Trong Ngày Sợ Hãi
Đây là tuần thứ 3 HT nhóm thờ phượng trên mạng. Chỉ 2 tháng trước đây dân chúng HK tràn đầy hy vọng về một nền kinh tế phát triển, về số thất nghiệp thấp nhất trong 50 năm, về thị trường chứng khoán với chỉ số gần 30K, về cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 tới đây. Hôm nay đất nước và dân chúng như đang chứng kiến một cơn ác mộng hãi hùng. Không chỉ là ác mộng mà là một sự thật về cơn đại dịch hãi hùng đang xảy ra trên xứ này và trên toàn thế giới.
Đến hôm nay số người nhiễm bệnh tại HK cao hơn các quốc gia khác trên thế giới và đã vượt hơn số 100K. Trong tháng 2, số người thất nghiệp trong xứ ước tính 273K hay 3.5%; hôm nay số người thất nghiệp tăng lên hơn 3.3 triệu hay 33% tức hơn 10 lần chỉ trong vòng ít hơn 1 tháng. Thứ ba tuần qua thống đốc tiểu bang NM cũng ra lệnh đóng cửa tất cả các dịch vụ thương mãi không chính yếu (non-essentials) và không được nhóm lại quá 5 người trong hay ngoài nhà, cho đến 10/04, tức 2 ngày trước lễ Phục Sinh.
Tôi nghĩ đến lời KT viết trong thư Gia-cơ sao hoàn toàn chính xác với những gì đang xảy ra trước mắt chúng ta: Bây giờ, hãy nghe đây, những người đang nói: "Nay mai chúng ta sẽ đi đến thành phố kia, làm việc một năm, buôn bán kiếm lời! 14 Nhưng anh chị em không biết ngày mai đời sống mình ra sao! anh chị em giống như hơi nước, hiện ra chốc lát rồi biến mất. 15 Đáng lẽ anh chị em nói rằng: "Nếu Chúa muốn thì chúng ta sẽ sống, chúng ta sẽ làm việc này việc kia!" 16 Nói như anh chị em là khoe khoang tự phụ; phàm khoe khoang như thế là xấu. (Gia-cơ 4:13-16 – BDM) Nhưng anh chị em không biết ngày mai đời sống mình ra sao! anh chị em giống như hơi nước, hiện ra chốc lát rồi biến mất.
Cơn đại dịch covid-19 toàn cầu này dù đem lại bao nhiêu tai ương, bệnh tật, mất việc, cả đến sự chết, nhưng cũng đem lại một điều chúng ta có thể tạ ơn: khiến chúng ta ý thức vào sự mong manh, tạm bợ của đời sống để đặt lòng tin cậy nơi Chúa. Chúng ta đang sống trong thời điểm hết sức khó khăn, nguy hiểm, có lúc đầy lo âu, sợ hãi. Đây chính là thời gian chúng ta cần nương tựa vào Chúa và lời Chúa hơn bao giờ hết. Tôi có dùng ví dụ về đời sống tâm linh & thể xác có thể ví như 2 con chó trắng & chó đen. Cũng vậy, sự lo sợ có thể ví như con chó đen và đức tin như chó trắng. Để bớt đi lo sợ, chúng ta cần nuôi dưỡng, chăm sóc đức tin. Hễ đức tin càng được nuôi dưỡng thì lo sợ càng giảm lại. Nhưng nếu đức tin không được nuôi dưỡng, chăm sóc thì lo sợ chắc chắn sẽ tăng lên. Hướng về Chúa, suy gẫm lời Chúa thì lo sợ sẽ nhỏ lại và có thể sẽ tan biến.
Rất nhiều người bày tỏ hy vọng rằng HT Chúa trên toàn quốc có thể mở cửa lại vào sáng Chúa nhật cử hành sự kiện ĐCJC sống lại từ cõi chết. Tôi tin không một người tin Chúa nào lại không mơ ước, hy vọng điều này. Được trở lại nhà Chúa, được gặp gỡ, tay bắt mặt mừng chào hỏi anh chị em thân mến trong nhà Chúa, được hát những bài thánh ca quen thuộc về sự Chúa sống lại, được nghe lời KT đọc về câu chuyện ĐCJC từ cõi chết sống lại và hiện ra cho những phụ nữ buổi sáng ngày đầu tuần như trong PA Lu-ca 24: Ngày thứ nhất trong tuần lễ, khi mờ sáng, các người đàn bà ấy lấy thuốc thơm đã sửa soạn đem đến mồ Ngài. 2 Họ thấy hòn đá đã lăn ra khỏi cửa mồ; 3 nhưng bước vào, không thấy xác Đức Chúa Jêsus...
