Tin Kinh Thánh
Khi lời Chúa không ở trong chúng ta thì chắc chắn cũng sẽ có những lời khác: nghi ngờ, triết lý, khoa học, vật chất, vô thần.
GIỚI THIỆU VỀ KINH THÁNH
Bài giảng này sẽ giới thiệu về KT. Ba bài giảng tới sẽ về KT và lịch sử; KT và kinh nghiệm, KT và sự khải thị cuối cùng.
Nếu các con cứ ở trong Ta và các lời của Ta vẫn ở trong các con. Lời của Ta tức là lời của ĐCJC phán cùng các môn đồ, nhưng cũng có nghĩa là lời KT bởi vì cả KT viết về Ngài. Trước khi giới thiệu về KT tôi muốn nhấn mạnh một điều quan trọng: ĐTL sẽ dùng lời Chúa trong KT để thay đổi, đổi mới đời sống người tin Chúa, chứ không phải chỉ để thêm kiến thức, để sống đạo đức hơn.
Mục đích của KT nhằm để thay đổi đời sống, chứ không phải chỉ thêm kiến thức về ĐCT. Cả Kinh Thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn, có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình, 17 hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành. (2 Ti-mô-thê 3:16)
Từ soi dẫn trong câu là một từ ghép theopneustos. Theo là ĐCT, God. Pneustos có gốc từ động từ pneo nghĩa là thở hay thổi như gió. Vậy từ ghép này có nghĩa là ĐCT hà hơi hay thở vào. Từ pneo (thở) là động từ; danh từ là pneuma là từ thường được dịch là ĐTL trong KT TU. Vậy khi nói cả KT đều là bởi ĐCT soi dẫn thì cũng có nghĩa là cả KT đều được ĐTL hà hơi vào, thổi hơi vào để có sự sống và quyền năng thay đổi đời sống.
Cũng như khi sáng tạo loài người từ bụi đất, ĐTL của ĐCT hà hơi của chính Ngài vào con người để biến A-đam nên loài sinh linh có sự sống, thì cũng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi vào các tác giả KT và lời họ viết ra để đem lại sự sống và khả năng thay đổi, tái tạo đời sống qua KT.
KT gồm 66 sách, chia làm 2 phần gọi là Cựu Ước và Tân Ước. Cựu Ước gồm 39 sách và Tân Ước gồm 27 sách/thư. 66 sách trong KT được viết bởi trên 40 tác giả khác nhau sinh sống trên 3 lục địa khác nhau là Âu Châu, Á Châu và Phi Châu với 3 ngôn ngữ khác nhau Hê-bơ-rơ, A-ra-ma-íc (Aramaic) và Hy Lạp (Greek). Các tác giả thuộc nhiều thành phần khác nhau trong xã hội và có những nghề nghiệp khác nhau, như Mô-se là người Do thái nhưng lớn lên trong triều đình Ai-cập, là hoàng tử Ai-cập, rồi trong 40 năm làm nghề chăn chiên, sau đó lãnh đạo cả dân sự Do Thái ra khỏi xứ nô lệ Ai-cập vào vùng đất hứa, Giô-suê là tướng lãnh phụ cận của Mô-se, Đaniên là một thanh niên trẻ tuổi bị bắt làm tù nhân sang xứ Ba-by-lôn rồi trở nên thủ tướng của xứ, Phierơ là một người đánh cá vùng Ga-li-lê, Ma-thi-ơ làm nghề thu thuế, Phao-lô là người Pha-ri-si (thầy tôn giáo) và học giả. Những tác giả này viết các sách KT từ nhiều nơi khác nhau: Mô-sê trong đồng vắng, Phao-lô trong tù ngục, Giăng khi bị đày sang đảo Pát-mô, Đa-vít viết nhiều bài thi thiên trong hang tối, trong sa mạc, nơi cung điện. Và 66 sách KT được viết ra trong thời gian trên 1500 năm.
Dù có rất nhiều sự khác nhau về thành phần tác giả, về thời gian, về nội dung, nhưng điều kỳ diệu là cả 66 sách đều đồng nhất về một chủ đề. Chủ đề đó là về chương trình cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC. Một học giả KT giải thích thế này: KT CU là sự chuẩn bị cho sự chương trình cứu rỗi, 4 sách Phúc Âm là sự thể hiện chương trình cứu rỗi; sách CVCSĐ là sự phát triển về chương trình cứu rỗi; Các thư tín TU là sự giải thích ý nghĩa của về chương trình cứu rỗi; và KH là sự kết thúc của chương trình cứu rỗi. Cả KT có một chủ đề là về chương trình cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC.
