng bỏng ban đầu hầu việc Chúa.
Phi-lát bèn tha tên Ba-ra-ba cho chúng; và khiến đánh đòn Đức Chúa Jêsus, đoạn giao Ngài ra để đóng đinh trên cây thập tự. Lính của quan tổng đốc bèn đem Đức Chúa Jêsus vào công đường, và nhóm cả cơ binh vây lấy Ngài. Họ cổi áo Ngài ra, lấy áo điều mà khoác cho Ngài. Đoạn, họ đương một cái măo gai mà đội trên đầu, và để một cây sậy trong tay hữu Ngài; rồi quì xuống trước mặt Ngài mà nhạo báng rằng: Lạy Vua của dân Giu-đa. Họ nhổ trên Ngài, và lấy cây sậy đánh đầu Ngài. Khi đă nhạo báng Ngài rồi, thì họ cổi áo điều ra mà mặc áo của Ngài lại, rồi đem Ngài đi đóng đinh trên cây thập tự. (27:26-31)
Quân lính đánh đập Ngài. Họ phun vào mặt Chúa. Họ làm áo điều mặc, đội mão gai để làm nhục. Họ bắt Chúa vác thập giá lên đồi Sọ hay Gô-gô-tha. Rồi tại đó họ đóng đinh Jêsus giữa hai tên trộm cướp. Jêsus bị treo trên cây thập tự máu me, đau đớn, nhục nhả trước mắt các thầy tế lễ, thông giáo, trước dân chúng trong thành, và trước cả mẹ cùng các môn đồ gồm những phụ nữ thủy chung cho đến phút cuối cùng. Ai có thể tin rằng chính người bị đóng đinh đó là Cứu Chúa cho tội lỗi của mình?
Chúa bị đóng đinh trên thập tự khoảng giờ thứ sáu (12 giờ trưa). Đến giờ thứ chín (3 giờ chiều) Ngài trút hơi trên thập tự giá: Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Ước chừng giờ thứ chín, Đức Chúa Jêsus kêu tiếng lớn lên rằng: Ê-li, Ê-li lam-ma sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! sao Ngài lìa bỏ tôi?... Đức Chúa Jêsus lại kêu lên một tiếng lớn nữa, rồi trút linh hồn. (Ma-thi-ơ 27:46, 50).
NẾU CHỈ CÒN MỘT TUẦN LỄ ĐỂ SỐNG…
Nếu như ĐCJC mỗi chúng ta hiện diện tại đây chỉ còn một tuần lễ để sống thì chúng ta sẽ sống ra sao, sẽ làm gì, cho ai?
Tuần lễ cuối cùng trong cuộc đời trên đất này ĐCJC kinh nghiệm được sự mong manh, dễ thay đổi của lòng dạ con người. Từ Chúa nhật được mừng đón, đến thứ ba bị từ khước, đến thứ năm bị mưu hại. Dù vậy Chúa chúng ta làm gì?
Khi vào thành Giê-ru-sa-lem thay vì hảnh diện, vui mừng vì sự mừng đón của đoàn dân đông, Chúa khóc cho thành vì sẽ bị tiêu hũy. Chúa nghĩ đến dân chúng vô tội trong thành. Ngài thương xót họ và muốn cứu chuộc họ.
Thay vì chấp nhận việc người ta biến nhà Chúa thành nơi buôn bán, làm lợi, Chúa hành động. Dù biết rằng chính việc làm đó sẽ gây ra hiểu lầm và khó khăn cho chính mình.
Thay vì chọn để nói những lời bùi tai làm đẹp lòng các thầy thông giáo, tế lễ và đám đông theo chiều gió ĐCJC chọn nói những lời thẳng thắng, dù có làm mất lòng người nghe nhưng là sự thật.
Dù biết một trong các môn đồ sẽ phản bội và số còn lại sẽ bỏ chạy trốn nhưng Chúa vẫn rửa chân cho họ. Chúa yêu thương họ cho đến giờ phút cuối cùng. Chúa ban cho Giu-đa cơ hội đến lúc cuối cùng.
Chúa nhận thấy sự đau đớn thể xác, tủi nhục, từ khước, rồi chết trên thập giá để cứu tội chúng ta. Cứu tội chính những người từ khước chính Ngài và lời dạy của Ngài. Cho những người vẫn còn đang phạm tội, những đạo đức giả, những người sống theo người đời, chạy theo chiều gió.
Trong giờ phút cuối đời, khi đau đớn vô cùng về thể xác trên thập tự giá, Chúa vẫn nghĩ đến mẹ mình và uỷ thác trách nhiệm nuôi dưỡng mẹ cho một môn đồ là Giăng.
Nếu như ĐCJC mỗi chúng ta hiện diện tại đây chỉ còn một tuần lễ để sống thì chúng ta sẽ sống ra sao, sẽ làm gì, cho ai?
Vậy, hỡi anh em yêu dấu của tôi, hăy vững vàng, chớ rúng động, hăy làm công việc Chúa cách dư dật luôn, vì biết rằng công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu. (1 Cô-rinh-tô 15:58)
Vì tình yêu thương của Đấng Christ cảm động chúng tôi, và chúng tôi tưởng rằng nếu có một người chết vì mọi người, thì mọi người đều chết, lại Ngài đă chết vì mọi người, hầu cho những kẻ c̣n sống không vì chính mình mà sống nữa, nhưng sống vì Đấng đă chết và sống lại cho mình. (2 Cô-rinh-tô 5:14-15)