Trong bài giảng hôm nay tôi muốn cùng đọc với qv TT 56. TT 56 là một trong 9 bài TT Đa-vít viết trong thời gian 12 năm khi bị vua Sau-lơ tìm bắt giết vì ghen tị. Chúng ta biết TT 56 do Đ viết trong thời gian khốn khó này nhờ đề tựa hay phụ chú: Thơ Đa-vít làm, khi dân Phi-lít-tin bắt người trong thành Gát. Và cũng nhờ đề tựa mà chúng ta biết TT này là một bài hát viết theo một thể điệu: cho thầy nhạc chánh, theo điệu Giô-nát-Ê-lem-Rô-hô-kim (bồ câu của cây thông phương xa – BDM; bồ câu yên lặng ở cây sồi phương xa – BD2011). Một TT khác trong 9 bài TT trong khoảng đời gian truân viết về cùng một sự việc là TT 34 có tựa đề: Thơ Đa-vít làm, khi người giả bộ điên dại trước mặt A-bi-mê-léc, và bị người đuổi đi.
Bởi vì TT là những bài thơ, bài nhạc nên khi đọc chúng ta cần phải để ý đến cách dùng văn từ khác với thư tín, tiên tri hay lịch sử. Ví dụ như trong Chinh phụ ngâm khúc (lời than của người phụ nữ có chồng đi đánh trận) của Đặng Trần Côn có câu: Vầng trăng ai sẻ làm đôi; nữa ôm gối chiếc, nữa soi dậm đường. Ai có thể cắt mặt trăng làm hai? Vậy 2 câu thơ này nói gì? Nói về tâm trạng của hai người chồng vợ xa cách nhau. Đêm đến, trăng lên, chiếu trên nhà nơi người vợ ở lại; cũng vầng trăng đó chiếu trên đường của người chồng đang chinh chiến. Hay như một bài hát phổ thơ có lời: Những ngày không gặp nhau biển bạc đầu thương nhớ. Những ngày không gặp nhau, lòng thuyền đau rạn vỡ.
Trước hết một chút về bối cảnh của bài TT này theo 1Sam 21:10-15. Sau khi từ biệt người bạn chí thân là hoàng tử Giô-na-than qua nước mắt, KT viết Đa-vít chổi dậy và đi còn Giô-na-than trở vào trong thành. Từ đó Đ đến gặp thầy tế lễ để xin thức ăn và nơi tạm trú. Đ cũng xin một thanh gươm. Biết mình không thể ở lâu tại đó vì khi Đ đến thì một người chăn chiên của vua Sau-lơ cũng có mặt và chắc sẽ báo cho vua để tìm đến bắt. Đ quyết định sẽ trốn vào xứ của kẻ thù Phi-lít-tin là xứ của người khổng lồ Gô-líat mà ông đã giết. Ngày hôm ấy, Đa-vít tiếp tục trốn vua Sau-lơ, đi đến thành Gát gặp vua A-kích (1Sam 21:10) Gát là một thành phố của xứ Philistine, có lẽ là thủ đô vì đây là nơi vua A-kích ở. Có lẽ Đ hy vọng những thuộc hạ của vua hay dân trong thành không nhớ ông là ai và để yên, nhưng trái lại không những họ nhận ra được Đ mà còn nói thế này: Các tôi tớ của A-kích hỏi rằng: Có phải đó là Đa-vít, vua của xứ ấy chăng? Há chẳng phải về người nầy mà bọn nữ có nói trong khi múa hát rằng: "Sau-lơ giết hàng ngàn, Còn Đa-vít giết hàng vạn?" (1Sam 21:11) Chú ý lời họ gọi Đ là vua của xứ ấy.