Nhiều người hỏi sự khác nhau của thành phần tác giả, viết từ nhiều nơi, qua một thời gian rất dài như vậy có gì quan trọng và đặc biệt? Thử với tôi một trò chơi này. Tìm 10 người trong thành phố làm cùng một nghề, có cùng một trình độ và yêu cầu họ viết về một đề tài quan trọng nào đó như về ý nghĩa cuộc sống. Khi hoàn tất, so sánh nội dung viết của 10 người đó xem có thống nhất hay không.
Nhưng KT được viết ra không phải chỉ bởi 10 người nhưng hơn 40 người. Không phải viết ra trong một thời gian, một thế hệ nhưng trong 1500 năm. Không phải bởi các tác giả cùng một trình độ học vấn, thành phần xã hội, cùng một phong tục, văn hóa, ngôn ngữ nhưng từ nhiều trình độ, thành phần, văn hóa hoàn toàn khác nhau. Vậy đó mà nội dung KT thống nhất với cùng một chủ đề về sự cứu rỗi của ĐCT qua ĐCJC. Chính sự thống nhất kỳ diệu này của KT là một bằng chứng để chúng ta có thể tin rằng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi và cảm động các tác giả trong những thời điểm khác nhau để viết lại lời ĐCT.
Chỉ có KT là một tổng hợp của nhiều sách từ nhiều tác giả khác nhau. KT hồi giáo được viết một mình tiên tri Mô-ha-mết. Sách Mạc-môn (Book of Mormon) được viết một mình bởi tiên tri Joseph Smith. Chúng ta hỏi ai là người làm chứng cho lời họ viết và làm sao để biết được lời của một người viết là lời của ĐCT hay từ ĐCT? Theo một sách bởi thượng tọa Thích Nhất Hạnh, những lời dạy của Phật trong 400 năm đầu tiên chỉ được truyền khẩu. Chỉ mấy trăm năm sau đó (it took another hundred years), một số tu sĩ thuyết phục một tu sĩ nhớ trọn lời dạy nhưng cũng là người kiêu ngạo viết xuống.
Chúng ta tin KT là sự khải thị của ĐCT cho loài người để hiểu và biết về ý chỉ của Ngài cho đời sống, về chương trình cứu rỗi qua ĐCJC. Qua KT chúng ta không chỉ biết được ý Chúa, hiểu được chương trình và hành động của ĐCT trong thế gian nhưng còn kinh nghiệm được tình yêu của Ngài qua sự hiện thân của ĐCJC. Chúng tôi tin Kinh Thánh là lời hằng sống và tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Kinh Thánh khải thị ý chỉ và mục đích của Đức Chúa Trời cho loài người; giải thích về chương trình cứu rỗi qua Ðức Chúa Giê-xu Christ cho nhân loại. Chỉ qua sự hiểu biết lời Kinh Thánh, chúng ta mới có thể biết ý chỉ và mục đích của Đức Chúa Trời để sống đẹp lòng Ngài. (mạng web HT)
Tuy nhiên chúng ta không tin một bản in KT hay một bản dịch KT cụ thể nào là lời Chúa. Chúng ta cần phân biệt rõ điều này. Người hồi giáo tin rằng bản in kinh Koran là thiêng liêng vì vậy họ nổi loạn khi ai đó đốt kinh sách; cũng vì vậy mà họ chỉ tin bản bằng tiếng Ả-rập là chính thức. Nhưng người Cơ-đốc tin rằng nội dung KT là lời của ĐCT chứ không phải bản in hay bản dịch.
Dù là bản dịch của học giả Phan Khôi bao nhiêu năm trước đây hay bản diễn ý của MSTS Lê Hoàng Phu, hay bản dịch mới nhất cũng đều mang lời Chúa. Dĩ nhiên có bản dịch trung thực hơn, xác nghĩa và đúng hơn với bản tiếng nguyên thủy và cũng có những bản dịch không nên dùng. Nhưng đây là vấn đề dịch thuật, khác với sự khải thị của ĐCT trong KT. Không một bản dịch nào hoàn toàn cả nhưng chúng ta vẫn gọi bản dịch cũ của cụ Phan Khôi hay bản dịch mới nhất, dù là bản dịch NIV hay English Standard Version là KT, lời ĐCT. Phải chăng bởi vì ĐTL hà hơi vào người dịch như Ngài đã làm khi dùng những tác giả đầu tiên để viết ra KT? Không. Nhưng bởi vì chúng ta biết rằng nội dung của KT vẫn còn đó và xác thực dù đã được dịch thuật.