Sau khi bị nhận diện KT viết: Đa-vít lo ngại về những lời nói đó và đâm ra sợ vua A-kích lắm. 13 Vậy, trước mặt họ, Đa-vít giả bộ dại khờ; chàng cư xử như người khùng khi họ tìm cách giữ cho chàng yên; chàng viết nguệch ngoạc trên các cánh cửa và để nước miếng chẩy xuống râu. 14 Vua A-kích bảo các triều thần: "Các ngươi thấy tên này điên rồi. Sao lại dẫn về đây cho ta? 15 có thiếu người khùng đâu mà các ngươi lại dẫn nó về làm trò khùng điên quấy rầy ta? Lẽ nào cho tên này vào cung ta?" (1S 21:12-15)
Đọc mấy câu KT trên qv nhận thấy Đ có cảm xúc gì? Sợ hãi và tủi nhục. Sợ hãi cũng là cảm xúc chính trong TT 56. Khó cho qv và tôi hiểu hết được nỗi đau khổ của Đ. Từ một anh hùng dân tộc, con rễ vua, bạn chí thân với hoàng tử, nay lại phải chạy trốn vào đất của kẻ thù. Bị bắt, phải giả khùng giả điên. [Đọc TT56]
SỢ HÃI – CẢM XÚC CỦA MỌI NGƯỜI
Ai nghĩ người tin Chúa, yêu mến Chúa, anh hùng đức tin, người can đảm là người không hề biết sợ, cũng chẳng bao giờ khóc, là nghĩ rất sai lầm. Ngay cả ĐCJC cũng có lúc sợ và cũng có những lúc Chúa khóc. Trong vườn Ghết-sê-ma-nê KT viết Chúa cầu nguyện khẩn thiết đến nỗi mồ hôi hòa với máu và xin Cha cất chén đắng khỏi Con. Theo y khoa cho biết tình trạng mồ hôi hòa máu gọi là hematidrosis xảy ra khi một người bị căn thẳng, stress, hay sợ hãi quá độ đến nỗi những mạch máu nhỏ gần tuyến mồ hôi phải vỡ ra. Ngày nay hiện tượng này cũng đã xảy ra với những tử tội chờ bị xử chết, hay lính ra trận. Qv có nhớ câu KT ngắn nhất không? Chúa khóc. Chính ĐCJC cũng đã khóc khi đứng trước mồ La-xa-rơ và khi vào thành Jerusalem. Tác giả sách Hê-bơ-rơ viết về ĐCJC như sau: Khi Đấng Christ còn trong xác thịt, thì đã kêu lớn tiếng khóc lóc mà dâng những lời cầu nguyện nài xin cho Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng nhân đức Ngài, nên được nhậm lời (5:7)
Rất nhiều lần tôi cũng đã lập lại điều dạy vô cùng sai lệch KT là ai tin Chúa, yêu mến Chúa, có đức tin mạnh mẽ vào Chúa thì sẽ luôn được hanh thông, không phải trải qua những đau khổ, mất mát, hoạn nạn. Cũng trong Hê-bơ-rơ 5, tác giả viết về ĐCJC: Trong những ngày sống trong xác thịt, Đức Giê-su đã lớn tiếng dâng những lời cầu nguyện, nài xin với nước mắt lên Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính nên được nhậm lời. 8 Dù là Con, Ngài cũng phải học tập vâng lời trong những điều thống khổ Ngài đã chịu. (5:7-8). Chính ĐCJC cũng đã bị người ta ruồng bỏ, nói nặng; khi bị bắt, quân lính nhổ vào Ngài, đánh đập tàn nhẫn. Chúa phải uống chén đắng của tất cả tội lỗi con người khi chết trên thập giá, khi bị ĐCC lìa bỏ trong giờ phút cuối cùng vì mang tội của nhân loại trên mình. Tất cả các sứ đồ, ngoại trừ Giăng chết lúc tuổi cao, đều bị giam cầm rồi xử chết.
Cuộc đời của Đa-vít là một bài học quan trọng cho người theo Chúa. Chúng ta học thấy Đ luôn giữ vững đức tin vào ĐCT dù trong bất kỳ cảnh ngộ khó khăn, sợ hãi nào: Dù khi bị quân thù bắt, dù khi phải giả điên khùng để thoát nạn, dù khi phải chạy trốn nơi hang động, trong xa mạc, nơi rừng núi trong khoảng đời 12 năm khi bị vua Sau-lơ tìm giết; hay khi bị con trai Áp-sa-lôn làm phản muốn giết để soán ngôi vua phải bỏ thành Jerusalem mà chạy trốn rồi còn lại bị người ta mắng nhiếc, sĩ nhục. Hoàn cảnh càng khó khăn, đen tối bao nhiêu, nỗi sợ hãi càng lớn bao nhiêu thì Đ càng nắm chặt Chúa hơn, quan hệ với Chúa càng gắn bó, mật thiết hơn. Trong những ngày tháng gian truân, trong những ngày sợ hãi, Đ chọn và quyết định đặt cái neo của linh hồn ông vào nơi Chúa. Còn qv thì sao?
Nhiều người, cả tín đồ, trãi qua một phần nhỏ của những hoạn nạn, mất mát Đ trãi qua thì sẽ trách móc, buồn giận Chúa, bỏ nhà thờ, bỏ HT, trách hỏi tại sao Chúa lại để tôi trải qua những điều này. Như vợ Gióp khuyên ông nguyền rủa ĐCT rồi chết đi! Có người kể tôi nghe lý do ông bỏ Chúa, bỏ HT một thời gian mấy mươi năm. Người con trai ông rất thương mến chết trong một tai nạn xe. Chúa nhật vài tuần sau đó khi vẫn còn rất buồn rầu, đau khổ vì mất con, ông đi đến nhà thờ. Sáng hôm đó người mục sư làm chứng cùng cả HT về việc Chúa cứu con ông: dù tai nạn xe rất nặng nhưng anh chỉ bị thương mà không mất mạng. Nghe vậy người cha mất con vô cùng tức giận: tại sao ĐCT cứu con trai ông ấy mà lại không cứu con trai tôi? Từ đó bỏ Chúa, bỏ HT.
Sợ là một cảm xúc mọi người đều có, từ đứa bé vừa lọt lòng mẹ cho đến khi sắp trút hơi thở cuối cùng. Tiếng Việt chúng ta có nhiều phụ từ dùng với sợ để nói lên nhiều cách sợ khác nhau. Sợ hãi, (không phải sợ ông Hải!) nhưng sợ đến hãi hùng; sợ kinh hay kinh sợ (sợ kinh luôn) sợ cách kinh khủng, mất hồn vía; lo sợ, sợ đi kèm với lo lắng; hoãn sợ, sợ với sự hoãn hốt; khiếp sợ, sợ với kinh khiếp; kính sợ (như kính sợ ĐCT), bởi lòng kính trọng nên sợ làm buồn lòng; ghê sợ, sợ vì ghê tởm, ghê gớm.
Chúng ta lo sợ khi nghĩ về tương lai bấp bênh, không biết tốt xấu thế nào; kinh sợ khi nghĩ đến chiến tranh, bệnh tật, nghèo đói; ghê sợ những kẻ giết người như bọn ISIS, hay những kẻ độc ác buôn bán phụ nữ, trẻ em để làm nô lệ, để buộc bán thân. Kính sợ Chúa vì biết Ngài là Đấng có thể giết cả linh hồn và thể xác, Đấng quyết định vậng mạng loài người.
Chúng ta sợ bởi nhiều lý do, có những lý do đúng nhưng cũng có lý do vô lý. Khi học bài về Sợ (Fear) theo TT55 với thanh niên, tôi hỏi các em sợ gì nhất. Có em trả lời khi mới sang sợ vì khác phong tục, tiếng nói, sợ đến nỗi không muốn ra đường. Có em nói sợ vì không biết có làm đúng theo lời Chúa dạy, đúng theo ý Chúa. Có em lại nói sợ thằn lằn VN! Tôi nhớ có lần hỏi một người: nếu không sợ ĐCT, anh sợ gì? Trả lời: sợ ma! Thiết nghĩ không có người nào an toàn hơn người chết vì họ không làm gì được mình, nhưng nhiều người sợ người chết hơn người sống. Một thanh niên trẻ 20 tuổi muốn biết tương lai nên đi coi bói, lấy tử vi. Tử vi nói anh sẽ bị vợ bỏ và phá sản năm 40 tuổi. Qv nghĩ trong 20 năm anh có sống trong phật phòng, lo sợ hay không?
Chúng ta sợ khi sự an toàn cá nhân, gia đình bị đe dọa. Sợ người ta chê bai mình. Sợ mất mặt, mất sĩ diện, danh dự. Sợ mất việc làm, mất tình yêu, tình bạn. Sợ bị thua kém người. Sợ nghèo khó, khổ cực. Khi mới sang HK mấy năm đầu tiên tôi thường xuyên nằm mơ thấy mình bị bắt lại ở VN, giật mình thức dậy sợ điến người, mồ hôi đổ toát, vài phút sau mới tỉnh hồn vía.