Tôi có thể dùng ví dụ thế này. Hôm nay khi nghe một bài nhạc, một bài nói chuyện, xem một cuốn phim, chúng ta có nhiều môi trường khác nhau. Cũ xưa nhất là băng casette hay video tape. Mới hơn là CD rồi DVD, rồi đến Blue-ray. Các thanh niên hiếm khi nào dùng CD hay DVD nhưng hầu hết dùng các dạng digital như MP3 hay AIFF (Apple) hay WAV (Microsoft). Xem trên wikipedia có trên dưới gần 30 dạng (format) cho audio files! Cũng vậy có rất nhiều dạng digital để xem phim như MPEG, MPEG4… Khi dùng phone cũng ta nghe cũng có những thể sóng truyền thông khác nhau, nào là GSM, 3G rồi 4G, LTE… Nhưng tất cả các kỷ thuật này chỉ nhằm để giúp chúng ta có thể nghe lời nói, bài nhạc, xem phim ảnh cách tốt hơn. Có thể casette đã xưa nên tiếng nghe rè rè không rõ bằng CD hay MP3 nhưng chúng ta vẫn có thể nhận ra được tiếng nói của người thân quen. Những kỷ thuật khác nhau là những bản in, bản dịch khác nhau. Còn tiếng nói được thu lại mới chính là lời của ĐCT trong KT.
Chúng ta cũng xác nhận rằng 66 sách KT là khải thị trọn vẹn và cuối cùng của ĐCT qua lời viết về chương trình cứu rỗi của Ngài cho loài người. Đây là một niềm tin và giáo điều vô cùng quan trọng. Chúng ta tin rằng KH là sự khải thị bằng lời viết cuối cùng của ĐCT cho loài người. Tin rằng 66 sách KT là trọn vẹn và cuối cùng về chương trình cứu rỗi và ý chỉ của ĐCT cho đời sống tin kính.
Chính vì lý do này mà chúng ta hoàn toàn phủ nhận kinh Koran hay sách Mạc-môn như một khải thị mới mẻ và cuối cùng của ĐCT cho con người. Cũng vì không tin rằng 66 sách KT là trọn vẹn và cuối cùng nên người theo đạo Mạc-môn mới tin vào sách Mạc-môn của tiên tri Joseph Smith là sự khải thị cuối cùng của ĐCT cho hội thánh.
Chúng ta cũng phủ phận những lời tuyên bố của một số giáo sư, mục sư, truyền giảng rằng chính ĐTL của ĐCT đã hà hơi cách đặc biệt và mầu nhiệm cho họ để tuyên bố, giảng dạy những huyền nhiệm mới nhất, đặc biệt nhất không có trong KT.
Chúng ta tin rằng sự khải thị quan trọng và cần thiết của ĐCT về chương trình cứu rỗi đã chấm dứt trong sách KH. Và cả 66 sách KT hoàn tất sự khải thị đó và hoàn toàn đầy đủ dạy dỗ cho người tin Ngài sống đời sống đạo. Chính vì lý do này chúng ta tin rằng phương tiện chính yếu và quan trọng nhất ĐTL dùng để thay đổi đời sống tín đồ không phải là tiếng thầm thì của Ngài với cá nhân, hay phép lạ mầu nhiệm nào đó mà chính là lời KT do chính Ngài hà hơi để viết ra.
D. R. Dungan, in his book, HERMENEUTICS, observed: "I knew a man who had a hobby on marriage. He was of the opinion that no man could marry twice without being a polygamist--in heaven (đa thê trên thiên đàng), if not on the earth. His wife might die, but that had nothing to do with it; if he married again he would be guilty of polygamy. You could not talk with him five minutes without having his hobby brought out and made to canter in your presence.
"But his wife died, and in less than a year from that time his theology changed on that point. Almost anything that men want to do, they can find some text of Scripture that will sound like giving it support. And it is exceedingly difficult to make any man see that he has been preaching that which is not true. He has posed before the people on the subject, and is not willing to incur the humiliation of saying, 'I was wrong, and my opponents were right.'" A man’s wishes sometimes blind him to the truth.
Why do men draw such varied conclusions from the Scriptures? I think the answer is found in their approach to Bible study. Some people go to the Bible to discover what God has revealed on a particular subject, while others go to the book in search of proof for what they want to believe.
Vậy phương cách học KT cũng rất quan trọng để hiểu đúng nội dung, lời dạy cho đời sống.
Vì lời của Đức Chúa Trời là lời sống và linh nghiệm, sắc hơn gươm hai lưỡi, thấu vào đến đỗi chia hồn, linh, cốt, tủy, xem xét tư tưởng và ý định trong lòng. (Hê-bơ-rơ 4:12)
LÀM SAO TÔI CÓ THỂ TIN KT TU?