Tôi nghĩ mọi người tại đây đều có những lúc lo sợ nếu không trong tuần qua thì cũng trong tháng qua. Tôi không biết qv có đang lo sợ hay không? Nếu có nỗi lo sợ là gì? TT 56 sẽ giúp qv khi có sự lo sợ.
ĐA-VÍT VÀ SỰ SỢ HÃI TRONG THI THIÊN 56
TT56 viết về nỗi sợ hãi, khiếp sợ của Đ khi ông bị kẻ thù Philistine nhận diện và bắt. Chỉ có trong phim James Bond thì khi bị kẻ thù bắt mới không sợ. Thực tế là tất cả trong hoàn cảnh của Đ đều sợ hãi. Không biết tín mạng thế nào? Không biết họ giết mình cách nào? Chém đầu như Đ đã chém đầu Goliath; hay tra tấn để chết dần mòn? Nhiều khi chính sự tưởng tượng về sự việc trong tương lai lại càng khiến chúng ta lo sợ hơn nữa.
Tôi nhớ khi còn đi học có một kỳ thi để được chứng nhận là professional engineer. Một người bạn tôi lo sợ đến nỗi đêm trước ngày thi gọi điện thoại gần khóc nói anh sẽ bỏ thi vì sẽ rớt. Tôi nói với anh: anh bỏ thi thì chắc chắn sẽ rớt, nhưng nếu anh thi thì ít nhất cũng còn chút cơ hội để đậu. Mất cả tiếng đồng hồ, cuối cùng anh đồng ý sáng mai đi thi. Kết quả kỳ thi về, qv nghĩ anh đậu hay rớt. Đậu. Lắm khi chúng ta sợ vì những sự việc chưa xảy ra nhưng cũng biết sẽ xảy ra thế nào. Một người lính sáng mai ra trận, sống chết thế nào, sợ là điều dĩ nhiên, hợp lý, nhưng có những nỗi lo sợ biết là không có lý lẽ gì rõ ràng nhưng vẫn sợ, nhất là về tương lai như đứa trẻ khi học lớp 8 sợ không biết có kiếm được vợ hay không!
Khi sợ hãi Đ làm gì? Ông kêu cầu, thú thật cùng Chúa về nỗi lo sợ và về lý do khiến cho ông sợ hãi. Tiếng Việt chúng ta rất hay vì từ ghép nói lên nhiều ý khác nhau, như kêu cầu, cầu nguyện, van cầu, khẩn cầu. Tôi nghĩ Đ không chỉ kêu cầu nhưng ông van cầu, cầu nguyện và van nài cùng Chúa cho sự giải thoát; hay khẩn cầu, cầu nguyện cách khẩn thiết. Một nơi khác trong TT 62, Đ viết: Hãy dốc đổ sự lòng mình ra tại trước mặt Ngài: Đức Chúa Trời là nơi nương náu của chúng ta (62:8). Từ đổ dốc đây nói lên hình ảnh của nước đổ ra hết tuôn tràn, lêng láng.
Đ trải lòng ông ra trước Chúa trong TT 56. Không giữ lại một điều gì trước Chúa: sự sợ hãi, khóc than, thậm chí ý muốn trả thù. Ông bắt đầu bài TT với lần cầu khẩn tha thiết: Đức Chúa Trời ôi! xin thương xót tôi; Rồi Đ thưa với Chúa về lý do ông van nài Chúa lắng nghe ông: vì người ta muốn ăn nuốt tôi; Hằng ngày họ đánh giặc cùng tôi, và hà hiếp tôi. 2 Trọn ngày kẻ thù nghịch tôi muốn ăn nuốt tôi, Vì những kẻ đánh giặc cùng tôi cách kiêu ngạo là nhiều thay. Đ thú nhận cùng Chúa ông vô cùng sợ hãi, sợ vì bị bắt, sợ vì kẻ thù nghịch ông đông biết bao nhiêu lần, sợ vì không biết họ sẽ xử mình chết sống thế nào, hay hành hạ, tra tấn vì đã giết Goliath và biết bao nhiêu giặc Philistin: 3 Trong ngày sợ hãi, Tôi sẽ để lòng nhờ cậy nơi Chúa. 4 Tôi nhờ Đức Chúa Trời, và ngợi khen lời của Ngài; Tôi để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ gì. Đ cũng ngợi khen lời của Chúa.
Có thể Đ nhớ đến lời Chúa phán cùng Mô-se Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe! Ngày nay các ngươi đi giao chiến cùng thù nghịch mình, lòng các ngươi chớ nhát, chớ sợ, chớ run rẩy, và chớ kinh khiếp vì chúng nó; 4 bởi Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi là Đấng cùng đi với các ngươi, đặng vì các ngươi đánh kẻ thù nghịch và giải cứu cho. (PT 20:3-4) Hay lời của ĐCT cùng Giô-suê trước khi ông lãnh đạo dân sự vào đất hứa: Ta há không có phán dặn ngươi sao? Hãy vững lòng bền chí, chớ run sợ, chớ kinh khủng; vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi vẫn ở cùng ngươi trong mọi nơi ngươi đi. (Giô-suê 1:9)
Lý do giúp giảm đi nỗi sợ hãi của Đ không phải vì hoàn cảnh chắc chắn rồi sẽ thay đổi. Thật vậy sau khi bị bắt và phải giả điên tại Gát, Đ lại tiếp tục bị vua Sau-lơ theo đuổi tìm giết phải chạy trốn từ nơi này đến nơi khác. Cũng không phải vì Chúa ban cho ông một can đảm phi thường, một con tim thép, nhưng vì chính những lời Chúa đã hứa: Chúa hứa sẽ ở cùng trong mọi nơi, mọi hoàn cảnh. Biết được Chúa ở cùng là một yên ủi lớn vô cùng. Qv chắc nhớ hình ảnh của người phụ nữ VN được cứu trong kỳ lụt lớn tại Houston. Bà được người lính cứu ẳm trên tay, nhưng trên tay bà cũng đang ẳm đứa con nhỏ mình. Bé làm gì? Ngủ say, vì an toàn trong lòng mẹ. [hình]
Dù trong suy nghĩ, hiểu biết chúng ta ý thức rằng Chúa luôn ở cùng mình dù trong bất kỳ cảnh ngộ nào của đời sống, nhưng kiến thức, hiểu biết đó phải được nhắc đi nhắc lại để giảm đi nỗi lo sợ. Thậm chí dù có lúc biết nhưng vẫn lo sợ, vẫn lo lắng không yên, vẫn không ăn được, ngủ được. Vì lý do này trong cơn gian truân, trong ngày sợ hãi chúng ta cần đọc KT, đọc TT hơn bao giờ. Để được lời Chúa yên ủi, trấn an, để được nhắc nhở về lời Chúa hứa: Ta không bỏ các con mồ côi, Ta sẽ đến cùng các con; Ta sẽ cùng với các con cho đến tận thế. Để thấy chính Đ, người mà ĐCT gọi là người đẹp lòng Ta (a man after God’s own heart) cũng đã trải qua những ngày sợ hãi, những ngày phải than khóc cùng Chúa.
Câu 8: Chúa đếm các bước đi qua đi lại của tôi: Xin Chúa để nước mắt tôi trong ve của Chúa, Nước mắt tôi há chẳng được ghi vào sổ Chúa sao? BD2011: Ngài đã dõi theo những bước lang thang trốn tránh của con. Phong tục ngày xưa khi những người bạn đi thăm một người bạn đang bịnh nặng hay trong cơn đại nạn, khốn khổ, họ đem theo ve nước mắt (tear bottle). Khi đến thăm, trò chuyện nếu bạn mình khóc thì họ sẽ dùng ve để hứng những giọt lệ này. Rồi niêm ve lại để làm kỷ niệm về giai đoạn khó khăn, gian truân này. Đây là ý Đ muốn nói đến. Nhưng ý nghĩa sâu sắc của câu KT này là chính ĐCT là người bạn thiết hứng nước mắt của Đ vào ve, chính ĐCT là người sẽ niêm ve lại để làm kỷ niệm những ngày tháng đầy sợ hãi của Đ.