Vì chúng ta biết Chúa từ KT TU nên câu hỏi quan trọng là làm sao chúng ta có thể tin được KT TU là trung thực và chính xác. Có người viết: Chúng ta biết rất ít về Jesus. Tài liệu đầy đủ nhất về cuộc đời của Jesus là phúc âm theo Mác, không được viết ra mãi đến khoảng năm 70, tức trên dưới 40 năm sau khi Ngài chết. Đến thời điểm đó, những sự kiện lịch sử đã bị lẫn lộn với những câu chuyện huyền thoại để giải thích về ý nghĩa của những điều Jesus dạy cho các môn đồ. Đây mới thật là ý nghĩa mà Mác chủ yếu ghi lại thay vì một chân dung trung thực về Jesus. (Karen Amstrong – A history of God).
Chúng ta giải thích thế nào về những lời này? Trong sách The heart of the Buddhás teaching của thượng tọa Thích Nhất Hạnh, ông viết: Trong 400 năm trong khi Phật còn sống và sau khi Ngài mất thì những lời dạy của Ngài chỉ được truyền khẩu. Sau đó (sau 400 năm), những tu sĩ dòng Tamrashatiya xứ Sri Lanka bắt đầu nghĩ đến việc viết lại những lời đối thoại, và lời dạy của Phật trên lá. Và phải mất thêm 100 năm nữa để bắt đầu. Đến lúc đó, chúng ta được biết là chỉ có một (there was only one monk) học thuộc lòng toàn bộ lời dạy nhưng ông là người tương đối tự cao. Những thầy tu khác phải cố thuyết phục ông đọc lại những lời dạy để họ có thể viết xuống. Khi chúng ta nghe điều này, chúng ta cảm thấy hơi khó chịu vì biết rằng một tu sĩ tự cao có thể không phải là người tốt nhất để truyền đạt lại những lời dạy của Đức Phật.
Hai sách về tiểu sử của đại đế Alexander Vĩ Đại (Alexander the Great) được viết hơn 400 trăm sau khi ông mất năm 323 B.C. nhưng sử gia ngày nay đều xem hai tiểu sử này đáng tin cậy và trung thực. Sau gần 500 năm huyền thoại mới thật sự được thêu dệt thay vì sau 30-40 năm như trong trường hợp PA Mác và các thư tín.
Khi PL viết thư cho HT Cô-rinh-tô về sự chết và sống lại của ĐCJC, PL có những lời sau: Vả trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh Thánh; và Ngài đã hiện ra cho Sê-pha, sau lại hiện ra cho mười hai sứ đồ. Rồi đó, cùng trong một lần, Ngài hiện ra cho hơn năm trăm anh em xem thấy, phần nhiều người trong số ấy hiện bây giờ còn sống, nhưng có mấy người đã ngủ rồi. Đoạn, Ngài hiện ra cho Gia-cơ, rồi cho các sứ đồ. Rồi lại, sau những người ấy, Ngài cũng hiện ra cho tôi xem, như cho một thai sanh non vậy. (1 Cô-rinh-tô 15:3-8)
ĐCJC bị đóng đinh vào năm 30. PL gặp Chúa trên đường đi Đa-mác và tin Chúa vào khoảng năm 32-33. Khoảng hai năm sau đó ông gặp các sứ đồ tại thành Giê-ru-sa-lem, tức khoảng năm 35. Vậy khi PL viết điều mà chính tôi đã nhận lãnh tức là những điều ông học được trong thời gian 3-5 sau khi tin Chúa. Và khi viết về sự sống lại, PL xác nhận rằng Chúa hiện ra cho Sê-pha, Phierơ và 12 sứ đồ cùng hơn 500 tín đồ mà phần nhiều người trong số ấy hiện vẫn còn sống.
Kể về số lượng bản viết thì KT TU có một không hai. Ước tính có khoảng 5,500 bản sao lại (copies) gồm một phần hay toàn phần TU, và 18,000 bản sao lại từ các bản này. Bản sao cũ nhất tìm được là vào khoảng năm 120, với khoảng 50 bản khoảng 150-200. Hai bản chính ngày nay được dùng để dịch ra toàn KT TU là Codex Vaticanus (325) và Codex Sinaiticus (350) tức khoảng 250 năm từ khi bản chính viết ra. Mới nghe thấy thời gian sao xa qua nhưng hãy nhớ toàn sách Odyssey của Homer, mà hôm nay học sinh trung học vẫn học, tìm được 2,200 năm sau khi viết ra.
F.F. Bruce viết: Và nếu TU là một kết hợp của các bản viết ngoại (secular writings), thì sự trung thực đã được chấp nhận vượt trên mọi nghi ngờ. Sir Frederic Keyon, cựu giám đốc của Viện Bảo Tàng Anh Quốc, viết về TU như sau: Cả hai điều: sự trung thực và chính xác của các sách TU có thể xem là đã được chấp nhận.