Tôi nghĩ trong 12 năm dài gian truân, khốn khổ này Đ có biết bao nhiêu ve nước mắt. Ve khi bị bắt tại thành Gát; ve khi phải giả điên khùng; ve khi phải trốn trong hang động; ve khi trong sa mạc khô cằn không nước; ve khi được tin vợ Mi-canh bị vua Sau-lơ bắt gả cho người khác. Và mỗi lần Đ khóc ông biết chính ĐCT hứng những giọt lệ đó vào ve. Chúa là bạn hữu thân thiết nhất luôn có mặt để hứng nước mắt. Nhưng KT cho biết rằng sẽ có một ngày, một nơi mà những người tin Chúa, như Đ, như qv và tôi, như hàng tỉ tỉ anh chị em trong Chúa sẽ không cần ve nước mắt nữa. Lúc ấy, tôi thấy trời mới và đất mới vì trời thứ nhất và đất thứ nhất đã biến mất và biển cũng không còn nữa. 2 Tôi cũng thấy thành phố thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ Đức Chúa Trời trên trời mà xuống, chuẩn bị như cô dâu trang điểm chờ chàng rể. 3 Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai nói: "Này, đền tạm của Đức Chúa Trời ở với loài người, Ngài sẽ ở với họ. Họ sẽ làm dân Chúa, chính Ngài sẽ ở với họ và Ngài sẽ là Đức Chúa Trời của họ. 4 Ngài sẽ lau sạch tất cả nước mắt nơi mắt họ, sẽ không còn chết chóc, tang chế hoặc khóc than hay đau khổ nữa, vì những việc trước đã qua rồi. (KH 21:1-4) Thú thật khi tôi hiểu hình ảnh của ve nước mắt thì tôi mới thật sự hiểu lời hứa kỳ diệu này của ĐCT chúng ta. Hễ còn sống trên đất này, hễ còn trong thân phận con người là còn nước mắt. Và khi con dân Chúa khóc Chúa biết và luôn bên cạnh, để hứng vào ve. Nhưng đến ngày cuối, nơi trời mới, đất mới sẽ không cần ve nước mắt nữa. Chúa sẽ lau sạch tất cả nước mắt nơi mắt con dân Ngài. Khi đó tôi nghĩ chúng ta vẫn có thể tìm được những ve nước mắt trong những tháng ngày sống trên đất này. Chúng ta sẽ nhìn những ve nước mắt này mới tấm lòng biết ơn Chúa không cùng, vì đó là những dấu tích rõ ràng nhất về tình yêu của Chúa với chúng ta: khi con dân Chúa khóc, Ngài luôn bên cạnh, cảm thông. Có thần nào, chúa nào, có đấng nào cảm thông như ĐCT chúng ta! Có tôn giáo nào dạy về một Thượng Đế, ông Trời nào như ĐCT trong KT.
Đ chắc không hiểu tại sao Chúa lại để ông trải qua những ngày sợ hãi này. Nhưng Đ hiểu rõ, rất rõ rằng Chúa luôn ở cùng ông, ở gần bên cạnh ông trong những ngày tháng gian truân này. Đ than khóc, sợ hãi nhưng rồi vẫn nhớ lời Chúa để lòng trở lại bình an, để phục hồi hy vọng dù thực tế trước mắt vô cùng đen tối, đáng kinh sợ: Tôi nhờ Đức Chúa Trời, và ngợi khen lời của Ngài; Tôi nhờ Đức Giê-hô-va, và ngợi khen lời của Ngài. 11 Tôi đã để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời, ắt sẽ chẳng sợ chi; Người đời sẽ làm chi tôi?.. Vì Chúa đã giải cứu linh hồn tôi khỏi chết: Chúa há chẳng giữ chân tôi khỏi vấp ngã, Hầu cho tôi đi trước mặt Đức Chúa Trời trong sự sáng của sự sống?
BÀI HỌC
Có người hỏi tại sao ĐCT lại để cho Đ hay người tin Chúa phải trãi qua những ngày sợ hãi như vậy? Dù không biết rõ tất cả lý do nhưng một lý do KT cho chúng ta biết rõ: Để chúng ta học nương cậy vào Chúa và để ĐCT dùng thời gian khó khăn, mất mát đó thay đổi đời sống. Như Gia-cơ viết: Thưa anh chị em, khi gặp những thử thách khác nhau (thử thách trăm bề), anh chị em hãy xem tất cả là điều vui mừng, 3 vì biết rằng đức tin anh chị em có bị thử nghiệm mới sinh ra kiên nhẫn, 4 kiên nhẫn có hoàn tất công việc thì anh chị em mới trưởng thành, toàn vẹn, không thiếu sót gì (Gia-cơ 1:2-3 - BDM) Ai cũng muốn có đức tin, có lòng kiên trì, có sự trưởng thành, toàn vẹn, nhưng không muốn qua thử thách trăm bề.
Tôi và Lan đều đồng ý rằng trẻ em lớn lên trong một môi trường quá đầy đủ, quá bảo vệ không hoàn toàn là ơn phước. Hiếm thấy trẻ em nào thành người biết cảm thông, biết quí những gì mình có, biết ơn cha mẹ khi quá đầy đủ, muốn gì được nấy. Qv chắc có nghe từ công tử bột, đụng vào thì nhuyễn như bột. Hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn có thể giúp rất nhiều cho sự phát triển của trẻ em. Khi trải qua những cảnh ngộ khó khăn, con người mới biết rõ được mình và người, mới cố gắng hơn, nỗ lực hơn, quyết chí hơn, mới học sự kiên nhẫn, học giá trị của thất bại, khiêm nhường khi thành công, học để khắc phục khó khăn thay vì bỏ cuộc. Qua những năm tháng gian truân, những ngày sợ hãi Đ trở nên mạnh mẽ hơn, can đảm hơn, từng trải hơn. Thời gian này là thời gian ĐCT huấn luyện để ông trở nên một vị vua, một người lãnh đạo tài giỏi, cương quyết, biết yêu thương quân lính, tướng lĩnh, dân chúng. Hơn hết qua những ngày tháng gian truân này, Đ càng gần ĐCT hơn, càng yêu kính Chúa hơn và càng kinh nghiệm rõ hơn về quyền năng và sự thành tín của Ngài. Đ có thể gọi Chúa là ĐCT tôi, my God.
Năm 1962, một tâm lý gia tên Victor Goertzel và vợ ông cũng là tâm lý gia viết một quyển sách tựa là Cradles of Eminence: A Provocative Study of Childhoods of Over 400 Famous 20th Century Men and Women – Những cái nôi của sự lỗi lạc: nghiên cứu (có tính khiêu khích về kiến thức, hiểu biết sai lầm thời bấy giờ) về tuổi thơ của 400 nhân vật nổi tiếng trong thế kỷ 20. Họ chọn 400 người đó có ít nhất 2 sách đã được viết về cuộc đời họ, và phải có những đóng góp quan trọng và giá trị cho xã hội, thế giới như bà bác học Marie Curie (người phụ nữ đầu tiên và duy nhất đạt hai giải Nobel cả về Lý và Hóa), bà tổng thống Elenor Roosevelt, Henry Ford (người sáng lập hảng xe Ford và chế tạo hệ thống ráp xe dây chuyền đầu tiên trên thế giới) hay John D. Rockefeller, tỉ phú dầu hỏa, người giàu nhất HK và trong thế giới hiện đại. Hai nhà tâm lý gia khám phá rằng chỉ ít hơn 15% trong số 400 nhân vật quan trọng và nổi tiếng này được lớn lên trong một gia đình đầy hậu thuẩn (supportive), không có vấn đề. Nhưng 75% trong 400 nhân vật nổi tiếng trong thế kỷ 20 này, tức khoảng 300 người lớn lên trong một gia đình đầy những nan đề trầm trọng: nghèo khó, bị cha mẹ ngược đãi hay vắng mặt, nghiện ngập, bệnh tình trầm trọng hay những bất hạnh trong đời sống. Sách viết: The “normal man” is not a likely candidate for the Hall of Fame (Một người bình thường thông thường không là một ứng viên cho hội danh dự).
Tại sao ĐCT lại để con dân Chúa trải qua gian truân, khó khăn, mất mát? Để giúp họ trưởng thành trong đức tin, trong phẩm hạnh, trong khả năng. Tác giả Hê-bơ-rơ viết: Trong những ngày sống trong xác thịt, Đức Giê-su đã lớn tiếng dâng những lời cầu nguyện, nài xin với nước mắt lên Đấng có quyền cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính nên được nhậm lời. 8 Dù là Con, Ngài cũng phải học tập vâng lời trong những điều thống khổ Ngài đã chịu (Heb 5:7-8 - BDM) Nếu ĐCJC cũng phải học vâng lời ĐCT qua những đau đớn thì trò sau có thể hơn thầy, chúng ta có thể tránh được sự dạy dỗ bằng cách này của ĐCT sao?
Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, Nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng… Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy nghe và thương xót tôi; Đức Giê-hô-va ôi! khá giúp đỡ tôi. 11 Ngài đã đổi sự buồn rầu tôi ra sự khoái lạc, Mở áo tang tôi, và thắt lưng tôi bằng vui mừng; 12 Hầu cho linh hồn tôi hát ngợi khen Chúa không nín lặng. Hỡi Giê-hô-va Đức Chúa Trời tôi, tôi sẽ cảm tạ Chúa đến đời đời. (TT 30:5, 10-12)
